Từ “có sản phẩm” đến “có đơn hàng”
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sở hữu một nguồn tài nguyên đặc biệt: những sản vật gắn với nguyên liệu bản địa, tri thức sản xuất, tập quán canh tác và bản sắc văn hóa của từng cộng đồng. Đây là những giá trị ngày càng phù hợp với xu hướng tiêu dùng quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc, tính tự nhiên, trải nghiệm và trách nhiệm với cộng đồng.
Thực tế cho thấy, nhiều sản phẩm đã từng bước vượt khỏi phạm vi thị trường địa phương. Miến dong của Hợp tác xã Tài Hoan, do đồng bào Tày sản xuất, là một ví dụ. Từ khi thành lập năm 2018, HTX từng bước chuẩn hóa quy trình, hoàn thiện bao bì, đẩy mạnh quảng bá về nguồn gốc, đặc trưng và chất lượng sản phẩm. Nhờ đó, sản lượng tiêu thụ năm 2025 đạt 390 tấn, tăng gần 4 lần so với năm 2018.
Mận hậu Sơn La cũng cho thấy sức mạnh của việc kết nối sản phẩm đặc trưng với hệ thống phân phối hiện đại. Năm 2025, sản lượng tiêu thụ đạt hơn 98.000 tấn, trong đó việc liên kết với Go!, Saigon Co.op, WinCommerce giúp sản phẩm hiện diện tại hàng nghìn điểm bán trên toàn quốc. Sản phẩm còn được đưa lên các chuyến bay của Vietnam Airlines và tiêu thụ qua thương mại điện tử. Riêng Saigon Co.op tăng sản lượng thu mua 30% để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Toạ đàm “Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”.
Những kết quả này cho thấy thị trường nội địa hoàn toàn có thể trở thành bệ đỡ cho sản phẩm vùng miền. Thông tin tại toạ đàm “Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 3/9, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương cho biết, thước đo hiệu quả tiêu thụ cần được thay đổi. không chỉ tính số sản phẩm được trưng bày mà phải nhìn vào doanh số ổn định, đơn hàng lặp lại và quan hệ thương mại dài hạn.
Đây chính là điểm chuyển quan trọng: xúc tiến thương mại phải đi từ “mở cửa” sang “đi cùng doanh nghiệp, HTX bước qua và đứng vững trong thị trường”.
Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có thể ưu tiên khai thác 5 không gian thị trường gồm: hệ thống phân phối hiện đại tại đô thị; thương mại điện tử và bán hàng đa kênh; thị trường gắn với du lịch văn hóa, trải nghiệm; phân khúc quà tặng, chăm sóc sức khỏe, tiêu dùng xanh và có trách nhiệm; cùng thị trường tại chỗ và thương mại hai chiều ở miền núi, biên giới. Điều đáng chú ý là không phải sản phẩm nào cũng cần đưa vào siêu thị hay bán đại trà. Quan trọng hơn là lựa chọn đúng phân khúc, đúng quy mô và đúng câu chuyện của sản phẩm.
Sáu hướng đi để thị trường trở thành đầu ra
Từ yêu cầu thực tế đó, Bộ Công Thương đang đặt trọng tâm vào 6 nhóm giải pháp để phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và hỗ trợ sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trước hết là đổi mới kết nối cung - cầu theo hướng chọn lọc, chuẩn bị, thử nghiệm và theo dõi. Theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, trước khi tổ chức kết nối, sản phẩm cần được sàng lọc theo yêu cầu của từng kênh. Kết nối với bán hàng trực tuyến sẽ có yêu cầu khác với bán trực tiếp, trung tâm thương mại, siêu thị hay các sự kiện lưu động.
Quan trọng hơn, sau kết nối phải tiếp tục theo dõi đơn hàng thử, khả năng tái đặt hàng, những vướng mắc về giao nhận, chất lượng và hồ sơ. Như vậy, một hội chợ hay một phiên kết nối không còn là điểm kết thúc mà trở thành điểm khởi đầu của một quan hệ thương mại.
Bộ Công Thương hỗ trợ tiêu thụ nông sản Lạng Sơn.
Thứ hai là phát huy vai trò của nhà phân phối ngay từ đầu. Các tập đoàn, siêu thị, chuỗi bán lẻ, doanh nghiệp du lịch và nền tảng số cần tham gia sớm hơn vào quá trình kết nối để cung cấp thông tin về quy cách, giá cả, sản lượng và phương thức giao hàng. Khi yêu cầu của thị trường được phản hồi từ đầu, HTX và người sản xuất sẽ có căn cứ để tổ chức sản xuất thay vì làm ra sản phẩm rồi mới tìm người mua.
Thứ ba là hỗ trợ chuyển đổi số theo hướng thiết thực. Không dừng ở việc đưa sản phẩm lên mạng, các chương trình hỗ trợ cần hướng tới gian hàng số, nội dung số, quản trị tồn kho, đơn hàng, thanh toán, dữ liệu khách hàng, livestream và quảng bá trực tuyến.
Câu chuyện của HTX Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng là một minh chứng. Ông Lê Đức Hải, Giám đốc, Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng (Lạng Sơn) cho hay, HTX đã bán hàng qua Zalo, Facebook, thương mại điện tử và được Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn hỗ trợ mở gian hàng số trên TikTok Shop. Với những sản phẩm đặc sản vùng núi, không gian số giúp rút ngắn khoảng cách địa lý, đưa câu chuyện sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng.
Thứ tư là nâng chuẩn sản phẩm và củng cố niềm tin người tiêu dùng. Chất lượng, an toàn, nhãn hàng hóa, sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý, tiêu chuẩn phù hợp, truy xuất nguồn gốc và bao bì phải được hoàn thiện đồng bộ. Đây cũng là điều các HTX đang rất cần. Ông Lê Đức Hải cho rằng, HTX mong muốn được hỗ trợ về chứng nhận OCOP, tem, mã QR, bao bì và bộ nhận diện để sản phẩm có thể tiếp cận các siêu thị, chuỗi bán hàng và những thị trường xa hơn.
Tuy nhiên, chuẩn hóa không có nghĩa là công nghiệp hóa đồng loạt sản phẩm bản địa. Với sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bản sắc chính là một phần giá trị. Bài toán đặt ra là chuẩn hóa những yếu tố cần thiết nhưng vẫn giữ được câu chuyện riêng của từng sản phẩm.
Thứ năm là tổ chức lại logistics theo vùng. Đây là điểm nghẽn đặc biệt quan trọng với những sản phẩm có tính mùa vụ, thời gian bảo quản ngắn. Bộ Công Thương định hướng phối hợp với địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp xây dựng các điểm gom, sơ chế, đóng gói, kho phù hợp, lịch vận chuyển chung; đồng thời liên kết với mạng lưới bưu chính, logistics và bán lẻ.
Mục tiêu không chỉ là đưa hàng đi xa hơn mà còn phải giảm chi phí trên từng đơn vị sản phẩm, qua đó tăng phần giá trị giữ lại cho người sản xuất.
Trường hợp Na Hữu Lũng cho thấy rõ nhu cầu này. Mỗi thành viên HTX có thể thu hoạch từ 5-7 tạ đến 1-2 tấn na mỗi ngày trong mùa vụ, nhưng hiện vẫn thiếu khu vực tập kết đủ rộng. Sản phẩm lại chỉ bảo quản được khoảng một tuần. Vì vậy, điểm gom hàng, kho tập kết và đóng gói có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng mở rộng thị trường.
Thứ sáu là đổi mới cách đánh giá hiệu quả chính sách. Theo định hướng của Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, hiệu quả không chỉ được đo bằng số cuộc hội chợ, số gian hàng hay số sản phẩm được giới thiệu. Các chỉ tiêu cần hướng tới là tỷ lệ sản phẩm duy trì trên kệ, số đơn hàng lặp lại, tăng trưởng doanh thu, mức giảm chi phí, số việc làm và thu nhập tăng thêm tại cộng đồng.
Đây là một thay đổi đáng chú ý trong tư duy hỗ trợ: từ “đưa sản phẩm đi xúc tiến” sang đo xem sản phẩm có thực sự bán được và bán được bao lâu.
Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, điểm nghẽn lớn không chỉ nằm ở chất lượng sản phẩm hay vùng nguyên liệu mà còn ở năng lực tổ chức và tư duy thị trường của HTX.
Muốn có đơn hàng ổn định, HTX phải nâng năng lực về tổ chức thành viên, quản trị, công nghệ, logistics, thương hiệu, bao bì, truyền thông, bảo quản và xử lý rủi ro. Đó cũng là hướng mà Chương trình OCOP đang thúc đẩy: xây dựng vùng nguyên liệu ổn định; ứng dụng khoa học, công nghệ; nâng cao chất lượng; kéo dài thời hạn sử dụng và vận chuyển đối với sản phẩm tươi sống; xây dựng thương hiệu dựa trên câu chuyện sản phẩm; đồng thời nâng cao năng lực quản trị của chủ thể.
Quảng bá nông sản vùng dân tộc thiểu số và miền núi đến người tiêu dùng.
Đặc biệt, với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thương mại cần được phát triển theo hướng đa kênh, kết hợp giữa hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử và du lịch trải nghiệm. Một sản phẩm có thể không phù hợp với siêu thị nhưng lại rất phù hợp với khách du lịch. Một sản phẩm khác có thể phát huy hiệu quả qua quà tặng, thương mại điện tử hoặc bán trực tiếp tại vùng sản xuất. Vì vậy, lựa chọn kênh tiêu thụ phù hợp đôi khi quan trọng hơn việc cố đưa sản phẩm vào thật nhiều kênh.
Thị trường nội địa không chỉ là nơi tiêu thụ sản phẩm vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Xa hơn, đó là không gian để tổ chức lại sản xuất, hình thành chuỗi liên kết và nâng cao giá trị sản phẩm. Muốn làm được điều đó, cần chuyển từ sản xuất theo khả năng sang sản xuất theo nhu cầu thị trường; từ cạnh tranh chủ yếu bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng, nguồn gốc và bản sắc; từ những hoạt động hỗ trợ riêng lẻ sang phối hợp đồng bộ trong toàn bộ chuỗi giá trị. Khi đó, sức cầu nội địa mới thực sự trở thành tín hiệu dẫn đường cho sản xuất.