Halal không còn là “thị trường ngách”
Thị trường Halal toàn cầu đang nổi lên như một trong những không gian tăng trưởng đáng chú ý của thương mại quốc tế. Nếu trước đây Halal chủ yếu gắn với tiêu chuẩn dành cho cộng đồng Hồi giáo, thì hiện nay khái niệm này đã mở rộng thành hệ tiêu chuẩn tiêu dùng gắn với an toàn, minh bạch và phát triển bền vững.
Xu hướng đó khiến Halal không còn là "thị trường ngách" dành riêng cho thực phẩm. Quy mô nền kinh tế Halal hiện đã mở rộng sang mỹ phẩm, dược phẩm, thời trang, logistics, du lịch và thương mại điện tử, tạo ra dư địa lớn cho nhiều nhóm ngành của Việt Nam.

Các doanh nghiệp Việt Nam được nhận định có tiềm năng để phát triển tại thị trường Halal. Ảnh minh hoạ
Tại lễ ra mắt Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HALALVIET do Viện Nghiên cứu chiến lược chính sách Công Thương, Bộ Công Thương tổ chức vừa qua, bà Đinh Thị Nga, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng thị trường sản phẩm Halal đang chuyển sang xu hướng gắn với sạch, xanh, an toàn sức khỏe và phát triển bền vững.
Theo bà Nga, người tiêu dùng hiện nay không còn chỉ quan tâm sản phẩm có đạt chuẩn Halal hay không, mà còn quan tâm tới tính minh bạch, trách nhiệm xã hội và yếu tố môi trường trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Điều này khiến cạnh tranh trên thị trường Halal không còn chủ yếu bằng giá thành mà bằng niềm tin của người tiêu dùng.
Đây cũng là điểm tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số, nhiều tiêu chuẩn phát triển mới lại tương đồng với yêu cầu của thị trường Halal toàn cầu.

Bà Đinh Thị Nga, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)
Không chỉ doanh nghiệp lớn, khu vực doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và cơ sở sản xuất địa phương cũng có khả năng tham gia thị trường này nếu được hỗ trợ đúng hướng. Theo bà Nga, với sự phát triển của thương mại điện tử và logistics xuyên biên giới, các doanh nghiệp nhỏ hoàn toàn có thể tiếp cận trực tiếp người mua quốc tế thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các kênh xuất khẩu truyền thống.
Tuy nhiên, cơ hội lớn không đồng nghĩa doanh nghiệp Việt Nam sẽ dễ dàng tham gia sâu vào thị trường Halal. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp vẫn đang “loay hoay” trước các yêu cầu về tiêu chuẩn, chứng nhận và chuỗi cung ứng.
Muốn đi xa phải xây được hệ sinh thái Halal
Theo các chuyên gia, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở tiềm năng thị trường mà nằm ở năng lực tổ chức hệ sinh thái Halal của Việt Nam.
Một trong những rào cản lớn là hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận Halal khá phức tạp. Mỗi quốc gia, mỗi tổ chức chứng nhận có thể áp dụng các tiêu chuẩn khác nhau, trong khi nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn thiếu thông tin và kinh nghiệm tiếp cận thị trường.
Bên cạnh đó, phần lớn hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hiện vẫn ở dạng nguyên liệu hoặc sơ chế, giá trị gia tăng chưa cao. Trong khi đó, thị trường Halal ngày càng yêu cầu minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, bảo quản cho tới logistics và truy xuất nguồn gốc.
Theo bà Đinh Thị Nga, muốn khai thác hiệu quả tiềm năng của kinh tế Halal, Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái đồng bộ từ sản xuất, logistics, chứng nhận tới xúc tiến thương mại. Trong đó, việc nâng cao năng lực chứng nhận và chuẩn hóa chuỗi cung ứng được xem là điều kiện quan trọng.
Bà cho rằng phát triển sản phẩm Halal trong tương lai không chỉ là câu chuyện có sản phẩm tốt mà phải có hệ sinh thái mạnh hơn, có sự hỗ trợ đồng bộ về chính sách, xúc tiến và kết nối thị trường.
Nhận định thêm về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cho rằng, kinh tế Halal không chỉ là cơ hội mở rộng xuất khẩu mà còn là động lực để nâng cấp năng lực sản xuất và thương mại của doanh nghiệp Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Văn Hội, nếu biết tận dụng hiệu quả dư địa của thị trường Halal toàn cầu, Việt Nam không chỉ mở rộng được thị trường xuất khẩu mà còn tạo thêm động lực tăng trưởng cho nhiều ngành sản xuất, chế biến, logistics và dịch vụ. Đây cũng sẽ là một trong những dư địa đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số mà Việt Nam đang hướng tới trong giai đoạn tới.
Ông Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương
Ông cho rằng nếu doanh nghiệp phải tự tiếp cận riêng lẻ từng thị trường, từng hệ thống chứng nhận thì chi phí sẽ rất lớn và khó tạo ra sức cạnh tranh dài hạn. Vì vậy, điều cần thiết hiện nay là tăng cường vai trò kết nối của các tổ chức xúc tiến thương mại, trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp và hệ sinh thái Halal trong nước.
Đây cũng là lý do việc hình thành Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HALALVIET được kỳ vọng sẽ góp phần hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, kết nối đối tác và tiếp cận thị trường quốc tế hiệu quả hơn.
Điểm đáng chú ý là kinh tế Halal hiện không còn là cuộc chơi riêng của các quốc gia Hồi giáo. Nhiều nước không phải Hồi giáo cũng đang xem Halal là chiến lược phát triển thương mại dài hạn nhằm mở rộng xuất khẩu và nâng cao tiêu chuẩn sản xuất.
Điều đó đồng nghĩa áp lực cạnh tranh sẽ ngày càng lớn. Nếu muốn tận dụng hiệu quả dư địa tăng trưởng của thị trường này, doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ tập trung vào xuất khẩu ngắn hạn mà cần đầu tư dài hạn vào tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, sản xuất xanh và xây dựng thương hiệu.
Kinh tế Halal vì thế không chỉ mở ra cơ hội thị trường mới cho hàng Việt mà còn đặt ra yêu cầu nâng cấp toàn bộ chuỗi sản xuất theo hướng minh bạch, bền vững và có khả năng cạnh tranh toàn cầu cao hơn.




