Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ hai 16/09/2019 11:51
Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Diện mạo mới, vị thế mới của than Việt Nam

11:38 | 12/11/2018
Với các phong trào thi đua thiết thực kỷ niệm 82 năm Ngày truyền thống công nhân vùng Mỏ - truyền thống ngành Than (12/11/1936 - 12/11/ 2018), 50 năm thực hiện lời dạy của Bác Hồ dành cho thợ mỏ ngành Than - Khoáng sản trong cuộc gặp mặt tại Phủ Chủ tịch ngày 15/11/1968, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã mạnh mẽ triển khai những mũi đột phá quan trọng trong sản xuất, tiêu thụ, kinh doanh, tạo nên kỳ tích mới, thế đứng mới cho thợ mỏ Việt Nam sau một thời gian gặp muôn vàn khó khăn. 

Nhận diện lại ngành Than sau 130 năm khai thác

Khai thác than là ngành công nghiệp ra đời sớm nhất tại Việt Nam với bề dày lịch sử vừa tròn 130 năm - kể từ ngày Công ty Than đá Bắc kỳ (SFCT) của Pháp đi vào hoạt động tại Việt Nam ngày 4/4/1888 (Chỉ dụ vua Minh Mạng ký cho phép khai thác than ngày 10/1/1840). Than Hòn Gay, Cẩm Phả, Mạo Khê sớm nổi tiếng khắp thế giới với nhiệt lượng cao. Từ dây chuyền khai thác, vận tải, chế biến, bốc rót, cơ khí ... ngành Than Việt Nam trải qua đầy đủ cả 3 cuộc cách mạng công nghiệp của thế giới với những tiến bộ kỹ thuật công nghệ và các loại thiết bị hiện đại nhất của nhiều quốc gia phát triển như Pháp, Anh, Mỹ, Đức, Nhật, Nga... và hiện nay, đang mạnh mẽ tiến vào thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0.

dien mao moi vi the moi cua than viet nam
Ông Lê Minh Chuẩn - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV TKV - kiểm tra sản xuất tại Công ty Than Núi Béo

Ngay từ cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên, tư bản Pháp đầu tư nhiều thiết bị, mở các mỏ hầm lò, lộ thiên, xây dựng nhà máy điện, đường sắt, nhà sàng, bến cảng cùng các xưởng cơ khí. Sau gần 70 năm đầu tư khá nhiều tiền người Pháp khai thác được khoảng từ 40 đến 50 triệu tấn, sản lượng cao nhất năm 1939 đạt 1triệu tấn.

Năm 1955, vùng Mỏ được giải phóng, công nhân mỏ đã đấu tranh giữ lại nhiều thiết bị hiện đại và nhanh chóng phục hồi sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đầu tư cơ khí hóa, hiện đại hóa vùng Mỏ với sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN nhằm đưa sản lượng than lên 5 triệu tấn vào năm 1965. Cùng với sự ra đời của ba mỏ cơ khí lộ thiên, ba mỏ hầm lò, hai xí nghiệp tuyển than, một xí nghiệp vận tải ôtô, ba nhà máy cơ khí... hệ thống trường dạy nghề, trường trung cấp kỹ thuật, Trường Đại học Mỏ - Địa chất... đã đáp ứng kịp thời chủ trương trí thức hóa thợ mỏ, đào tạo nguồn nhân lực đủ trình độ điều hành dây chuyền sản xuất hiện đại. Năm 1964, sản lượng than đạt được 3,2 triệu tấn than sạch. Đầu xuân 1965, Bác Hồ về vui Tết với công nhân mỏ, Người trao cho ngành Than Cờ thi đua luân lưu và thường xuyên theo dõi, khen thưởng, động viên tập thể, cá nhân có nhiều sáng kiến cải tiến. Tuy nhiên, do chiến tranh phá hoại của Mỹ mở rộng, điều kiện khai thác gặp nhiều khó khăn, sản xuất than bị trì trệ. Năm 1968, Bác Hồ rất muốn xuống vùng Mỏ, nhưng sức khỏe yếu, Bác đã cử Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng các Phó Thủ tướng, nhiều bộ trưởng trực tiếp về giải quyết mọi khó khăn, cải thiện điều kiện làm việc và đời sống cho công nhân mỏ. Ngày 15/11/1968, Bác đã gặp Đoàn đại biểu công nhân, cán bộ ngành Than tại Phủ Chủ tịch. Người đã nói và phân tích kỹ: "Than là vàng đen của Tổ quốc. Sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc, toàn thể công nhân, cán bộ phải có tinh thần yêu nước rất cao, ý chí quyết đánh quyết thắng rất vững, phải đoàn kết đồng tâm... đẩy mạnh Ngành Than trở thành một ngành kinh tế gương mẫu và Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu đẹp".

dien mao moi vi the moi cua than viet nam
Sản phẩm Alumin tiêu thụ thuận lợi

Người giải thích với Tổng giám đốc Trịnh Nguyên: Hãy coi mỗi ca sản xuất như một trận đánh, một năm thợ mỏ phải đương đầu với trên 300 trận đánh đầy gian khó, hiểm nguy, vì thế thiết bị hiện đại mấy cũng chưa đủ mà còn phải lo mọi điều kiện sản xuất mới an toàn và hiệu quả. Cần phải đầu tư nhiều hơn cho thợ lò, nhanh chóng triển khai cơ khí hóa hầm lò, sớm đưa lò giếng Mông Dương vào hoạt động. Bác đã trực tiếp đề nghị Liên Xô đầu tư lớn cho mỏ lộ thiên Đèo Nai, Cọc Sáu, Hà Tu và lò giếng Mông Dương với công suất thiết kế mỗi mỏ một triệu tấn/năm.

Tuy nhiên, sau nhiều lần thay đổi tổ chức, tách ra nhập vào, chỉ mỏ Cọc Sáu có một năm đạt được hai triệu tấn, còn các mỏ khác chỉ đạt từ 500.000 đến 800.000 tấn/năm. Riêng Mông Dương, mãi đến năm 1982 mới đi vào sản xuất và phải tách khu Khe Chàm thành mỏ riêng.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người am hiểu sâu sắc vị thế hai ngành Than, Điện với an ninh năng lượng và sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Sau nhiều lần khảo sát tình hình sản xuất, lắng nghe ý kiến của đông đảo công nhân, cán bộ và các chuyên gia, ông đã quyết định thành lập hai tập đoàn Than và Điện theo mô hình tập đoàn kinh tế mạnh. Chính ông trực tiếp chọn cán bộ lãnh đạo và gợi mở cho cuộc cách mạng đổi mới công nghệ phải vừa hiện đại vừa phù hợp với điều kiện Việt Nam và kết hợp với những đổi mới trong điều hành quản lý, hạch toán sản xuất, kinh doanh. Với những quy định mới tăng cường chủ động cho các doanh nghiệp, tự chủ đầu tư, tiêu thụ, ưu tiên cho mở rộng thị trường xuất khẩu, được phép nhập khẩu những thiết bị hiện đại nhất, phù hợp nhất cho các mỏ tăng nhanh sản lượng. Cùng với những đổi mới trong tổ chức, quản lý, khai thác triệt để năng lực sẵn có, ngành Than đã mạnh dạn đầu tư thêm thiết bị có công suất lớn hiện đại nhất của Mỹ, Nhật... đưa cơ khí hóa vào các mỏ hầm lò với công nghệ chống lò thủy lực; áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong khoan nổ, chế tạo thuốc nổ, chế tạo phụ tùng thay thế, đổi mới công nghệ sàng tuyển, chế biến than; áp dụng cơ chế linh hoạt trong xuất khẩu... Chỉ sau 3 năm sản lượng than đã đạt 10 triệu tấn rồi nhanh chóng tăng tốc lên 20, 30, 40 triệu tấn.. Dù phải trải qua hai cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu với bao khó khăn thăng trầm, năm 2018, than Việt Nam vẫn đạt được mốc sản xuất và tiêu thụ trên 40 triệu tấn.gần bằng tổng số than tư bản Pháp khai thác tại Việt Nam trong suốt 70 năm, tăng 8 lần so với những năm đầu thời kỳ đổi mới.

Bài học từ đổi mới công nghệ của TKV

Thành tựu lớn nhất của TKV sau 24 năm thành lập là những mũi đột phá mạnh mẽ đầu tư đổi mới công nghệ toàn bộ dây chuyền sản xuất từ thăm dò, khoan nổ, khai thác, vận tải, sàng tuyển, bốc rót, cơ điện, đặc biệt là cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa khai thác hầm lò phù hợp với chiều sâu đáy mỏ từ - 300 đến -500 m so với mặt nước biển; đưa sản lượng nhiều mỏ hầm lò đạt trên 2 triệu tấn /năm.

Kết quả sản xuất, kinh doanh10 tháng năm 2018

- Than sản xuất : 30,78 triệu tấn - Than tiêu thụ : 34,06 triệu tấn - Tổng doanh thu : 103.658 tỷ đồng - Lợi nhuận: 3.600 tỷ đồng, bằng 240% so với cùng kỳ năm 2017 - Nộp ngân sách : 12.550 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2017

Từ năm 2000, TKV đã đầu tư hệ thống tự động phòng, chống cháy nổ, tự động báo khí độc, tự động thông gió và các thiết bị đào lò, vận tải thế hệ mới, an toàn. Công ty Than Hà Lầm đầu tư hai hệ thống lò giếng hiện đại áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, chỉ trong một thời gian ngắn, đưa sản lượng tăng nhanh; Công ty Than Núi Béo cũng chuyển từ công nghệ khai thác lộ thiên sang khai thác hầm lò hiện đại. Ngày nay đi vào các lò giếng như đi vào những phố mỏ trong lòng đất sâu.

Hiện nay, 4 công ty khai thác lộ thiên đang phải đương đầu với hệ số bóc đất đá rất cao, phải bóc từ 10 đến 12 m3 đất đá mới lấy được một tấn than. Cung đường vận chuyển ngày càng xa, dù có thể đầu tư những máy xúc dung tích gầu cực lớn, xe vận tải 100-200 tấn và áp dụng công nghệ bãi thải trong thì giá thành ngày càng cao do đáy mỏ càng xuống sâu càng phức tạp. Trong tương lai gần, khai thác lò giếng hiện đại sẽ tạo ra bước đột phá mới, đáp ứng tiêu dùng than của đất nước và xuất khẩu. Bài học Than Hà Lầm, Than Núi Béo khẳng định ý thức tự chủ cao của công nhân, cán bộ khi thấy rõ được lợi ích đổi mới công nghệ nếu có chủ trương, chính sách, giải pháp đúng và quyết tâm cao của đội ngũ cán bộ, người lao động.

Từ một ngành được bao cấp gần như 100%, 24 năm qua, TKV đã thực sự thích nghi với cơ chế thị trường, chấp nhận những thách thức khắc nghiệt bởi biến đổi khí hậu và các cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu; bình tĩnh, quyết liệt giải quyết khó khăn, giữ vững được bản sắc cao quý của người thợ mỏ.

Cuộc cách mạng công nghệ của TKV thực chất là cuộc cách mạng ý thức xây dựng phong cách sống, làm việc tự chủ đầy trách nhiệm với toàn ngành và với đất nước. TKV liên tục sắp xếp lại tổ chức sản xuất, đổi mới phương thức điều hành và không ngừng đào tạo nguồn nhân lực, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa cho công nhân viên chức và người lao động.

Nếu như năm 1995 - năm đầu thành lập Tổng công ty Than Việt Nam, sản lượng than khai thác mới đạt trên 7,2 triệu tấn thì đến năm 2018, dự kiến sẽ sản xuất và tiêu thụ được trên 40 triệu tấn. Tập đoàn cũng phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực công nghiệp khác như khoáng sản, luyện kim, hóa chất mỏ, công nghiệp điện. Năm 2018, dự kiến sản xuất trên 12 nghìn tấn đồng tấm, gần 1,3 triệu tấn alumin; 70 nghìn tấn thuốc nổ công nghiệp; trên 9,3 tỷ kWh điện. Tổng doanh thu toàn tập đoàn dự kiến đạt trên 122 ngàn tỷ đồng; nộp ngân sách trên 15 nghìn tỷ đồng; lợi nhuận trên 4.500 tỷ đồng. Tập đoàn đã bảo toàn và phát triển được vốn nhà nước, đáp ứng đủ than cho các ngành kinh tế trong nước; bảo đảm việc làm và ổn định đời sống cho gần 100 nghìn công nhân lao động với thu nhập bình quân đạt trên 10,8 triệu đồng/người/tháng.

Sự đồng bộ trong dây chuyền sản xuất, khoa học trong điều hành đã được quán triệu trong công cuộc trí thức hóa thợ mỏ đang thu được những kết quả bước đầu khi tập đoàn triển khai những mục tiêu để bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, áp dụng số hóa trong mọi hoạt động. Các chuyên gia Hàn Quốc, Nhật Bản đánh giá cao những nỗ lực của lãnh đạo, người lao động các đơn vị ngành Than trong việc cải tạo môi trường, xử lý khói bụi, khí độc và mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành sản xuất, kinh doanh.

dien mao moi vi the moi cua than viet nam
Nhà máy sản xuất Amon Nitrat

Tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã khẳng định hai dự án Nhân Cơ và Tân Rai do TKV triển khai đầu tư đã đi vào sản xuất ổn định, sản phẩm chất lượng tốt, đạt công suất thiết kế. Alumin sản xuất đến đâu bán hết đến đó, giá tăng nhanh, từ 344USD/tấn năm 2017 lên 480USD năm 2018, có thời điểm giá thế giới đã lên đến 672USD/tấn. Hiện nay, TKV đã cung cấp alumin/hydrat đến nhiều thị trường lớn như Trung Đông, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ kỳ, Thái Lan, Trung Quốc... Các hạng mục công trình được TKV đầu tư đồng bộ, hiện đại, xử lý bùn đỏ tốt; vấn đề bảo vệ môi trường, xã hội, an ninh, quốc phòng theo mục tiêu đề ra được bảo đảm... Đây là hai dự án có quy mô lớn, có ý nghĩa và tác động nhiều mặt không chỉ về kinh tế mà còn về môi trường, xã hội... tác động tới sự phát triển của Tây Nguyên và cả nước.

Cần cơ chế, chính sách phù hợp

TKV đã bỏ ra hàng tỷ USD để nhập than cho nhiệt điện và dự kiến trong tương lai, nhiệt điện ngốn đến 70 triệu tấn thì ngành Than có đầu tư gấp nhiều lần hơn nữa cũng không đáp ứng kịp. Nhập than trước mắt không quá khó, dù giá đã cao hơn than trong nước khá nhiều, nhưng về lâu dài, tình hình cung ứng than của các nước trong khu vực sẽ có nhiều khó khăn vì thế giới đang trở lại nhiệt điện than với công nghệ 4.0, có thể thu hồi cả khói làm mực in, giảm ô nhiễm môi trường.

Tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV, Chủ tịch Tập đoàn TKV Lê Minh Chuẩn cho biết, hiện nay nhiệt điện ở nước ta chiếm khoảng 41% tổng sản lượng điện. Dự báo trong 20 năm tới, nhiệt điện chiếm 50%, nguồn điện từ khí giảm còn 26%, thủy điện giảm 12-14%. Theo kế hoạch từ năm 2017 -2030, nước ta phải nhập khẩu khoảng 70 triệu tấn than bitum và atbitum cho nhiệt điện thì không thuần túy về thương mại nữa mà phải tìm nguồn ổn định từ nước ngoài, không hề dễ dàng.

Ông Lê Minh Chuẩn kiến nghị: Cần đổi mới tư duy về chiến lược an ninh năng lượng quốc gia lâu dài, ít ra là sau năm 2030; đầu tư lớn cho thăm dò, khai thác hiện đại ở vùng than Đông Bắc dưới độ sâu -500 mét và đầu tư sớm cho việc khai thác bể than sông Hồng; đổi mới chính sách về quản lý tài nguyên theo cơ chế thị trường, hội nhập ngay từ việc cấp phép đầu tư, cơ chế để doanh nghiệp mỏ chủ động hơn nữa trong phát triển sản xuất, kinh doanh; bổ sung hoàn thiện cơ sở pháp lý, văn bản dưới luật phù hợp với điều kiện khai thác khoáng sản thuận lợi; có cơ chế, chính sách bình đẳng giữa giá than nhập khẩu và than trong nước theo đúng thông lệ quốc tế và có chính sách đối với những nghề độc hại và nguy hiểm như công nhân hầm lò...

Trong một cuộc họp bàn về cung ứng than mới đây do Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An chủ trì, Tổng giám đốc TKV Đặng Thanh Hải đã trình bày về những nỗ lực của cán bộ, công nhân ngành Than vượt qua nhiều khó khăn, liên tục cung ứng đủ than cho nền kinh tế dù nhu cầu tiêu thụ than tăng đột biến. Năm 2018, than cho điện tăng trên 12%, than cho các ngành khác tăng 43%. Năm 2017, tiêu thụ 35 triệu tấn, năm 2018 tiêu thụ khoảng 40 triệu tấn, năm 2019, dự kiến tiêu thụ trên 41 triệu tấn. Trong khi việc đầu tư mở thêm mỏ mới, mở rộng diện khai thác cần nhiều thời gian và đang gặp rất nhiều khó khăn về chủ trương, chính sách đầu tư, liên kết, giá than trong tiêu thụ trong nước lại thấp hơn than nhập khẩu từ 15 - 20%, khiến đông đảo công nhân mỏ bị thiệt thòi, việc tái đầu tư cho sản xuất giảm sút.

Tổng giám đốc TKV kiến nghị sớm có chủ trương chính sách nhằm bảo đảm nhu cầu tiêu thụ than. Việc quy hoạch tiêu thụ dài hạn cần được thể hiện sớm bằng những hợp đồng tiêu thụ dài hạn có ràng buộc hợp lý, bảo đảm vị thế của ngành than trong an ninh năng lượng lâu dài của đất nước.

dien mao moi vi the moi cua than viet nam
Bốc xúc đất đá tại khai trường than Cọc Sáu

Phát biểu kết luận về vấn đề tiêu thụ than, Thứ trưởng Đặng Hoàng An nhấn mạnh: Than là nguyên nhiên liệu đầu vào quan trọng của nhiều ngành công nghiệp trọng điểm, tác động lớn đến GDP. Vì vậy, cùng với việc TKV cung ứng đủ than cho nền kinh tế, các đơn vị tiêu thụ cũng phải thực hiện nghiêm trách nhiệm của người mua và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm. Cần sớm hoàn thiện biểu đồ tiêu thụ dài hạn, ký kết hợp đồng ít nhất 5 năm. Bộ Công Thương sẽ xem xét, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sản xuất, tiêu thụ than, bảo đảm quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020 - 2030.

TKV đang nỗ lực đưa sản lượng tiêu thụ than năm 2018 lên 40 triệu tấn, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của tập đoàn: An toàn, đổi mới, phát triển, tiến vào thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.

Nhà văn Võ Khắc Nghiêm