Nhiều thách thức hiện hữu
Trong giai đoạn 2020 - 2025, ngành dịch vụ logistics Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân từ 14 - 16%/năm, quy mô thị trường ước đạt 40 - 42 tỷ USD. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), đây là một trong những ngành tăng trưởng nhanh và ổn định nhất của nền kinh tế, bất chấp những biến động lớn của thương mại toàn cầu, xung đột địa chính trị và đứt gãy chuỗi cung ứng.
Cùng với đà tăng trưởng đó, nhận thức về vai trò của chuyển đổi số trong logistics đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều doanh nghiệp bắt đầu quan tâm đầu tư công nghệ, ứng dụng các giải pháp số vào quản lý vận hành, kho bãi và giao nhận. Một số mô hình tiên phong đã tạo được dấu ấn rõ nét. Dự án “Trung tâm Logistics ICD Vĩnh Phúc - SuperPort” do T&T Group (Việt Nam) và YCH Holdings (Singapore) hợp tác đầu tư là thử nghiệm quan trọng cho mô hình trung tâm logistics thông minh, tích hợp ICD với trung tâm logistics công nghệ cao, vận hành đa phương thức.

Doanh nghiệp Việt đứng trước nhiều thách thức trong quá trình chuyển đổi số. Ảnh minh họa
Tuy nhiên, theo ThS Hoàng Thị Hương Lan, Phòng Dự báo thị trường, Viện Nghiên cứu Chiến lược chính sách Công Thương (Bộ Công Thương), nhìn trên bình diện toàn ngành, số doanh nghiệp đạt được mức độ chuyển đổi số mạnh mẽ vẫn rất hạn chế. Theo khảo sát của VLA, mức độ ứng dụng khoa học - công nghệ tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn thấp, chủ yếu là các giải pháp đơn lẻ, thiếu tính kết nối. Đáng chú ý, phần lớn các cảng cạn, ICD hiện nay chưa thể ứng dụng phần mềm hiện đại, dẫn đến việc không tối ưu hóa được thông lượng hàng hóa, dễ xảy ra tình trạng chậm trễ, tắc nghẽn.
Thực tế cho thấy, chỉ một số doanh nghiệp lớn mới có đủ nguồn lực để triển khai các hệ thống quản lý tương đối đồng bộ như WMS, OMS, TMS, tiến tới kết nối dữ liệu giữa kho bãi, vận hành và kế toán tài chính. Phần lớn doanh nghiệp còn lại, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, mới dừng ở mức sử dụng email, internet cơ bản, định vị GPS, khai báo hải quan điện tử vốn là những ứng dụng phổ biến nhưng chưa đủ để tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và chất lượng dịch vụ.
Khoảng cách này càng bộc lộ rõ khi thị trường thương mại điện tử phát triển nhanh, với hàng triệu đơn hàng mỗi ngày, phân tán tại nhiều địa điểm giao nhận. Việc xử lý thủ công, thiếu hệ thống phân loại tự động khiến nhiều doanh nghiệp logistics trong nước khó đáp ứng yêu cầu về tốc độ và độ chính xác.
Trích kết quả nghiên cứu của Tập đoàn Dữ liệu quốc tế (IDC), Ths. Hoàng Thị Hương Lan cũng cho hay, chỉ 16% doanh nghiệp Việt Nam đạt mức sẵn sàng chuyển đổi số cao, hơn 50% đang trong giai đoạn chuyển đổi rời rạc, thiếu chiến lược và có tới 31% gần như đứng ngoài cuộc. Đáng chú ý, thống kê cũng cho thấy, khoảng 70% doanh nghiệp Việt Nam chuyển đổi số chưa thành công, phản ánh rõ những rủi ro và thách thức của quá trình này.
Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do hành lang pháp lý và chính sách khuyến khích chuyển đổi số trong logistics còn thiếu đồng bộ. Cùng đó, hạ tầng giao thông, hạ tầng số chưa hoàn thiện, sự kết nối giữa đường biển, đường sắt và đường bộ còn hạn chế.
Bên cạnh đó, chi phí đầu tư công nghệ rất lớn, từ vài trăm triệu đến hàng trăm tỷ đồng vượt quá khả năng của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa. Một phần mềm giao hàng phổ biến đã có giá 100 - 200 triệu đồng, chưa kể phí bảo trì hàng năm. Các nền tảng quốc tế như CargoWise One có thể tiêu tốn từ 1 - 1,5 tỷ đồng mỗi năm. Điều này với doanh nghiệp quy mô trung bình, trở thành gánh nặng tài chính đáng kể.
Chuyển đổi số không còn là lựa chọn
Cũng theo theo ThS Hoàng Thị Hương Lan, bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0 vừa mở ra cơ hội, vừa đặt ra thách thức lớn cho quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp logistics Việt Nam. Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới giúp mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, song cũng đồng nghĩa với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các tập đoàn logistics quốc tế có tiềm lực mạnh, công nghệ cao như DHL, Kuehne+Nagel, DB Schenker hay Maersk.
Trong khi đó, xu hướng tăng trưởng xanh, yêu cầu giảm phát thải và phát triển bền vững đang trở thành tiêu chuẩn mới của chuỗi cung ứng toàn cầu, buộc doanh nghiệp logistics phải đầu tư thêm vào công nghệ, tự động hóa và quản trị số. Những biến động địa chính trị, căng thẳng thương mại, xu hướng bảo hộ gia tăng cũng làm cho môi trường kinh doanh trở nên khó lường hơn, đòi hỏi chuỗi logistics phải linh hoạt và minh bạch hơn.
Từ thực tiễn đó, theo ThS Hoàng Thị Hương Lan, để thúc đẩy chuyển đổi số hiệu quả, cần sự vào cuộc đồng bộ từ Nhà nước, doanh nghiệp và các hiệp hội. Về phía Nhà nước, việc triển khai quyết liệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định 749/QĐ-TTg, hoàn thiện khung pháp lý, cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ tài chính và phát triển hạ tầng số là những điều kiện tiên quyết. Đặc biệt, cần có chính sách ưu đãi cụ thể về vốn, thuế, đất đai để khuyến khích doanh nghiệp logistics đầu tư công nghệ.
Về phía doanh nghiệp, chuyển đổi số cần được nhìn nhận như một quá trình dài hạn, có lộ trình phù hợp với quy mô và năng lực. Thay đổi tư duy lãnh đạo, tăng cường liên kết, hợp tác, lựa chọn giải pháp công nghệ phù hợp và chú trọng đào tạo nhân lực là những yếu tố then chốt. Với doanh nghiệp nhỏ, việc tham gia các thị trường ngách, tận dụng nền tảng số thuê ngoài hoặc hợp tác với các startup công nghệ có thể là hướng đi thực tế.
Ths Hoàng Thị Hương Lan: Đối với các doanh nghiệp logistics nhỏ và siêu nhỏ, chưa có điều kiện đầu tư công nghệ hoặc hệ thống kho bãi, có thể tham gia vào thị trường ngách quy mô nhỏ, chủng loại hàng đơn giản để phục vụ doanh nghiệp bán lẻ, cá nhân kinh doanh thương mại điện tử trên mạng xã hội hoặc các nền tảng ứng dụng di động. Những thị trường ngách sẽ vừa tầm với quy mô các doanh nghiệp này về số lượng cũng như yêu cầu chất lượng dịch vụ logistics.





