Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 1: “Vũ khí văn hóa"
Thực hiện Thanh Thảo - Phú Thành
14/01/2025 15:01

“Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 1: “Vũ khí văn hóa” , kính thưa quý vị, trên đây là tiêu đề bài viết của tác giả Nguyễn Hòa được đăng tải trong chuyên mục Phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” - trên báo Quân đội nhân dân điện tử tại trang web qdnd.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Bài viết: Một cuộc xâm lăng âm thầm, có vẻ tĩnh lặng đang diễn ra nhanh chóng, quyết liệt trên lĩnh vực văn hóa. Nhiều quốc gia “giật mình” bởi sức tàn phá từ các loại “vũ khí văn hóa” đối với an ninh quốc gia, tương lai dân tộc.

Trong bối cảnh hiện nay, câu tuyên ngôn bất hủ của đại văn hào Nga M. Gorki: “Đối với tôi, lời kêu gọi Tổ quốc lâm nguy cũng không đáng sợ hơn lời kêu gọi: Hỡi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!” chưa mất tính thời sự, là lời cảnh tỉnh, nhắc nhở mỗi quốc gia trước mối họa “xâm lăng văn hóa”.

Cảnh báo về nguy cơ xâm lăng văn hóa, nhà sử học người Israel-Yuval Noah Harari cho rằng, các sản phẩm văn hóa thông qua nhiều con đường khác nhau, nhất là internet, mạng xã hội, đang “là một vùng đất tự do và vô luật làm xói mòn chủ quyền quốc gia, phớt lờ các biên giới, phá hủy quyền riêng tư và đem lại mối đe dọa an ninh toàn cầu có thể nói là đáng sợ nhất”. Các sản phẩm văn hóa một khi trở thành vũ khí trong tay các thế lực muốn xâm lăng thì sự nguy hiểm tăng lên gấp bội.

Lấy văn hóa nước khác để tự đồng hóa mình

Trong kỷ nguyên số, khi sự giao lưu và trao đổi văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa kéo theo sự giao thoa, trao đổi, tương tác rất mạnh, văn hóa được xem là vũ khí hữu hiệu khi nó trở thành công cụ, vũ khí mềm, là “củ cà rốt” mà những nước lớn, các thế lực thù địch sử dụng để tiến hành cuộc xâm lăng mềm, xâm lăng bằng văn hóa, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Với mục tiêu đạt tới là đồng hóa văn hóa, tiến tới nô dịch văn hóa và bước cuối cùng là thay đổi văn hóa, suy nghĩ, hành động tại các nước đối tượng mà họ hướng tới.

Nhiều bạn trẻ cho rằng, làm gì có cuộc xâm lăng văn hóa nào, làm gì có chuyện giới trẻ bị đồng hóa văn hóa. Chúng tôi giải trí với trò chơi, phim ảnh, sách báo, mạng xã hội của nước ngoài đều đã được cấp phép; chúng tôi ăn uống các loại bánh trái, hoa quả, thực phẩm của nước ngoài cũng đều được sự cho phép của cơ quan chức năng; quần áo, kiểu tóc của chúng tôi, muốn học theo ai là do sở thích cá nhân... Chúng tôi theo chân các thần tượng nước ngoài là tôi muốn học hỏi để được thành công như họ...

undefined
Trẻ em tỉnh Hòa Bình được gia đình giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa từ những bộ trang phục. Ảnh: Hoa Huyền

Giải thích về “lý sự” của một số bạn trẻ đang mang suy nghĩ trên, TS Nguyễn Ánh Hồng, nguyên Trưởng khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho biết: Các bạn trẻ Việt Nam đang sống trong thời đại công nghệ số với tâm lý thích khám phá, thích thể hiện cái tôi cá nhân của mình, thích cái mới và thích sự thay đổi, nhưng lại chưa có đủ độ chín chắn, chưa đủ trải nghiệm, chưa đủ bản lĩnh để có thể phân biệt được đâu là những giá trị tích cực, đâu là giá trị tiêu cực từ bên ngoài đưa vào Việt Nam. Thế nên, một cách vô thức bị tác động, ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa ngoại lai. Các thế lực thù địch đã triệt để khai thác tác động tiêu cực của mạng xã hội, sử dụng nó trở thành một phương tiện thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thử hỏi, với một quốc gia hơn 100 triệu dân, nếu ai cũng sùng ngoại, sính ngoại như vậy, cũng hành xử như vậy, quốc gia ấy có phải bản sao của một nước khác không? Trong khi tại chính các nước phương Tây, như Mỹ đã đưa ra cảnh báo đỏ sẽ cấm hoạt động đối với mạng xã hội TikTok do nghi ngại vấn đề an ninh quốc gia. Ở Pháp cũng cấm trẻ em dưới 16 tuổi không được tiếp cận mạng xã hội. Một số nước khác thì ban hành những quy định nghiêm khắc đối với việc sử dụng mạng xã hội nếu vi phạm, truyền tải nội dung thông tin không đúng đắn, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, xúc phạm tôn giáo chính thống, kêu gọi biểu tình, lập hội nhóm bất hợp pháp, trò chơi bạo lực; xuyên tạc lịch sử thông qua các sản phẩm phim ảnh, văn học, sách giáo dục...

Ngẫm lại ở ta, đi đâu cũng gặp cảnh từ anh bán cơm tới chị bán hàng, từ nhà chờ xe buýt cho tới góc khuất một công sở... tay cầm điện thoại mà trên loa phát ra tràn ngập các phim ngắn về tổng tài, kiều nữ, anh hùng; các đoạn video, bài viết dạy dỗ, hướng dẫn “nuôi con kiểu Nhật”, “dạy con theo cách của người Do Thái”, “phong cách thời trang Hàn Quốc”, “truyện tranh Nhật Bản”... hình ảnh khoe tiền, khoe của, ăn uống vô độ, ứng xử bất kính... Rồi cứ đến dịp các ngày lễ của nước ngoài, như Halloween-lễ hội hóa trang; Valentine-ngày lễ tình nhân, lễ Giáng sinh... thì các nam thanh nữ tú lại xúng xính váy áo cũn cỡn, lố lăng, phản cảm “check in”, chờ dịp để khoe mẽ lối sống ảo.

Trong lĩnh vực truyền thông, khán giả truyền hình và những người tham dự các sự kiện mấy năm gần đây, đặc biệt là trên các kênh truyền hình cấp tỉnh chỉ biết thở dài ngao ngán khi chứng kiến tên không ít chương trình giải trí cũng nửa tiếng Việt, nửa tiếng Anh, rồi diễn viên, người dẫn chương trình thì khoe mẽ trình độ ngoại ngữ “nửa Tây, nửa ta” khiến bao người ngao ngán... Thật buồn, khó chịu và cám cảnh, lo ngại cho sự quý giá của tiếng Việt và văn hóa dân tộc.

Sự lai căng đã tới mức phải báo động

Trong cuốn “Internet và sự tác động đến văn hóa Việt Nam”, TS Từ Thị Loan chỉ ra: Sự lai căng văn hóa đang có những tác động tiêu cực đến quan niệm về đạo đức, ý thức đạo đức. Tác động nổi bật nhất về vấn đề này là tư tưởng đề cao các giá trị vật chất trước các giá trị tinh thần, giá trị đạo đức. Những cảnh sống xa hoa, giàu sang trong các bộ phim và MV ca nhạc, những thông tin về cung cách tiêu xài khủng của các đại gia, phong cách ăn mặc sang chảnh của các “sao”, thói ăn chơi thời thượng, “chịu chơi” và “chịu chi” của những người nổi tiếng ở nước ngoài đã tác động không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng của cộng đồng cư dân mạng, đặc biệt là giới trẻ. Từ đó hình thành ở họ tư tưởng coi trọng vật chất, coi nhẹ đạo đức, đề cao hình thức, biểu hiện bề ngoài mà không chú trọng đúng mức đến phẩm chất đạo đức, cái đẹp bên trong”.

TS Từ Thị Loan nhận định, những tác động tiêu cực của truyền thông mới cũng góp phần cổ xúy các hành vi vô văn hóa, phản đạo đức, vi phạm các chuẩn mực xã hội, như: Kích động dâm ô, đồi trụy, những biểu hiện suy đồi...

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội thì nhận định: Tâm lý sùng ngoại, muốn chứng minh mình tiên phong trong xu hướng khiến giới trẻ Việt Nam tiếp thu văn hóa nước ngoài một cách dễ dãi. Hơn nữa, sự phát triển và phổ biến các phương tiện truyền thông mới đã khiến cho hiện tượng lai căng văn hóa lan truyền nhanh chóng mà không bị kiểm soát, kích thích và thu hút sự tò mò của giới trẻ. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh cụ thể, một số bạn đã có những biểu hiện lệch lạc trong suy nghĩ, hành vi và lối sống. Việc bắt chước những trào lưu như thần tượng thái quá các ngôi sao; sử dụng ngôn ngữ nước ngoài vô tội vạ... đã gây ra những hậu quả hết sức tai hại, hình thành nên những nhận thức mới, thói quen mới, tạo ra những định hướng giá trị xa lạ với văn hóa truyền thống, có nguy cơ trở thành những bản sao của văn hóa nước ngoài. Điều đó khiến giới trẻ mất phương hướng trong việc xây dựng và hình thành nhân cách con người Việt Nam, không có sự tự tin để hội nhập quốc tế. Nguy hiểm hơn, lai căng văn hóa sẽ khiến văn hóa đất nước nói chung dễ bị phai nhạt, mất sức sống, ảnh hưởng đến sức mạnh chung của quốc gia.

Cuộc xâm lăng mềm xuyên biên giới, xuyên quốc gia

Phải khẳng định, trong thời đại số, mỗi một phút, một giờ lại có hàng vạn thông tin được chia sẻ thông qua mạng xã hội và các kênh giao tiếp văn hóa phi chính thức khác nhau, cho thấy mức độ nhập khẩu văn hóa không kiểm soát lớn như thế nào.

Không phải tự nhiên chỉ một thời gian ngắn mạng xã hội phát triển ở nước ta, không ít người giờ đây chỉ yêu thích các sản phẩm văn hóa từ nước ngoài, biến họ trở nên khác hẳn, sùng ngoại, “đặc sệt” phương Tây, với đặc trưng là thích quan tâm tới bản thân hơn là chia sẻ với cộng đồng; thích kiểu ăn mặc khác lạ, lối sống thực dụng chứ không thích lối sống gia đình theo nếp nhà truyền thống với các giá trị gia đình; tinh thần chia sẻ với xóm làng, cộng đồng. Nguy hại hơn, họ xa rời trách nhiệm với Tổ quốc, họ trốn tránh nghĩa vụ công dân, chỉ biết đòi hỏi quyền lợi, đòi hỏi tự do dân chủ một cách vô độ, tuyệt đối, muốn làm gì thì làm theo kiểu phương Tây.

Những biểu hiện nguy hiểm ấy đang bào mòn chất văn hóa Việt, khiến họ dần quên đi những giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc, quên đi mình là ai. Thật nguy hiểm khi hàng triệu người đang dùng mạng xã hội hay các sản phẩm văn hóa độc hại đang không nhận ra mình dần bị đồng hóa văn hóa theo “kế hoạch” đã được tính toán của các nước lớn; các nước phương Tây thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” và làn sóng xâm lăng văn hóa êm dịu, tĩnh lặng, bất bạo lực.

Không khó để nhận ra, “kế hoạch” của các thế lực này đã thành công một phần nào đó. Nhìn các sản phẩm văn hóa trên các trang mạng xã hội, hay một số trang điện tử, báo điện tử với nội dung đánh vào tâm lý người Việt trẻ, như scandal của văn nghệ sĩ; những cuộc đấu khẩu, chửi rủa, bạo lực; cuộc sống của các ca sĩ, ban nhạc nước ngoài, video clip bói toán, dạy nấu ăn, dạy làm giàu, dạy ứng xử mà cốt truyện, những nhân vật đều thuộc về một quốc gia khác... Tóm lại, từ việc nhỏ nhất cho đến việc lớn, đều bị văn hóa ngoại chi phối.

Các nhà nghiên cứu đã cảnh báo: Không ít giá trị văn hóa Việt Nam đã và đang bị thay đổi trong đời sống hằng ngày ở từng con người, mỗi gia đình. Trong xu thế toàn cầu hóa, nhiều người đã đón nhận những yếu tố văn hóa ngoại lai một cách không chọn lọc, không biết nhận diện, phân tích và bỏ đi những cái xấu, cái không phù hợp. Nhiều người khác thì dễ dãi tiếp thu, vay mượn vốn văn hóa của nước ngoài để giúp mình tưởng như đã đạt tới cột mốc là công dân văn minh toàn cầu; chăm chăm mượn cái của nước khác, người khác mà tưởng rằng đó là tiêu chuẩn của giá trị. Họ không hiểu thế nào là tiếp thu những mặt tích cực; thế nào là bị đồng hóa, bị nô dịch văn hóa.

Như vậy, nhiều người đang tự mình tan ra, dần mất bản sắc văn hóa dân tộc, bị đồng hóa văn hóa từ chính những biểu hiện trong lối sống, lối ứng xử, trong cách tiếp nhận và thay đổi quan niệm về giá trị vật chất, tinh thần họ đang học theo. Nếu “căn bệnh” sùng bái văn hóa ngoại lây lan từ cá nhân sang gia đình, rồi ra cộng đồng và các tầng lớp xã hội thì lúc đó, xã hội đã thực sự bị xâm lăng văn hóa. Nỗi lo xâm lăng văn hóa càng được nhân lên khi internet, mạng xã hội dưới sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn... ngày càng trở nên phổ biến.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Chính luận 35 của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Bình luận

Nghe thêm

Phục hồi thú chơi hoa thuỷ tiên

Phục hồi thú chơi hoa thuỷ tiên

“PHỤC HỒI THÚ CHƠI HOA THỦY TIÊN” - là nhan đề bài Podcast hôm nay, bài viết của tác giả - Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, nguyên Trưởng ban Văn hóa - Xã hội, Đài PT - TH Hà Nội. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Bài viết:

Khi thuỷ tiên nở hoa, mỗi cụm hoa mang một dáng vẻ khác nhau theo lối đặt tên của các cụ xưa. Dáng phượng múa, dáng rồng bay, dáng hạc chấu, dáng tiên sa... Mỗi cụm hoa thực sự là một tác phẩm nghệ thuật mang dấu ấn độc đáo của bàn tay người yêu hoa, và là kết quả của nghệ thuật gọt tỉa thủy tiên khởi từ trước đó hàng tháng trời. Chính bởi vậy, người xưa mới ham thích thú chơi thuỷ tiên, thú chơi giàu sáng tạo và giàu tính thẩm mỹ, nghệ thuật.

Thấm thoắt thế là đã gần nửa thế kỷ đã trôi qua, hôm nay cụ giáo Lê Đăng Nghị ở phường Thanh Lương mới được cầm lại trên tay con dao nhỏ thân thiết ngày xưa. Con dao có hình dáng đặc biệt kỳ lạ. Một đầu như chiếc lưỡi rìu nhỏ sắc lẹm, một đầu như lưỡi thuổng tí xíu hình lòng máng. Đó chính là con dao gọt và tỉa thủy tiên chuyên nghệ. Dường như thoáng một nỗi bồi hồi, mong nhớ đang dâng ứ trong đôi khoé mắt và đôi bàn tay của ông lão tuổi ngoại tám mươi khi bỗng dưng chạm vào từng dáng nét của một vẻ đẹp xưa:

Chơi hoa thủy tiên là một thú chơi xuân lâu đời của người Hà Nội. Nhưng trải qua mấy chục năm chiến tranh giặc giã rồi bao cấp khó khăn, thú chơi thủy tiên mai một dần. Rồi sau đó lại xảy chiến tranh biên giới phía Bắc, nguồn củ thủy tiên từ Trung Quốc về Việt Nam không còn. Thế nên coi như đứt đoạn mấy mươi năm trời nay mới bắt đầu nối lại.

undefined
Hoa thủy tiên trắng

Không phải bỗng dưng mà bài viết về "Thú chơi hoa thủy tiên" của nhà báo lão làng Nguyễn Hà thuở sinh thời chỉ gồm có mấy trăm chữ đăng trên số tết của một tờ tuần báo lại được trả nhuận bút khá cao. Mọi người nói đùa, mỗi chữ đáng giá bạc ngàn. Còn nhà báo Nguyễn Hà thì rằng, đó là nhờ ở lộc của ông cụ thân sinh một cụ đồ nho Hà Thành từng một thời đam mê thú chơi tao nhã ấy. Nhà báo Nguyễn Hà kể rằng, mỗi năm vào dịp cuối tháng một, tức tháng mười một âm lịch, cụ đồ thường trở qua, trở lại ngày đôi ba lần trên phố Hàng Buồm, Phúc Kiến (Tức Lãn Ông bây giờ) để chọn mua bằng được một "Bắp" tức một thùng củ thủy tiên do các nhà buôn Tàu bày bán. Có nhiều loại lắm. Cứ củ càng to thì càng đắt tiền. Rồi sau đó, cụ tìm cách lánh hẳn việc nhà, từ chối không tiếp khách khứa trong hàng tuần liền, để chăm lo chuyên chú cho việc gọt tỉa thủy tiên. Khi ấy, có ai sơ ý hỏi han điều gì, cụ đều không trả lời, coi như người đã nhập thiền vậy. Nhà báo Nguyễn Hà hồi nhớ: Sau khi gọt, các lát cắt của củ hoa sẽ chảy nhựa, cụ tôi phải đem củ thủy tiên ngâm úp vào nước để nhựa tiết ra tan chảy hết.

Gọi là "ngâm cầu". Ngâm khoảng ngót một ngày thì được. Trong thời gian ngâm thì cứ dăm sáu giờ đồng hồ lại phải rửa cho củ thủy tiên sạch nhớt. Nếu không sạch nhớt thì củ sẽ bị thối. Mỗi năm cụ giở ra gọt thủy tiên thì cứ lục đục suốt đêm, hầu như chả chợp mắt lúc nào.

Hàng năm, cứ vào dịp đầu tháng chạp âm lịch, khi những cơn gió bấc cuối đông dường như đã chùng lại trước những làn hơi ấm đầu xuân mơ màng, ấy là lúc những người chơi hoa sẽ vào cuộc mới. Những củ thuỷ tiên khô do lái buôn đem về từ các tỉnh duyên hải Nam Trung Hoa, bây giờ sẽ được đem ngâm nước cho căng mọng và nhú mầm. Nom chúng tựa như những củ hành tây vừa ra giống. Sau đó, họ, những người chơi thủy tiên chuyên nghệ sẽ tìm lấy một chốn kín đáo, khuất nẻo để chuyên tâm lo việc gọt tỉa hoa.

Gọt tỉa thuỷ tiền, đó chính là một công đoạn tỉ mỉ, khó khăn, phức tạp và rắc rối nhất trong cách chơi thuỷ tiên cổ truyền Cụ giáo Lê Đăng Nghị còn nhớ rất tỷ mỷ:

- Phải chọn đoán cho đúng phần mặt chính của củ. Nếu vô ý gọt trái mặt, củ thuỷ tiên sẽ đâm mầm tréo nghẹo, mắt hết tư thế đẹp. Mà khi gọt phải lựa đôi tay cho khéo, kẻo phạm phải chỗ đọt mầm tương lai, củ thuỷ tiên sẽ bị hoại nát mà thui chột mất dò hoa.

Lại phải gọt hướng sao cho các mầm hoa sau này sẽ vươn theo thế đã chọn. Không để chúng trổ lung tung, vô lối. Toàn là phải dò dẫm, đoán định, phỏng chừng, ấy mới là khó chứ.

Sau công đoạn ngâm cầu, người ta bắt đầu giai đoạn dưỡng hoa. Chủ yếu là dưỡng bằng nước sạch. Người chơi hoa ngâm củ thủy tiên trong các bát gốm hoặc sứ rồi hằng ngày bắt đầu quá trình chăm sóc rất tỷ mẩn, cẩn trọng. Sau mỗi lần gọt sửa, củ thuỷ tiên phải được lau rửa bằng nước nhiều lần cho sạch nhựa. Các cụ ta thường rửa thuỷ tiên bằng chổi lông gà hay chối tóc. Như thế vừa sạch sẽ, vừa tránh xây xước, tránh làm tổn thương tới các mầm đọt non và cả bộ rễ mới kịp nhú. Củ thủy tiên từ lúc nảy mầm, đâm rễ, trổ giò, kết nụ phải trải qua ba bốn lần gọt tỉa, sửa sang và hàng vài ba chục lần thay nước mới. Thủy tiên là giống hoa ưa sạch sẽ, tinh khiết. Bởi thế, nó cần được uống nước trong hàng ngày và phải được đặt ở nơi thoáng mát, không vương bụi bậm, không ướm hơi xú uế.

Bà Quách Hồng Huyền là con gái làng Yên Phụ lên làm dâu làng Nghi Tàm. Cả đôi bên nội ngoại của gia đình đều có nghề gọt tỉa thủy tiên. Có lần bà Huyền còn tìm sang tận Phúc Kiến - Trung Quốc để cất thủy tiên về Hà Nội làm hoa thủy tiên của nhà bà.

Huyền cũng thuộc diện làm đại trà, giá bình dân chứ không phải thuộc diện cắt tỉa nghệ thuật kỹ càng, giá đặc biệt. Nhưng được cái bà Huyền có tài đoán đúng cho thủy tiên nở trong khoảng từ chiều ba mươi đến sáng mồng một ta, đúng mong muốn của khách chơi hoa nên bán buôn khá đắt hàng. Từ năm 2000, bà bắt đầu mở rộng việc kinh doanh thủy tiên, có năm bà làm tới dăm trăm bát thủy tiên, nhưng sau phải giảm dần.

- Đau lưng lắm bác ạ. Làm nhiều không chăm chút được hàng ngày, cây nó không thể đẹp được. Có khi lúc cắt gọt mong nó trổ hoa thế nọ nhưng nó lại trổ ra thế kia. Con cái dỗ mãi nó cũng chả thích theo nghề. Năm Canh Tý vừa rồi là năm nhuận, đắn đo cẩn thận lắm rồi mà người tính chả bằng trời tính. Cả Hà Nội thủy tiên đều nở sớm. Hăm nhăm hăm bẩy tết mà đã trắng rực cả chợ hoa. May nhà em còn vớt vát được vài trăm bình nở hăm chín ba mươi.

Hút chết bác ạ. Với lại, trước đây Nghi Tàm cũng mấy chục nhà làm thủy tiên nhưng rồi đa phần cũng thu hẹp dần vì nhà cửa cứ xây cho thuê hết, đất cát chả còn mấy mà lấy chỗ làm hoa.

Giờ đây, mỗi nhà kinh doanh hoa thủy tiên ở Hà Nội đều có cách thức và bí quyết riêng để chăm sóc cho cây thủy tiên ở giai đoạn ươm cây, trổ nụ đầy khó khăn này. Ví như củ nào kém đâm rễ, phải đem vùi trong cát ẩm. Cát phải được đãi rửa thật sạch. Thế mà trước khi vùi củ hoa vào trong bồn cát, lại phải đặt nó trong một tấm vải bông mới và sạch tinh, để chống nhiễm khuẩn làm thối bộ rễ. Khi cụm hoa trổ đủ số mầm chính, ba, năm, bẩy, chín - số lẻ bao giờ cũng hay hơn: tam đa, ngũ phúc, thất hiền, cửu long, cụm hoa cần phải được đặt trong bình thuy tinh hay bát sứ, cho cụm cây cố định dáng vẻ. Lâu nay có bát nhựa thay thế vừa rẻ vừa đỡ sứt vỡ.

Như thế, các mầm cây và giò hoa, cánh lá mới vươn lên thẳng ngay, không bị xiên lệch, vẹo vọ. Bởi xiên lệch vẹo vọ là phạm phải một điều tối ky trong kỹ thuật tạo dáng thủy tiên. Hoặc như ở các nhà kinh doanh thủy tiên chuyên nghiệp, họ thường đặt những phên tre đan thành giàn, ngâm xăm xắp trong bể nước. Mỗi ô mắt phên sẽ thay cho công dụng giữ thăng bằng, cố định cho cụm hoa như ở trong bình, trong bát nhỏ, rất tiện cho việc thay nước hoa hàng loạt mỗi ngày. Lúc nào chuẩn bị đưa hoa ra chợ, mới nương nhẹ tay cho cụm hoa vào các bình bát. Tôi đã tận mắt trông thấy giàn dưỡng hoa đan bằng lưới tre hình ô vuông thả trên bể nước nông có đường dẫn nước vào ra của gia đình anh Nguyễn Văn Thanh ở làng Thanh Nhàn. Trong thời gian dưỡng thủy tiên chừng 25 đến 30 ngày, anh Thanh phải chăm thủy tiên như chăm con mọn:

- Hàng ngày phải thay nước mới và rửa sạch củ hoa, rễ cây, lá cây, mỗi ngày ít nhất một lần. Nếu trời nắng nóng thì rửa cây thay nước hai ba lần. Mệt lắm. Nhưng nếu lơ là một chút thôi là nhựa các vết cắt lại dễ làm thối nước, thối củ. Rồi mỗi ngày lại phải để ý sắp xếp lại lá, hoa và rễ sao cho khóm thủy tiên phát triển hài hòa, đẹp mắt.

Tuy nhiên, việc chăm sóc hoa trong giai đoạn này thật chẳng dễ dàng chút nào. Nhất là vào những năm gần đây, trong điều kiện thời tiết và môi trường Hà Nội có rất nhiều biến đổi bất lợi. Dân ta đi chợ mua hoa thủỷ tiên, khi hỏi đến giá cả, thường chê đắt rẻ, song ai đã từng tận mắt theo dõi những công việc của người làm hoa và cùng chia sẻ với họ bao bất trắc, gian nan của nghề hoa, mới cảm nhận rõ giá trị của mỗi dò hoa quý. Tháng chạp năm Đinh Sửu trước tết Mậu Dần 1998, thời tiết nước ta không thuận, mưa nắng thất thường, có buổi nồng nực hơn cả mùa hè. Môi trường và nguồn nước nhiều khu vực lại bị ô nhiễm nặng. Hàng chục nhà kinh doanh đã cầm chắc lỗ vốn bạc triệu. Riêng đợt thủy tiên mới ra giống của nhà anh Thanh ở làng Thanh Nhàn là có chút hứa hẹn cho triển vọng kha khá. Song chủ nhân của chúng cũng không giấu nổi nỗi lo âu, thấp thơm. Nhất là khi anh đã rót vào đợt thuỷ tiên ấy số vốn ban đầu vài chục triệu đồng. Đó là chưa kể tới các đợt hoa thí điểm hồi trước, khi được, khi mất, hồi anh Thanh mới bước vào nghề và Hà Nội mới gây dựng lại thú chơi thuỷ tiên.

Chừng vào khoảng tết ông Công, ông Táo, khi hơi xuân nồng nàn đã vây bọc khắp không gian, những giò thuỷ tiên sớm sẽ trổ hoa đợt đầu, đưa hương thơm thoang thoảng, nhẹ nhàng. Song mà vào ngày trước, những người chơi hoa thủy tiên sành điệu, cứ nhất định tìm cách hãm cho hoa nở đúng vào thời khắc giao thừa, mới cho là đúng phép. Bà Phúc Lâm Đỗ Thị Dung nhà ở phố Hàng Đồng cũ, là con cụ Ký Hanh, một viên chức dưới thời Pháp thuộc. Bà vẫn hãy còn nhớ cách thức thúc hoa và hãm hoa của cụ Ký Hanh khi xưa:

- Mỗi khi đến ngày 28, 29 giáp Tết Nguyên Đán mà nụ hoa coi vẻ còn se sắt, chưa có dáng sắp nở, thì phải lấy nước âm ấm thay luôn, để thúc nụ chóng mập. Còn nếu như thấy nụ hoa đã ra chiều muốn mở cánh, thì phải lấy chút lòng trắng trứng gà, phết một đôi lượt bên ngoài nụ, nhằm hãm cho hoa nở đúng lúc giao thừa. Thế mới gọi là đại cát cho năm mới.

Còn nếu như trong nhà không có người rảnh rỗi, hoặc là có người rảnh rỗi nhưng chẳng thành thục với nghệ thuật gọt tỉa thủỷ tiên, thì vào dịp giáp tết âm lịch, người ta sẽ tìm lên chợ hoa Cống Chéo - Hàng Lược. Nơi ấy, giữa một vườn đào quất, cây cảnh, hoa tươi rực rỡ muôn màu, những bình thủy tiên bé nhỏ, xinh xắn với vẻ đẹp khiêm nhường, duyên dáng, với hương thơm cao sang, độc đáo, luôn là điểm hấp dẫn bước chân của những người hâm mộ.

Những tụ điểm bán hoa thủy tiên mới nở rộ khoảng mươi lăm năm nay là chợ hoa Quảng An, chợ hoa Hoàng Hoa Thám, chợ hoa Vạn Phúc, và nhất là dọc đường phố Từ Hoa bên làng Nghi Tàm, một thủ phủ của thủy tiên Hà Nội.

Phần lớn khách chơi hoa thuy tiên vào dịp tết, thường là các cụ ông trí thức, văn nghệ sĩ cao tuổi. Có thể hiểu như là, họ đã từng trải qua biết bao thăng trầm, cũng như nếm trải biết bao hương vị đắng ngọt của cuộc sống, của nỗi buồn, niềm vui. Cái điểm dừng thủy tiên hoa, phải chăng là nơi ẩn chứa, nơi gửi gắm những điều tâm sự, những nỗi ước mong cao xa và thầm lắng khó nói thành lời ở cái tuổi ngoại tuổi tri thiên mệnh? Còn tôi, mỗi năm vẫn thường được cậu con trai đỡ đầu là giảng viên trường Đại học khoa học xã hội nhân văn đều đẳn đem biếu đôi bát thủy tiên, một bát dâng trên ban thờ, một bát trưng ở phòng khách. Thật ưng ý quá. Sáng mồng một tết năm nào cũng vậy, tôi thường mặc tấm áo dài mới chụp ảnh bên bình hoa thủy tiên rồi đưa FB chúc mừng họ hàng, bầu bạn gần xa.

Ngày xửa ngày xưa, Hà Nội từng có những kỳ thi hoa thủy tiên vào dịp đón xuân tại đền Bạch Mã và Ngọc Sơn cổ kính. Cụm hoa nào đoạt giải, được cả sắc hương lẫn dáng thế, sẽ được đưa lên kiệu rước trên phố Hà Nội cho bàn dân chiêm ngưỡng, tôn vinh.

Khi thủy tiên nở hoa, mỗi cụm hoa mang một dáng vẻ khác nhau theo lối đặt tên của các cụ xưa. Dáng phượng múa, dáng rồng bay, dáng hạc chầu, dáng tiên sa... Mỗi cụm hoa thực sự là một tác phẩm nghệ thuật mang dấu ấn độc đáo của bàn tay người yêu hoa, và là kết quả của nghệ thuật gọt tỉa thủy tiên khởi từ trước đó hàng tháng trời. Chính bởi vậy, người xưa mới ham thích thú chơi thuỷ tiên, thú chơi giàu sáng tạo và giàu tính thẩm mỹ, nghệ thuật. Ông Nguyễn Văn Chi, một chủ vườn hoa cảnh nổi danh ở làng Định Công chậm rãi:

- Các cụ ta xem thủy tiên khi nở hoa như một bộ mâm bạc chén vàng của nhà vua. Bình chọn một cụm thủy tiên đẹp, phải xét toàn diện. Lá phải xanh đều và uốn lượn theo hình thế nhịp nhàng chứ không thẳng đuồn đuỗn. Các dò hoa phải cao thấp hài hoà, chứ không đâm tua tủa ngang mặt nhau, rễ phải rậm, dài, mềm mại và trắng muốt, không bợn một nốt nâu ủng, không đan rối lẫn nhau, trông hệt như bộ râu của một lão ông đại thượng thọ. Thế mới là tuyệt hảo.

Việc ấy, ta cũng có thể hình dung lại qua câu chuyện của nhà văn Vũ Bằng in trong cuốn Mê Chữ của ông. Trong văn chương nghệ thuật, người Á Đông thường giữ quan niệm "Quý hồ tinh bất quý hồ đa". Trong chiếc bình pha lê trong suốt, cụm thủy tiên bé nhỏ lộ vẻ đẹp thơ ngây, trong trắng, dịu dàng, tựa như một bầy tiên vừa từ thượng giới bay xuống tắm mình trên dòng suối mát, giữa một cánh rừng cổ tích nguyên sơ.

Những năm đầu thế kỷ XXI, khi con đường ven hồ Tây chạy men làng Nghi Tàm được khai thông và đặt tên là phố Từ Hoa, thì người Hà Nội đã có cơ hội tìm lại những ngôi nhà của các nghệ nhân hoa cảnh nổi tiếng để đặt hoa thủy tiên đem về chơi Tết và đem đi biếu Tết. Nghệ nhân Nguyễn Văn Ninh, tức cụ Hai Ninh ở tuổi ngoại chín mươi, ngoài kỹ nghệ trồng địa lan và trà hoa nổi tiếng, đã kịp truyền lại cho các cháu nội kỹ nghệ tỉa hoa thủy tiên rất cầu kỳ, công phu, tạo nên những bình hoa duyên dáng, đẹp đẽ:

- Hoa phải là hoa đơn, cánh dõng dạc, nhuy phân minh. Hoa kép rối cánh, lại kém thơm, không mấy được chuộng. Lá thủy tiên cong cong hướng ra bên ngoài, lá thấp để tôn hoa cao. Hoa đan xen trên dưới hài hòà. Gọt củ lúc đầu mà sau được đúng như đoán định là không dễ đâu. Nhất thiết phải là dò hoa chớm nở đúng lúc giao thừa, mới thập phần hoàn hảo, toàn bích. Ngày trước, ở Hà Nội, thường có các cuộc thi hoa thủy tiên ở đền Bạch Mã trên phố Hàng Buồm và đền Ngọc Sơn giữa hồ Hoàn Kiếm. Hễ gia đình nào thắng giải ở hội thi hoa thủy tiên đền Ngọc Sơn hay đền Bạch Mã thì coi như đạt được niềm vinh hạnh hiếm có trong đời người. Họ thường tổ chức buổi rước hoa, khao giải linh đình lắm.

Vài mươi năm gần đây, thủy tiên đã hiện diện trên khắp các chợ hoa Hà Nội. Lọt giữa muôn hồng ngàn tía các loại hoa cảnh đông tây nam bắc, nước trong nước ngoài, những bình thủy tiên nhỏ bé, khiêm nhượng vẫn thu hút sự say mê, đắm đuối của những kẻ yêu những nét đẹp xưa cũ Hà Thành. Cụ bà phố cổ áo kép hoa tóc búi trễ khăn len quàng cổ ngắm đi ngắm lại bình thủy tiên hàm tiếu:

- Ông nhà tôi lúc còn sống yêu hoa thủy tiên lắm, toàn tự gọt hoa lấy. Nhưng ông mất lâu rồi. Năm nào tôi cũng mua một bình cúng trên ban thờ cho ông thỏa nguyện. Hoa mua ở chợ không đẹp bằng ông nhà tôi tự gọt tỉa, nhưng cũng gọi là cho có. Không thì cứ lâu nay, tại ngôi nhà cổ 87 Mã Mây đã hình thành Câu lạc bộ Hoa thủy tiên Hà Nội bao gồm hàng chục thành viên cả lớn tuổi lẫn nhỏ tuổi. Mọi người truyền cho nhau các thức chọn củ, tỉa hoa, chăm sóc hoa khá kỹ lưỡng. Có một lần tôi được mời lên ghi hình cùng Đài PT - TH Hà Nội trong chương trình Người Tràng An - Người Hà Nội tại nhà 87 Mã Mây. Tôi tình cờ được xem ngắm mấy mẫu hoa mà các thành viên trong CLB hiện trưng bày tại đó. Cảm quan ban đầu là các khóm hoa đều có hình thái ý tứ riêng rất điệu đà, duyên dáng, rất khác với các khóm thủy tiên bầy nhan nhản ngoài phố chợ, Thế rồi trên mạng xã hội, cũng xuất hiện nhiều bạn trẻ đam mê học hỏi cách gọt sửa thủy tiên, bất chấp nhiều kỳ thất bại ban đầu, củ chẳng ra củ, cây không ra cây. Có được mẫu hoa nào tạm ưng ý, các bạn ấy sẵn sàng chia sẻ chung vui với cộng đồng mạng. Tin chắc một ngày nào đó, các bạn sẽ thành công như ý với niềm đam mê nhiệt huyết, thật tâm.

Thế là một thú chơi cao sang vào dịp tết cổ truyền dân tộc đã và đang trở lại với người Hà Nội sau cái khoảng cách thời gian dằng dặc bằng cả mấy cuộc chiến tranh liên miên cộng lại, với biết bao đổi thay về thời cuộc trên đất nước ta.

Với mùi hương thơm ngát mà không nồng nã, ngạt ngào, quyến rũ mà sâu thẳm, kín đáo, dịu nhẹ mà chẳng nhạt nhoà, pha tạp, hương thủy tiên thật xứng là một thứ hương thanh cao, nồi trội trong thời khắc thiêng liêng của đất trời khi chuyển sang năm mới.

Trong không khí xum họp gia đình của ngày đầu xuân, hương thuỷ tiên lẫn trong làn khói hương trầm ấm áp, nồng đượm, hoà trong hương cam Canh, bưởi Diễn thơm thảo, ngọt ngào. Tất thảy, tạo nên một hương vị tết nhất cổ truyền đặc biệt Hà Nội, cho những kẻ xa quê khó cầm lòng khi tưởng đến.

Nội dung Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Hồi sinh nghề chạm bạc ở Hà Nội

Hồi sinh nghề chạm bạc ở Hà Nội

"Hồi sinh nghề chạm bạc ở Hà Nội" - là nhan đề bài Podcast hôm nay, bài viết của tác giả - Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Chạm bạc, đó là nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống khá nổi tiếng ở Hà Nội. Vào những năm thuộc thập niên 60, 70 và 80 của thế kỷ trước, khi thị trường Đông Âu còn rộng mở, nghề chạm bạc phát triển thật rấm rộ. Các lớp học nghề liên tục được mở ra đào tạo được hàng trăm thợ chạm mới phục vụ cho các chiến dịch làm hàng xuất khẩu. Nhưng khi những chến dịch ổ ạt ấy qua đi một cách mau chóng, thị trường Đông Âu tan rã, thì hầu hết những người thợ được đào tạo theo lối cấp tốc ấy cứ theo năm tháng mà rơi rụng dần.

Ngô Mai Hương. Cản nhà cũ khuất sâu đường như biệt lập, cách xa sự đông đúc, sầm uất của dãy phố Bạch Mai. Nhưng khách cũng có thể dễ dàng tìm thấy nó nhờ sự dẫn dắt của những âm thanh nhà nghề quen thuộc và đều đặn hàng ngày. Ấy là tiếng đục chạm chí chát, lách cách, rộn rã.

Xưa nay, thế giới của những người thợ chạm bạc có lẽ chỉ quanh quẩn không xa khuôn bàn chạm rộng không đầy một thước vuông. Vậy mà từ đó, cả trời đất, núi non, cỏ hoa, chim thú, Thần Phật, dưới bàn tay người, đã hiển hiện, sống động và trường tồn dường như là vĩnh viễn. Nhìn thì hấp dẫn, nhưng người ngoài nghề khó mà học theo, nói chi đến việc đeo đuổi nghề đến suốt đời. Nghệ nhân Nguyễn Đức Chỉnh bộc lộ đôi điều:

- Trong cuộc đời làm nghề hơn năm mươi năm qua, tôi cũng đã góp công đào tạo được vài ba lớp thợ trẻ. Tất cả cũng độ ba bốn chục người. Nhưng mà bây giờ chẳng còn mấy ai đậu lại với nghề.

Các cháu chúng chuyển hết sang nghề hàng vàng hay là một số nghề khác dễ phát tài hơn là nghề thợ chạm bạc. Nghề này ai phải nặng lòng lắm, mới trụ được, tựa như là người nghệ sĩ ấy, cứ say nghề là theo thôi, biết là nghèo mà cũng đành chịu.

Cũng sống trong một con ngõ nhỏ lọt giữa phố Bạch Mai, ngõ Giếng Hậu Khuông, cách không xa ngôi nhà của nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh, người thợ đôi bàn tay vàng Nguyễn Ngọc Nghiên hàng ngày vẫn bình thản và lặng lẽ ngồi bên chiếc bàn nghề cũ kỹ, từ tốn truyền nghề cho đứa con út và một cậu cháu gọi bằng bác. Vẫn là những tràng tiếng đục chạm vang lên rỉ rả, đều đặn như một điệu nhạc lúc vui, lúc buồn.

Chạm bạc, đó là nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống khá nổi tiếng ở Hà Nội. Vào những năm thuộc thập niên 60, 70 và 80 của thế kỷ XX, khi thị trường Đông Âu còn rộng mở, nghề chạm bạc phát triển thật rầm rộ. Các lớp học nghề liên tục được mở ra đào tạo được hàng trăm thợ chạm mới phục vụ cho các chiến dịch làm hàng xuất khẩu. Nhưng khi những chến dịch ồ ạt ấy qua đi một cách mau chóng, thị trường Đông Âu tan rã, thì hầu hết những người thợ được đào tạo theo lối cấp tốc ấy cứ theo năm tháng mà rơi rụng dần. Âu cũng là thuận theo quy luật của cuộc sống. Nhưng điều đó không khỏi đem lại cho những người thầy một nỗi buồn thấm thía.

undefined
Nghề chạm bạc ở Hà Nội.

Song bao giờ cũng vậy, trong cái rủi lại có cái may. Số ít những người thợ nghề còn trụ lại, hoặc tiếp tục học nghề trong thời kỳ khó khăn nhất, lại chính là số con cháu, họ hàng thân thuộc của gia đình. Một lần nữa, phương pháp dậy nghề truyền thồng theo lối cha truyền con nối, lại khẳng định ưu thế khó phủ nhận trong thực tế. Mặc dù không phải hầu hết những đứa con của các gia đình thợ chạm bạc ở Hà Nội đều theo nghề cha ông. Số theo nghề cũng thật ít ỏi, mỗi nhà chỉ một vài người. Nhưng đa số họ đều là những người thợ giỏi đầy triển vọng.

Trong giới thợ chạm bạc ở Hà Nội, ông Nghiên nồi tiếng về thể loại tranh chân dung. Và chạm tranh chân dung cũng chính là thể loại khó nhất trong nghề. Chính bức chạm nổi Bác Hồ ngồi đọc báo ở Phủ Chủ tịch đã đem lại cho ông tấm huy chương vàng trong triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống Việt Nam năm 1997. Và chính bức chạm đã trở thành một mẫu hình thị phạm quý giá, khi ông truyền lại những bí quyết của cách thức chạm bạc thể loại chân dung cho lớp trẻ.

Như những người thợ thức thời, ông Nghiên cũng không quá nghiêm ngặt với các lễ lối cũ, cách thức hành nghề cũ. Ông trông đợi rất nhiều vào khả năng sáng tạo của lứa thợ trẻ. Đó chính là sức sống mới của nghề truyền thống cha ông. Bởi vậy, ông chỉ quan tâm nhất đến việc phổ biến những kiến thức cơ bản ban đầu của nghề chạm bạc cho con và cháu, và rất tôn trọng ý tưởng cải biến những mẫu mã mới của chúng. Anh Nguyễn Ngọc Tú, con trai ông Nghiên ngồi bên khuôn bàn chạm bạc với dáng người thanh mảnh và nụ cười rất tươi tắn, hiền hậu trên gương mặt thanh tú:

- Các mẫu mã hoa lá ngày xưa của các cụ rất đẹp, rất nghiêm cẩn. Nhưng bây giờ nhiều khách hàng thích các mẫu mã mới, hoa lá thoáng đạt hơn. Nên nhiều khi mình phải cải biến đi một chút thì hàng mới dễ bán. Như mẫu hoa lan tây cánh dài mảnh và dáng bay thoát như thế này chẳng hạn.

Có một thực tế là cuộc sống của đa phần thợ thủ công mỹ nghệ ở Hà Nội, kể cả thợ mỹ nghệ kim hoàn, đều chưa thật khá giả. Cũng sống trong một con ngõ nhỏ khuất khúc giữa phố Khâm Thiên, ngôi nhà kiêm xưởng nghề của nghệ nhân Nguyễn Ngọc Trọng thật là chật chội. Ông là một người đồng nghiệp giàu tâm huyết của nghệ nhân Nguyễn Đức Chỉnh và người thợ đôi bàn tay vàng Nguyễn Ngọc Nghiên. Dòng chữ nổi theo lối đại tự mà ông thờ trong ngôi nhà gồm ba chữ: Đức Bản Giã. Ấy là cách viết tắt của một câu châm ngôn cổ: Đức giả bản giá: Nhà lấy đức làm gốc.

Theo nghiệp thợ, lấy công làm lãi, lấy tín làm đầu, trong làng thợ bạc ở Hà Nội, nghệ nhân Nguyễn Ngọc Trọng là người nhận được rất nhiều hợp đồng và đơn đặt hàng của khách trong và ngoài nước. Công thơ chính của xưởng thợ hiện nay cũng chỉ tương đương như lương công nhân lành nghề trong các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng chỉ có trong tay chừng hơn chục thợ thuyền, chủ yếu là con cháu, họ hàng, lại thêm điều kiện nhà xưởng chật chội, ông thường không đáp ứng đủ yêu cầu của khách hàng. Có một số công ty nước ngoài muốn đầu tư cho ông mở rộng quy mô sản suất.

Song ông tự lượng sức mình, sức thợ, nên đành từ chối. Thực ra là ông đang trông đợi rất nhiều ở thời kỳ tới, khi người con trai út của ông thực sự trưởng thành một cách vững vàng.

Như rất nhiều gia đình thợ chạm bạc ở Hà Nội, nghệ nhân Nguyễn Ngọc Trọng cũng chỉ có được một người con duy nhất theo nghề tổ tiên: Anh Nguyễn Ngọc Anh. Người thấp đậm, đôi mắt đen sẩm, năm nay Ngọc Anh mới 26 tuổi nhưng đã có gần hai mươi năm theo cha từ những nét đục chạm vụng dại đầu tiên, kể từ khi anh hãy còn là một cậu bé học trò lớp vỡ lòng, cầm chiếc búa nhỏ xíu còn chưa vững.

Bây giờ, có thể anh chưa đủ khả năng để thay cha đảm đương quản lý cả một xưởng thợ mỹ nghệ chạm bạc danh tiếng. Nhưng dường như anh đã bắt đầu thổi một luồng sinh khí mới cho xưởng nghề gia đình bằng những gì mà anh thâu nhận được từ luồng gió mạnh mẽ của thời đại. Đó cũng là điều mà người cha hằng đang mong đợi ở đứa con yêu. Anh Nguyễn Ngọc Anh tâm sự cùng chúng tôi bên chiếc máy vi tính, trong lúc anh đang hoàn thiện nốt mẫu trang trí mặt trống đồng trên một sản phẩm mới.
- Mình là con thì phải theo nghề cha thôi. Có điều là khi xưa, các cụ toàn vẽ mẫu bằng tay, có chỗ không đều đặn, sắc nét như ý muốn. Bây giờ thiết kế mẫu trên máy vi tính, nên có thể sửa sang hoàn thiện đến lúc nào thật ưng ý thì mới đem áp mẫu trên sản phẩm, đỡ tốn công sức rất nhiều.

"Có nụ mừng nụ, có hoa mừng hoa". Nhưng với tâm nhìn nhận, sức suy gẫm của một nghệ nhân bậc thầy ngành chạm bạc ở Hà Nội, người cha của anh không khỏi còn những điều lo lắng, trăn trở. Những lo lắng, trăn trở không chỉ cho nghiệp nhà, mà còn xa hơn thế và rộng hơn thế và sâu hơn thế.

Cho dù máy móc hiện đại như thế nào đi chăng nữa, thì các mẫu mã hoa văn cũng vẫn phải giữ được dáng nét và đặc trưng mỹ thuật cổ truyền dân gian trong các sản phẩm. Và mỗi sản phẩm làm ra đều phải mang dấu ấn bàn tay cá nhân người thợ. Nếu như không giữ được như vậy, thì sẽ chẳng ai còn tìm đến với thủ công mỹ nghệ dân tộc.

Tuổi ngoại bẩy mươi, Nghệ nhân Nguyễn Đức Chỉnh ở Ngõ Mai Hương vừa có thêm một niềm vui mới. Có một cô học trò do ông dạy dỗ từ nét đục chạm đầu tiên sau năm năm trời, nay đã thành thục trong nghề. Đó chính là cô con dâu út của ông. Nhìn bức chạm bạc mới đang trong giai đoạn hoàn thiện mà đã hé lộ vẻ rực rỡ, sống động của hoa lá, cỏ cây dưới bàn tay cô thợ trẻ, người cha chồng không giấu nổi niềm sung sướng và tự hào thầm kín.

Thêm một người thợ, hơn nữa lại là một người thợ giỏi nghề, nghệ nhân Nguyễn Đức Chỉnh còn có thể trông đợi thật nhiều ở nghiệp nhà và nghiệp tổ mai sau. Có thể lắm chứ, bởi bắt đầu từ năm chuyển giao sang thế kỷ mới, cùng với một số ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống của Hà Nội, nghề chạm bạc đang trên đà phục hồi và khởi sắc rõ rệt. Đang có hàng trăm gia đình thợ nghề giữ nhịp chạm quanh năm. Mở rộng và làm cho thông thoáng đầu ra của hàng hoa, đó có lẽ là điều trông chờ lớn nhất ở chính quyền thành phố và ngành tiểu thủ công mỹ nghệ Hà Nội của gia đình các nghệ nhân chạm bạc và các làng nghề truyền thống nói chung.

Ngày ngày, trong căn nhà nhỏ ở ngõ Mai Hương, tiếng đục chạm vẫn lách cách, râm ran. Nhưng liệu điệu nhạc nghề ấy, có thể hấp dẫn và thu hút lũ cháu nhỏ của ông? Câu hỏi đó còn chờ ở ngày mai.

Nội dung Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Bảo tồn thú chơi địa lan giống cổ

Bảo tồn thú chơi địa lan giống cổ

BẢO TỒN THÚ CHƠI ĐỊA LAN GIỐNG CỔ - là nhan đề bài Podcast hôm nay, bài viết của tác giả - Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, nguyên Trưởng ban Văn hóa - Xã hội, Đài PT - TH Hà Nội. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Bài viết:

Trong cái thời khắc khởi đầu năm mới, đất trời thanh sạch, nhẹ nhàng, năng mai phơ phất non tơ, những đóá lan xuân hé nở, vươn lên những cánh nhỏ mềm như lụa nõn, khoe sắc màu thanh tân trang nhã. Làn gió đông dịu dàng chợt đến chợt đi, mang hương hoa toả lan, phảng phất khắp không gian. Lòng người chợt xốn xang, xao xuyến lạ lùng. Và bỗng dưng người ta nảy sinh cái ước muốn được trao gửi, được sẻ chia tâm tình.

Ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Chi và bà Triệu Thị Thái ở làng Định Công, quận Hoàng Mai nằm trong một khu vườn quanh năm rợp bóng xanh. Mùa hạ, ngõ vào nhà thơm ngát hương hoàng lan, mùa thu, dìu dịu hương quỳnh, hương quế. Hương hoa từ trên cao theo gió sớm, sương đêm, buông tỏả xuống mặt đất hiền hòa, tạo nên một bầu không gian thanh nhã và mộng mơ.

Nhưng qua ba tháng mùa đông khô cằn, khi những màn mưa xuân phơ phất vương bay trong trời đất, ngôi nhà của ông Chi lại chìm ngập trong một bầu hương thơm nồng nàn mà rất đỗi thanh tao. Ấy chính là hương thơm của hàng trăm chậu địa lan đang kỳ trổ hoa. Ông Chi mê đắm vì lan đã bao năm rồi không nhớ nổi: "Mỗi giống địa lan nó lại có dáng lá vẻ hoa khác nhau, hương thơm cũng thế. Hoàng vũ thơm ngọt, Mặc biên thơm ngát, Cẩm tố thơm dịu, Hoàng điểm thơm thanh... Chỉ nghe gió thổi từ xa xa đã biết khóm lan nào đang tỏa hương, Người cứ như đang bay lên mây ấy chứ".

Trong nền văn hóa cổ truyền các dân tộc Á Đông, sự vần chuyển của một năm thời gian vũ trụ được mã hóa bằng hình tượng các loài hoa quý giá và đặc sắc của bốn mùa: Xuân lan - Hạ liên - Thu cúc - Đông mai. Hoa lan mùa xuân, hoa sen mùa hạ, hoa cúc mùa thu, hoa mai mùa đông.

undefined
Hoa địa lan có nguồn gốc đầu tiên từ vùng Tây Nam Trung Quốc

Hoa lan, tự xa xưa đã được các bậc tiền nhân liệt vào hàng "vương giả chi hương" có lẽ không chỉ bởi chúng vốn được lưu truyền trong chốn cung vua, phủ chúa cao ngạo, thâm nghiêm, mà chính là bởi chúng mang thứ hương thơm không loài hoa nào trên thế gian sánh nổi. Tuy nhiên, ông cha ta tự xưa chỉ ngưỡng vọng các loài địa lan tức là các loại hoa được trồng trong đất, do tự tay người chăm sóc. Còn đối với các loài phong lan, tuy muôn hình vạn trạng, thắm sắc, đượm hương, thì cũng vẫn chỉ là cây rừng hoa núi, hoang sơ, lạ lẫm. Người ta yêu địa lan không chỉ bởi sắc đẹp và hương thơm của chúng, mà còn bởi vì, chúng là những tác phẩm nghệ thuật phụ thuộc vào chính bàn tay kinh nghiệm và sự sáng tạo của những người yêu hoa.

Vậy mà, trong vòng nửa thế kỷ qua, người Hà Nội chỉ loáng thoáng nghe nhắc đến hoa lan qua câu tục ngữ: "Làm chúa chơi lan, làm quan chơi trà" hoặc là qua áng văn chương tuyệt mỹ của nhà văn người Hà Nội gốc, nổi tiếng hào hoa, lịch lãm Nguyễn Tuân:

"Vang bóng một thời". Trong những câu chữ được gọt giũa cầu kỳ đến mức điêu luyện ấy, vẫn đau đáu nỗi niềm của một kẻ nặng lòng hoài cổ, đang thả hồn chìm đắm trong những dòng hồi ức lung linh, kỳ ảo, nhớ về vẻ đẹp của thời quá vãng xa xôi tưởng sẽ không bao giờ sống dậy, chỉ còn lại đôi ánh hào quang mờ dần trong niềm tiếc nối khôn nguôi.

Thế rồi, khi nhắc tới khái niệm dân dã như ngọc lan, hoàng lan và sau này, khái niệm đó được làm giàu thêm bởi trăm loài phong lan hoang dã cùng những giống hoa lan được nuôi trồng theo phương pháp công nghiệp hiện đại thì dường như không có tên tuổi bất kỳ một loài hoa địa lan cổ truyền nào lọt vào trong trí não những đứa trẻ Hà Nội sinh ra ở cái thời gian khó dằng dặc ấy.

Thì bỗng đâu, cũng thầm lặng, nhẹ nhàng như là trong khoảnh khắc lìa xa năm xưa, vào một sớm đầu xuân mới, dưới làn nắng nhẹ vương tơ, thấp thoáng hiện lên những dáng vẻ, những sắc màu như lạ như quen. Lan Hoàng Vũ như cơn mưa màu cốm non, lan Hoàng Điểm hoa nâu chấm vàng như gấm thêu, lan Cẩm Tố hanh vàng, cành vươn, cánh dài thon thả, thanh thoát như đôi cánh tay vũ nữ vút bay trong điệu khúc thần tiên.

Và người Hà Nội, cũng như chợt tỉnh giấc mơ, mừng rỡ đón chào những nàng tiên lan, những nàng tiên chỉ hiện hình trên thế gian, dưới một bầu trời bình yên, sán lạn, và chỉ khoe hương sắc bên những con người không mấy còn cay cực, vật vã bởi cuộc mưu sinh khốn khó. Hà Nội trong những năm cuối thế kỷ XX, dường như đã thoáng hiện dáng vẻ của một chốn địa đàng sơ khởi mà bao lớp người chúng ta từng mơ ước

Và cứ như thể đã quen biết tự trăm năm, người Hà Nội đã không lấy làm lạ lẫm khi gọi tên hàng chục hàng trăm loài địa lan quý hiếm đang tụ hội trở về đất kinh kỳ ngàn tuổi. Nào là Bạch Ngọc, Thanh Ngọc, Thanh Trường, Ngân Biên, Mạc Biên, Cẩm Tố, Hoàng Vũ, Hoàng Điểm, Tiểu Kiều, Đại Kiều... Những tên hoa cao sang, mỹ lệ đến thế mà lạ không, tưởng như ta đã từng biết đến trong những giấc mơ xa.

Nghe người ta nói, thì hoa lan có tới vài ba trăm loài, với hàng ngàn cá thể khác nhau. Song những dòng lan lưu truyền tại Hà Nội tương truyền có nguồn gốc từ hoàng thành, vương phủ, nên chúng mang hương thơm quý giá hơn hẳn địa lan ở các vùng miền khác trên đất nước. Bởi thế, chúng được giới chơi lan mến chuộng tha thiết.

Cho đến bây giờ, vườn cảnh nhà nghệ nhân Lê Quyết Bội tại làng Nghi Tàm, bên bờ hồ Tây cũng chỉ có dăm bẩy chậu lan bầy rải rác quanh bể nước non bộ trước sân nhà. Lão nghệ nhân, tóc bạc trắng, thong thả cầm chiếc bình đồng nhỏ, khẽ khàng tưới nước vào từng chậu lan. Ngày xửa ngày xưa, cả một dải đất rộng lớn bên hồ vốn là thủỷ thổ của các loài địa lan cổ truyền...

Bằng một giọng nói trầm trầm, nghệ nhân đà đận kể: Lan là một loài cây rất kỹ kén đất. Vào mùa hanh khô, người ta tát ao, vét bùn. Gạt đi lớp bùn hoa trên mặt, người ta xắn lớp bùn thứ hai đem phơi khô trên sân nắng. Chừng độ ba bốn, thậm chí cho tới sáu tháng sau, khi bùn khô nẻ, hết sạch tạp chất, sâu bọ, người ta mới đem đập vỡ, sàng lọc, để đưa lên chậu trồng lan. Bởi vì rễ lan ưa thoáng khí và thoát nước.

Nghệ nhân Nguyễn Luân, một nhà làm hoa chuyên nghiệp của làng Nghi Tàm lúc nào cũng tha thiết với địa lan giống cổ:

- Người xưa truyền lại rằng, lan cũng như trà, tựa như các nàng phi tần, quận chúa, tiểu thư khuê các, hiếm khi lộ diện bên ngoài dưới ánh sáng mặt trời gay gắt, sỗ sàng. Lan thường quen ẩn mình dưới tán lá rợp hay giàn thưa che nắng, như người đẹp núp bóng quân vương mà khoe hương sắc.

Chuyện xưa kể lại rằng, những khóm hoa trong cung vua phủ chúa sở dĩ tốt tươi, ấy là bởi hàng ngày chúng được các cung tần mỹ nữ dốc công chăm sóc. Chờ khi lan trổ hoa, các nàng sẽ có cơ hội đón rước đấng quân vương đến ngự lãm. Do chậm sinh sôi, nảy nở, nên lan phải được chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo và kỹ lưỡng.

Tuy nhiên, do là thứ cây khó tính, nên việc chăm sóc cũng phải vừa mức, tránh sự bất cập cũng như thái quá. Phân bón cho lan cũng không thể tùỳ tiện, phải ngâm ốc và cá vụn trong nước khoảng độ nửa năm cho hoai hết mùi hôi, rồi mới pha loãng mà tưới cho lan.

Chớ bao giờ nghĩ tới việc có thể dùng phân hóá học hay thuốc kích thích sinh trưởng. Thế thì thà trồng rau mà hái lá nấu canh.

Nghệ nhân Nguyễn Ninh ở làng Nghi Tàm, người sở hữu một vườn trà lan nức tiếng trong giới chơi hoa xứ Bắc với những khóm lan đắt giá tới hàng chục triệu đồng là một bậc cao thủ trong kỹ nghệ trồng và chăm sóc những giống địa lan giống cổ được cha ông truyền lại:

- Khách đến tham quan thì nhiều chứ mua bán thì không mấy.

Được giá thì vợ chồng tôi bán, không thì lại để chơi xuân. Tiền cũng quý nhưng lan còn quý hơn ấy chứ. Bán đi gây lại chả dễ trong cái thời tiết khí hậu ô nhiễm thế này. Lan giờ đây dễ bị nấm bệnh. Chữa bệnh cho lan có khi còn khó hơn chữa bệnh cho người. Lá lan hễ cứ xuất hiện một vài chấm đen là kém đi vẻ đẹp toàn bích. Người chơi mất hứng luôn. Một nhánh lan lụi đi thì ruột xót như muối vậy.

Mặc dù hoa lan mỗi năm chỉ nở có một lần, song kỳ hoa kéo dài chừng vài ba tháng, như thế, hương sắc của nó đã kịp trở thành niềm thân yêu quấn quýt khó rời. Hương hoa lại tuỳ theo thời khắc hay hướng gió mà tỏa lan gần xa, lúc thắm thiết, sực nức, khi lại nhạt nhòà xa xôi, như mơ như thực, như có như không. Bởi vậy càng khiến cho kẻ yêu hoa thêm say đắm, chờ đợi, ngóng trông.

Còn nhớ trong khúc Tỳ Bà Hành nồi tiếng, khi cô gái đẹp bến Tầm Dương buông tay đàn ngưng lặng trên mặt sông đêm, nhà thơ Đường Bạch Cư Dị đã thốt thành lời:

Thử thời vô thanh thắng hữu thanh

(Lúc này lặng tiếng còn hơn cất tiếng)

Cái khoảnh khắc lan ngừng tỏả hương giữa hai đợt gió, cũng có thể ví như thế chăng?

Hoa lan có nhiều chủng loại. Mỗi loại thường chọn mùa trổ bông khác nhau. Có thứ lan nở mùa xuân, có thứ lan nở mùa hạ, song có thứ lan nở về mùa thu hay mùa đông. Lại có thứ lan nở cả bốn mùa. Các cụ ta khó tính, giới sĩ phu Bắc Hà vốn thế, vẫn chê lan tứ thời là thứ dễ dãi, rẻ tiền, như những kẻ xu phụ tiểu nhân ngoài xã hội, không biết giữ phẩm giá tư cách trong sự đổi thay của thời thế. Nói như vậy, quả là cũng oan uổng cho hoa. Song đã gọi là nghệ thuật, là thú chơi, có mấy khi và có mấy ai lại không thiên lệch một đôi phần.

Trong cái thời khắc khởi đầu năm mới, đất trời thanh sạch, nhẹ nhàng, nắng mai phơ phất non tơ, những đóa lan xuân hé nở, vươn lên những cánh nhỏ mềm như lụa nõn, khoe sắc màu thanh tân trang nhã. Làn gió đông dịu dàng chợt đến chợt đi, mang hương hoa tỏả lan, phảng phất khắp không gian. Lòng người chợt xốn xang, xao xuyến lạ lùng. Và bỗng dưng người ta nảy sinh cái ước muốn được trao gửi, được sẻ chia tâm tình.

Hàng năm, vào một ngày xuân đẹp trời, lan trong vườn nở rộ, nhà chủ thường mời gọi dăm ba người bạn chí cốt, thuộc diện “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” đến chơi nhà. Khách gần, khách xa, đều không thể bỏ lỡ dịp may hiếm có trong năm.

Người ta ví, chăm được một chậu lan quý cũng tựa như chinh phục được một cô gái đẹp. Cuộc chinh phục càng khó khăn thì chiến công càng vẻ vang, và kẻ chiến thắng càng thêm phấn khích, tự hào.

Có lẽ bởi vậy mà trong giới chơi hoa, mới nảy sinh thú vui trưng hoa, thưởng hoa, bình hoa. Để mà ở đó, người ta có dịp kể lể, tán tụng, so sánh, phẩm bình về vẻ đẹp và hương thơm của từng khóm lá, từng dò hoa. Xưa nay, trong muôn loài hoa cảnh, chỉ có hoa lan, thứ hoa "vương giả chi hương" mới xứng đáng được chủ hoa mở tiệc đón mừng, khao đãi. Thành ngữ "bữa tiệc thưởng hoa" ra đời từ đó cũng nên.

Thực ra, cái đáng quý nhất ở các loài địa lan chính là hương thơm của chúng. Tự xưa, đối với dân các nước Á Đông thì ngay cả trong các khái niệm thuộc về mỹ cảm, cũng nặng chất duy lý. Tuy hướng đến sự toàn bích, tận thiện, toàn mỹ, song nếu xét nét riêng, thì cái sắc cái hình vẫn không thể sánh nổi cái thanh, cái hương.

Bởi thế, tuy hoa trà, hoa mẫu đơn được bầu là chúa các loài hoa mà các bậc tiền nhân, vẫn coi chúng là những thứ hữu sắc vô hương, chẳng coi trọng tôn thờ như đối với các loài hoa mang hương thơm như thuy tiên, địa lan.

Tuy mỗi giống địa lan đều có hương thơm đặc trưng riêng khó lẫn, nhưng tựu trung hương thơm của hoa lan rất dịu dàng và thanh tao, nhẹ nhõm và tinh khiết. Lại nói, trong cuốn truyện vang bóng một thời, nhà văn Nguyễn Tuân đã từng miêu tả sự tinh tế đến mức quá kỳ cầu, sự sang trọng đến mức quá cao xa của thú chơi hoa lan, nhất là khi các bậc tiền nhân tố chức một bữa tiệc thưởng hoa.

Chờ khi trong vườn có đôi dò lan hé nở, nhà chủ thường lấy mươi tờ giấy tốt, làm khung nứa mỏng, nương theo chiều cao của ngọn hoa mà phất đôi ba chiếc lồng bàn nhẹ. Thế rồi dâu gai trong nhà phải rửa sạch từng viên đá cuội trắng tròn, đem tẩm kẹo mạch nha nấu từ mầm lúa nếp, xếp vào những đĩa nhỏ, bầy quanh gốc lan, đậy lồng bàn cho kín. Sau một ngày đêm ủ hương lan như thế, nhà chủ mới mở tiệc trà hay rượu, mời đôi ba người bạn tri âm tri kỉ đến thưởng hoa, và ngâm vịnh thơ phú, bình luận văn chương.

Chao ôi! Cái thú chơi cao sang đến vậy, thì làm sao có thể tồn tại nổi trong mấy mươi năm chiến tranh giặc giã, Tây Tàu nhộn nhạo, mới cũ bất phân. Nhà văn kiêm dịch giả Nguyễn Hà, cộng tác viên thân tín mảng văn hóa Hà Nội cho các báo đài thủ đô có lúc rất ngậm ngùi:

- Mấy chục năm chiến tranh bao cấp Hà Nội khổ quá. Người dân lo ăn chả đủ nói gì đến thú chơi. Bao nhiêu thứ hoa cảnh, chim chóc cứ lay lắt rồi tàn lụi mất mát dần. Tiếc sao mà tiếc! Dẫu bây giờ có khôi phục lại cũng sẽ chuệch choạc lắm. Vì các cụ cao niên tinh sành đã theo nhau trước sau đi xa hết. Sách vở thì chả có mà dẫn truyền.

Vậy mà chỉ chừng sau mươi năm khi chiến tranh kết thúc, non sông thống nhất cuộc sống trở lại thanh bình no ấm, thì theo đó, thú chơi hoa lan cũng như thú chơi hoa cảnh chim cá quý hiếm như thủỷ tiên, trà hoa, hoạ mi, chim yến, đã phục hồi một cách nhanh chóng.

Gần đây, giới yêu hoa ở Hà Nội gồm các bậc văn nhân, trí giả, nghệ nhân cây cảnh, các bậc cao niền và cả những người trẻ tuổi, đã dần dần nhóm họp thành những hội chơi nhỏ. Họ thường đi lại thăm thú vườn tược hoa cảnh lẫn nhau, bàn bạc hỏi nhau cách thức chọn giống, chăm sóc phòng bệnh cho hoa, tìm tòi sưu tập thêm những giống hoa lan quý hiếm, mới lạ. Và họ coi đó là niềm vui đích thực, là những khoảng thư giãn cần thiết, là sự dinh dưỡng tinh thần hữu ích trong cuộc sống còn bộn bề lo âu vất vả hôm nay.

Gia đình ông bà Chi - Thái ở làng Định Công, quận Hoàng Mai cứ mỗi mùa hoa nở lại mở tiệc khao đãi đôi lần. Khách gần khách xa nườm nượp kéo đến. Văn nhân, nghệ sĩ, thương gia đều hiện diện.

Có các cụ cao niên trên phố cổ, lại thêm các chàng thanh niên nông dân mới vào nghề trồng lan. Xem hoa, ngắm lá, thưởng hương, trầm trồ, bàn luận sôi nổi. Cụ Đặng Trường Lâm tuổi ngoại bẩy mươi, nhà ở phố Nguyễn Trường Tộ, râu tóc bạc trắng nhưng đôi mắt vẫn rất tinh anh, giọng nói sang sảng:

- Trên phố bây giờ làm gì ai có nổi khu vườn lan trà rộng lớn như thế này. Cũng khó ai sưu tập đủ hầu hết các giống địa lan cổ như nhà ông Chi đây. Tôi thích nhất chậu lan Hoàng điểm này. Hoa như gấm thêu, lá xanh toàn bích không một nốt đen vết xước nào. Hoa này còn chơi hằng tháng nữa cũng chưa tàn.

Ông Nguyễn Văn Hùng, kỹ sư trồng trọt của sở nông nghiệp Hà Nội cùng mấy cậu thanh niên trẻ xúm xít quanh khóm lan Ngân biên trổ hoa nâu phớt ánh vàng thâm trầm, quý phái:

- Quanh năm ông bà Chi - Thái chăm chút, bón tưới, phòng bệnh rất vất vả. Nhưng khi hoa nở khắp vườn lại mời gọi anh em đến thưởng lan, chia vui. Mọi người học thêm được ở ông bà nhiều kinh nghiệm nhân giống, chăm sóc, đánh giá lan rất quý giá. Chậu Ngân biên này chẳng hạn, hiếm lắm đấy, lá nó xanh trong lòng mà viền hai viền trắng hai bên, rất điệu đà.

Nghệ nhân Nguyễn Luân, một trong ba nghệ nhân địa lan giống cổ tại làng Nghi Tàm ở tuổi ngoại tám mươi vẫn lưu giữ bên hiên nhà mấy khóm lan quý Hoàng Vũ, Thanh Trường, Mạc Biên:

- Tôi chỉ chơi lan giống cổ truyền, tự nhân giống, tự chăm bón.

Nhưng tôi già yếu rồi nên cũng chả có sức được như xưa. Mươi năm nay bên Trung Quốc người ta mang giống lan của mình về bên ấy nhân ra trong phòng thí nghiệm rồi đem trở về Việt Nam bán nhiều lắm, giá rất rẻ. Nhưng lan đó hoa mảnh, sắc nhạt mà mùi hương lại nhạt nhòa, chỉ chơi được một mùa rồi tàn lụi dẫn. Sao bằng hoa bên ta được.

Vườn lan của nhà anh Nguyễn Vinh Dũng ở làng Nhật Tân cũng là một địa điểm đầy sức thu hút giới chơi lan ở Hà Nội và cả các tỉnh ngoài Bắc, trong Nam. Anh chị có một lối chơi lan rất cao ngạo. Nếu không gặp được khách mua đúng ý, không đáng chỗ trao gửi những đứa con yêu dấu, anh chị Dũng thà để lại vườn, mỗi tuần cắt vài chục giò trưng trong chiếc bình lớn, khiến không gian trong nhà ngoài vườn đều thơm nức như trong động tiên.

Một người cùng thế hệ chơi lan với anh Dũng Nhật Tân, thế hệ ngõ hầu có thể tiếp nối thế hệ chơi lan lão niên của Hà Nội như cụ Ninh, cụ Bội, cụ Luân, ông Chi, đó chính là vua lan Trần Tuấn Anh ở Đình Thôn, Nam Từ Liêm. Trong khuôn viên vườn lan rộng hàng nghìn thước vuông mát rượi luôn đan cài hai ba tầng hoa cao thấp. Hàng nghìn khóm phong lan, địa lan, thạch lan mùa nào cũng ngập tràn màu sắc. Ban đầu khi bước chân vào thú chơi lan,

Tuấn Anh nghiêng về phong lan, thạch lan. Trong đó có tổi 5 loại lan mà anh kỳ công sưu tập từ các miền rừng sâu núi thẳm khắp đất nước và đã được các nhà nghiên cứu lan trên thế giới đặt tên là Lan Tuấn Anh. Sau dần, qua thời gian, các giống hoa địa lan giống cổ Hà Nội vừa khiêm nhường vừa kiêu hãnh cũng đã chinh phục Tuấn Anh từ vẻ đẹp thanh tao và hương thơm huyền diệu của chúng. Hơn thế, thú chơi địa lan giống cổ còn chinh phục Trần Tuấn Anh bằng ý nghĩa tinh thần cao sang lịch lãm của văn hóa cổ truyền người kinh kỳ Thăng Long Hà Nội.

Đã lâu lắm rồi, kể từ thời đi thăm vườn lan của nghệ nhân Lê Quyết Bội trên Nghi Tàm từ vài mươi năm trước cho đến gần đây, tôi mới được gặp lại một vài cụm lan Thanh Ngọc vô cùng quý hiếm tại vườn lan Trần Tuấn Anh. Anh đang cùng những người bạn cộng sự đêm ngày cần mẫn nhân lên giống địa lan quý hiếm ấy. Tuy nhiên không phải qua vài ba năm mà đã được như ý. Mặc dù giá mỗi nhánh lan thanh ngọc trên thị trường hiện nay lên đến vài ba triệu đồng thì các chủ hoa cũng chả thể làm sao cho nó phát triển nhanh như các loại lan nhân giống trong phòng thí nghiệm để trở thành lan thương mại đại trà trên thị trường. Cái khó và cái quý lại là ở chỗ chậm chạp khác thường của địa lan giống cổ.

Tuấn Anh mê lan đến thành giai thoại trong làng hoa. Mê đến nỗi lấy cô vợ nào thì cô vợ ấy cũng đều mà bỏ đi vì không chịu nồi cảnh anh chồng chăm lan hơn chăm vợ, yêu lan hơn yêu vợ. Tam tứ phen rồi đó chứ không phải ít. Muốn truyền đam mê hoa lan cho các con mà chúng lại thờ ơ, bỏ bễ. Đứa sang Mỹ sinh sống đã đành, đứa ở lại Việt Nam cũng thế nốt. Rốt cuộc là chỉ còn có mình Tuấn Anh ở lại giữa vườn lan với những người giúp việc xa lạ và một bầy chó dễ đến vài chục con ngày đêm sủa nhăng nhẳng canh vườn lan quý. Vườn lan Tuấn Anh thuê đất tại Đình Thôn, Nam Từ Liêm đã mấy chục năm nay, nhưng sang năm Tân Sửu 2021 sắp bị chủ đất bắt di dời để lấy đất xây nhà. Vua lan muốn có một khoảnh đất riêng ở ngoại thành để lập vườn lan mới, nhưng chả có cấp thẩm quyền nào chịu chứng nhận cho anh là đang sản xuất nông nghiệp để bán đất quy hoạch trang trại cho. Thế mới khó thay! Tuấn Anh ngậm ngùi lắm:

- Các cụ cao niên làng lan xứ Bắc đã đi xa gần hết. Đến thế hệ tôi thì chỉ có một vài người. Khá là đơn độc. Các bạn trẻ tham gia thú chơi lan hiện nay cũng đông đúc, giỏi giang lắm. Nhưng đa phần các cậu ấy chỉ quan tâm đến việc kinh doanh kiếm lợi với những giống lan thời thượng chiều đãi thị hiếu đám đông, chứ không mấy ai mặn mà với việc sưu tập, bảo tồn, phục tráng các giống lan cổ truyền của cha ông. Đó là sự thực.

Lâu nay, nếu như giới chơi phong lan đang bị cuốn hút vào những dòng lan đột biến giá tiền bạc tỷ thì giới chơi địa lan lại đang bị hấp dẫn bởi những dòng lan kiếm (dòng lan lá to hình giống chiếc kiếm) mới sưu tầm được tại những vùng rừng sâu núi thăm của Việt Nam và các nước Đông Nam châu Á.

Trước nhu cầu thị trường địa lan càng phát triển, mở rộng, các nhà khoa học đầu ngành trồng trọt ở nước ta cũng chẳng thể thờ ơ, nếu như không nói rằng, nhu cầu đó cũng tạo lập một cơ hội tốt cho họ thể hiện sự tinh nhạy và tài năng chuyên môn. Bắt đầu từ năm 1997, Trung tâm Hoa cây cảnh thuộc Viện di truyền nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành đề tài khoa học nghiên cứu phát triển các loài hoa địa lan thơm Hà Nội. Chị Phạm Thị Liên là người được giao chuyên nghiên cứu về đề tài nhân giống vô tính trong phòng thí nghiệm để đưa ra trồng đại trà các giống lan quý cổ truyền dân tộc. Đó chính là đề tài bảo vệ luận án tiến sĩ của chị hoàn thành tốt đẹp vào năm chuyển giao thế kỷ, năm 2000. Tuy nhiên, đề án cũng chỉ dừng ở một vài giống lan thông dụng như lan

Hạc đính, lan Trần mộng chứ chưa đạt số lượng như mong muốn với những giống lan quý hiếm của cha ông.

Kể thêm hầu quý vị một câu chuyện nhỏ. Tôi vốn gắn bó với làng trẻ mồ côi SOS Hà Nội tại Mai Dịch từ khi làng trẻ mới hình thành vào đầu thập niên cuối cùng của thế kỷ trước, thấm thoắt đã hơn ba mươi năm. Ngôi nhà Hoa Phượng trong làng trẻ là nơi tôi nhận đỡ đầu một cháu nhỏ mồ côi cho nên với tôi là thân thiết nhất. Người mẹ của nhà Hoa Phượng tên là Ngô Thị Sinh. Mẹ Sinh sinh năm Ất Mão 1975. Chị cũng như tất thảy các bà mẹ SOS, đều là những người phụ nữ tình nguyện không xây dựng hạnh phúc lứa đôi để trọn đời cống hiến cho sự nghiệp nuôi dưỡng trẻ mồ côi cơ nhỡ. Mẹ Sinh không chỉ nuôi dạy các con rất khéo léo mà còn có tài trồng rau quả cho các con ăn hằng ngày và chăm hoa cảnh trang trí khuôn viên quanh năm rất giỏi. Tại mặt trước ngôi nhà Hoa Phượng, mẹ Sinh trồng đầy phong lan, địa lan. Mùa xuân đến, hoa nở rạng rỡ, hương thơm ngào ngạt. Nói thì bảo buồn cười, nhưng trong đó tôi rất thích mấy khóm địa lan vào hạng bình dân nhất, giới sành chơi lan chả bao giờ đoái hoài đến, nhưng vẫn nở hoa tím ngát, đẹp đến nao lòng, ấy là hoa Chu đinh lan. Mẹ Sinh thấy mỗi lần tôi vào làng trẻ cứ mê mẩn ra ngắm vào trông nên vồn vã:

- Chu đinh lan thường lắm chị ạ. Trồng cho đẹp mắt thôi. Để em gửi biếu chị mấy giò lan thơm chị chơi nhé!

- Ấy không! Chị đi suốt, có thời gian đâu mà chăm hoa. Nó lụi đi thì phí lắm em ạ. Thi thoảng chị vào chơi với mấy mẹ con và xem ngắm là vui rồi. Chăm hoa phải có tay, chứ có phải ai muốn là cũng được đâu.

Những thú chơi cổ truyền thanh lịch hào hoa cứ dần dần sống lại, chẳng cần đến một cuộc hô hào vận động rầm rộ tốn kém nào, phải chăng chúng cũng chính là những tín hiệu có giá trị đích thực từ một cuộc sống vật chất và tinh thần ngày một sung túc và hài hòa của người Hà Nội hôm nay./.

Nội dung Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Dư âm trống hội làng Mai

Dư âm trống hội làng Mai

"Dư âm trống hội làng Mai" là nhan đề bài Podcast hôm nay, bài viết của tác giả - nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, nguyên Trưởng ban Văn hóa - Xã hội, Đài PT - TH Hà Nội. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Sau mỗi keo đấu vật thờ Thánh, có tính chất thao diễn tượng trưng, màn "xe đài" ông lão Tư Đẩy chỉ còn có thể chạy quanh bên xới, cổ vũ cho các trai đô trẻ trong làng. Nhưng đã mấy năm rồi, trai đô làng Mai không giật được giải của chính hội làng mình.

Mỗi năm sau trận chung kết, nhìn các trai đô thiên hạ hùng dũng giật giải, mình trần, khố đỏ lễ tạ thánh hoàng làng, lòng lão đô vật oai hùng một thời không khỏi thoáng chút ngậm ngùi, xót xa...

Trong sâu thẳm tâm tư người Mai Động vẫn mong sẽ đến một ngày nào đó trai làng Mai lại có thể giật giải ở chính hội vật của làng Mai.

Tùng tùng tùng tùng... Những hồi trống hội làng Mai Động rung lên trong không trung. Lá cờ đại trước cổng đình bay như lượn sóng trong gió xuân. Khói nhang thơm hòa trong màn sương sớm bảng lảng giăng đầy lối ngõ. Đầu xuân sớm, khi cây đa đầu đình vừa kịp trổ lứa búp lộc non tơ đầu tiên mịn màng như nhung lụa thì những tiếng trống hội làng Mai đã trỗi dậy vang động khắp cả một vùng phố thị, xóm làng rộng lớn. Gần 2000 năm đã qua, những hồi trống hội làng Mai đã trở thành những lời mời gọi vô cùng linh diệu cho con dân làng Mai từ tứ xứ trở về quần tụ nơi chốn tổ trong ngày hội vật Mai Động truyền thống từ xa xưa. Ca dao cổ Hà Nội đã có câu: Thanh Trì có bánh cuốn ngon / Có lò đấu vật, có con sông đào.

Ngày mùng bốn tháng Giêng âm lịch hàng năm chính là ngày khai hội của làng quề Mai Động đã bao đời nay. Hội làng Mai Động có những màn đấu vật đã từng nổi danh khắp xa gần.

Ông lão Tư Đẩy năm ấy tuổi đã ngoại bẩy mươi, tóc trắng như cước. Song nhìn những đường bước cùng với những mảng miếng tren xdi vat cia ong lac, thi cac do tre trai tu6i doi muci cũng thế mà học theo. Ông lão Tư Đẩy chính là một trong những đại diện sáng giá của làng vật Mai Động vào những năm giữa của thế kỷ XX. Nhưng theo quy luật của tạo hoa, không ai có thể trẻ mãi.

Hàng chục năm nay, ông lão Tư Đẩy chỉ có thể thi đấu thao diễn tượng trưng trong những keo vật thờ Thánh, keo vật khai hội mà thôi. Keo vật thờ mang tính nghi lễ và ước lệ cao với động tác đầu tiên gọi theo lối cổ là múa Xe đài bái Thánh.

undefined
Trống hội làng Mai

- Già rồi, lão chỉ lấy chén rượu làm vui thôi. Chứ mà thời trai trẻ thì lão đánh bay hết. Tư Đầy làng Mai chưa có thua keo nào bao giờ. Nhưng mấy năm nay thì chịu rồi. Nhường cho lới trai trẻ thôi.

Mai Động, xưa là hương Cổ Mai là vùng đất rộng lớn nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long, thuộc huyện Thanh Trì cũ.

Tương truyền, vào những năm đầu công nguyên, có một người trai đô gốc ở xứ Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa) tên là Tam Trinh, người họ Nguyễn, ra nơi đây mở lò luyện võ cho trai đinh trong vùng. Mùa xuân năm 40, theo lời hiệu triệu của Hai Bà Trưng, Đô Trinh đã dẫn đầu 3000 trai đô trong vùng lên đường diệt giặc, góp công thu lại giang sơn gấm vóc. Hội vật làng Mai tương truyền cũng khởi nguồn từ ấy, trải đã kể gần hai ngàn năm. Lễ khai hội nhằm ngày mồng bốn tháng giêng, khi hương xuân, vị tết còn nồng nàn trên từng ngõ xóm. Lễ hội diễn ra tại sân đình Mai Động, nơi mà dân làng lập làm nơi thờ tự Đức Thánh Tam Trinh là thành hoàng tối linh, tối hảo của muôn đời.

Mở đầu dịp hội xuân làng Mai Động bao giờ cũng là lễ rước kiệu của Đức Thánh Tam Trinh từ nghè Mai Động ra đình Mai Động.

Tiếp đó là lễ dâng hương trang trọng và linh thiêng để tưởng nhớ công ơn của Đức Thánh với bà con dân thôn và khắp cả một vùng đất rộng lớn lân cận.

Lệ vật Mai Động có hai vai trọng tài đó là trọng tài trống và trọng tài sới.
Cuộc thi đấu sẽ bắt đầu khi trọng tài trống nổi hồi tróng khai hội. Tiếp đó, trọng tài sới sẽ giữ phần chỉ huy trận đấu, phân định thắng thua.

Sới vật được mở ngay trước sân đình, mở đầu cuộc thi bao giờ cũng là màn đấu vật do các lão đô vật kì cựu đã từng nhiều năm thi đấu và giật giải trong các kì hội làng thể hiện gọi là keo vật thờ

Thánh. Ngày đầu tiên trong cuộc thi đấu vật Mai Động, ngày 4 tháng Giêng bao giờ cũng dành cho các đô vật tuổi thiếu niên và nhi đồng thể hiện tinh thần trân trọng những mầm non tài năng của quê hương. Tuy nhiên, không khí thi đấu bao giờ cũng rất sôi động. Từ những giải đấu thiếu niên này biết bao thế hệ trai đô Mai Động đã trưởng thành và giành giải ở các cuộc thi dành cho các đô vật trưởng thành lừng danh toàn quốc. Ngày thứ hai, mùng 5 và ngày thứ ba, mùng 6 tháng Giêng là dành cho các cuộc thi đấu của các đô vật trưởng thành. Tự bao năm qua, sới vật Mai Động không chỉ là nơi hội tụ của các trai đô, lão đô trong làng mà còn thu hút danh tài từ tứ chiếng đến tỉ thí, so tài. Lệ thi vật dân gian truyền thống Mai Động không quy định cân nặng hay tuổi tác, chỉ là các trai đô trên 18 tuổi trở lên là có thể thách đấu và nhận lời thách đấu.

Sới vật sân đình Mai Động chính là nơi các trai đô thể hiện bằng hết các miếng võ dân gian cổ truyền đã được rèn tập suốt bao năm tháng. Không khí của các cuộc thi đấu cứ theo thời gian mà hun máu đến mức cao độ và buổi thi đấu kết hội vào chiều ngày 6 tháng Giêng. Lệ làng Mai Động quy định, mỗi đô vật sẽ thi đấu ba keo, thời gian mỗi keo không quy định dài ngắn. Cứ hẽ thắng thua rõ ràng là kết thúc. Có khi keo đấu chỉ bắt đầu vài mươi giây đã kết thúc, có khi keo đấu kéo dài vài giờ đồng hồ mà vẫn bất phân thắng bại. Cựu đô vật Nguyễn Đoàn Thụy, người làng Mai Động còn nhắc nhớ:

- Sau ba keo đấu liên tục, hễ đô vật nào thắng cả ba đối thủ khác nhau thì đô ấy được giải. Nhưng mà trong lịch sử hội vật Mai Động có nhiều năm trời đã sập tối mà cuộc đấu vẫn dằng dai quyết liệt cho nên vẫn chưa phân định được giải. Vậy là các bô lão trong làng đành đi đến quyết định là chia đôi giải.

Những năm gần đây, giải thưởng cao nhất hầu như đều được trao cho các trai đô đến từ các sới vật ngoài làng Mai Động. Cụ Triệu Văn Hữu người làng Mai Động bày tỏ niềm tiếc nuối:

- Giải vật thờ Thánh bao giờ cũng phải trung thực, công minh.

Ai xứng đáng thì được nhận giải vào bái Thánh. Nhưng mà trước đây trai đô Mai Động thường khó để trai đô thiên hạ giành giải như mấy năm gần đây. Nghĩ cũng có chút chạnh lòng.

Khác với mọi hôm, lão đô Dũng hôm nay dậy từ rất sớm, lũ cháu nhỏ đang đợi ông dẫn ra đình dự hội, ngày hội mà chúng hằng mong mỏi suốt một năm ròng. Bà nhà biết ý, đã sắp cho ông một bộ quần áo đẹp. Chẳng gì thì bốn mươi năm trước, khi ông còn là một trai đô trẻ giỏi giang trong làng, sau lớp ông Tư Đẩy.

Đã có biết bao cô gái làng Mai từng phải lòng anh đô Dũng, rồi rốt cùng chỉ mình bà được theo ông về làm bạn. Thế mà, ra đến đám hội, ông đã hầu như quên mất có bà đi theo. Ông lao vào không khí đám hội bừng bừng, sôi sục. Chuyện đó là lẽ thường ở làng Mai này, khi mà ở làng, máu mê vật dường như lúc nào cũng chảy rừng rực trong huyết quản mỗi người đàn ông. Hào hứng xem lũ trẻ trong làng thi đấu, ông Dũng như sống lại cả một thời thơ ấu mê say thuở nào. Nhưng lũ trẻ làng Mai bây giờ thi đấu với nhau xem ra chỉ có chung một quyết tâm chiến thắng bằng sức lực, mà chẳng hề biết đến những mảng miếng, lệ luật võ vật dân tộc cổ truyền. Kể cũng tội nghiệp, chúng nào có được học hành luyện tập đến nơi đến chốn bao giờ đâu.

Lệ làng từ xa xưa trước ngày vào hội từ những lò vật nhỏ nằm rải rác trong khắp các thôn xóm đã diễn ra những cuộc đấu tập rèn luyện những miếng võ vật cổ truyển của làng Mai cho các đô vật, đặc biệt là các đô vật trẻ tuổi lớp cháu con. Rồi cứ tiếp nối như thế ông truyền cho cháu, cha dạy cho con, anh rèn cho em. Gia đinh, họ hàng và xóm giềng động viên, cổ vũ nhiệt liệt, đó chính là một trong những lề lối để giữ lại truyền thống thượng võ của cha ông xưa và rèn luyện sức khỏe cho người dân trong cả làng. Đó cũng chính là những cuộc rèn tập để chờ đến các cuộc đua tài hội xuân làng Mai Động. Nhưng nếu chỉ nhìn bề ngoài, khó ai biết được những thăng trầm của lò vật làng Mai. Ông Dũng than thở:

- Ngày xưa trai trẻ chúng tôi ăn có lúc chả đủ no nhưng luyện tập thì hăng hái lắm. Bây giờ đám trai trẻ chúng nó cứ say mê những trò gì chả biết. Đất làng vật mà chả mấy ai còn tập tành rèn luyện như ngày xưa.

Nếu như ông lão Tư Đẩy là đại diện cho lớp đô vật làng Mai vào những năm 50, ông Dũng là đại diện cho thế hệ kế tiếp ở thập kỷ 60, thì anh chàng trọng tài của trận đấu hôm ấy, anh đô Toàn là một trong những người đại diện cho lớp trai đô của làng vào thập niên 80 của thế kỷ XX. Anh đô Toàn, người nghềnh ngàng cao lớn chẳng khác nào pho tượng ông tướng cửa đình. Giọng nói nghe ồm ồm, ra dáng con nhà nòi võ vật. Trong ký ức của anh, làng Mai chưa bao giờ không sẵn những đô tài nổi danh, đặc biệt là những đô vật trước anh một thế hệ, thế hệ của thập niên 70, thế kỷ XX với biết bao ngón nghề mà anh từng khâm phục. Những chuyện đó như cũng đã lùi xa vào dĩ vãng, mỗi khi nhớ tới, là một lần lòng kiêu hãnh lại xen chút ngậm ngùi:

- Ví dụ có những miếng sườn nhanh, mà người ta gọi là sườn cóc. Nghĩa là vào sới có thể vật ngã đối thủ trong tích tắc. Lại có những miếng như là miếng sườn quỳ. Khi bị đối phương đánh ngã, ngã quỳ trên sới rồi mà vẫn có thể dùng miếng sườn quỳ ấy quật ngã lại đối phương. Lại có khi đã ở cuối thế lồng tay tư, sắp gục mà dùng được miếng vật, gọi là miếng moi, quay ngang đánh ngã đối phương. Nhưng những miếng vật hay như thế, bây giờ hiếm thấy ở lớp trẻ.
Có nhiều yếu tố khiến cho phong trào vật ở Mai Động chỉ dừng ở bề nổi, chỉ dừng ở vẻ rực rỡ hình thức trong lễ hội, mà không đi vào chiều sâu của việc rèn luyện thể dục, thể thao, bảo vệ sức khỏẻ, duy trì tinh thần thượng võ. Trước hết là do thiếu các điều kiện luyện tập như sân bãi, kinh phí. Như nhiều làng xã ven đô, làng Mai Động, không mấy chốc sẽ trở thành phố. Dấu ấn văn hoa làng quê xưa cũ đang dần phôi pha. Những tập tục cổ truyền hầu như cũng đang sắp lạt phai theo năm tháng, hoặc bị chìm lấp dần trong nhịp sống đô thị hiện đại. Nhưng ngẫm lại thì nguyên nhân dẫn đến sự mai một dần của phong trào luyện tập võ vật thường xuyên ở Mai Động, chính là thiếu một sự quan tâm, động viên, và thiếu trách nhiệm tổ chức, tập hợp của chính quyền và các cơ quan chức năng hữu quan, như ngành văn hóa thông tin và ngành thể dục thể thao.

Có một mảnh vườn nằm sâu giữa làng trước đây từng là một xới luyên vật có hàng chục trai đô của làng góp mặt. Nhưng giờ đây, nó hầu như đang bị bỏ hoang. Bà Lê Thị Loan, một người phụ nữ có ông chồng và cả hai đứa con trai đều mắc máu mê vật, đang dùng chiếc chổi tre quét sàn sạt trên mảnh vườn lỏng chỏng mấy tay tạ cũ gỉ cùng mấy món đồ nghề luyện tập thể dục mốc thếch:

- Mấy năm trước, bố con chúng cũng gọi được thêm mấy đô trẻ trong làng đến tập luyện. Tập xong, có mùa giành giải nhất đấy.

Thế nhưng mà rồi phường phố chẳng có gì quan tâm động viên, duy trì, nên bố con chúng cũng nản. Mấy năm rồi toàn là người thiên hạ về giật giải của làng thôi. Trai làng chỉ vật ở vòng ngoài, không mấy ai vào đến vòng kết.

Nguyễn Văn Trường là một chàng trai Mai Động cách đây ba bốn năm đã từng giật giải hội làng. Không hiểu sao, có lúc ma đưa lối, quỷ dẫn đường, chàng trai đô đã sa vào làn khói ma tuý đây huyễn hoặc. Tại Mai Động, đó không phải là trường hợp đáng buồn duy nhất. Bây giờ, Trường đang trong giai đoạn cai nghiện tại nhà, khó khăn và khổ sở biết mấy. Có lẽ, chỉ có trò luyện vật cho lũ trẻ là niềm vui bé nhỏ của chàng trai. Liệu rồi anh có trở lại được phong độ của một thời không xa lẫy lừng trên xới vật? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời.

Thiếu đi một lớp trai đô thời hiện tại, đó là một thiệt thời cho đất làng Mai. Thế nhưng đối với những con người giàu tâm huyết trong làng, thì việc bắt đầu trở lại chưa bao giờ lại có thể coi là muộn. Nhất là khi lớp trẻ mê vật trong làng, cũng hàng trăm đứa.

Chúng mê từ tiếng trống hội làng mà mê sang những mảng miếng thần tình của cha ông. Hướng cho chúng vào một niềm mê say lành mạnh, tức là đã góp phần giúp cho lớp trẻ có điều kiện lánh xa những tệ nạn xã hội nguy hiểm như cờ bạc, nghiện ngập, những tệ nạn đang lây truyền khá là mạnh mẽ ở ngay chính mảnh đất văn hiến lâu đời này. Ông lão đô vật Dũng ở tuổi ngoại lục tuần vẫn tràn ngập hy vọng ở lớp trẻ. Giữa những buổi luyện tập, ngẫu hứng, ông thường kể cho chúng về một thời hào sảng, trẻ trung năm nào:

- Ngày xưa, khi ông còn trai trẻ, dịp lễ hội mùa xuân, thường nhóm bạn đi vật hội khắp các làng xã mấy tỉnh thành, thắng thua đều háo hức lắm. Đến dịp hội Gióng mồng chín tháng Tư âm lịch mới coi như kết thúc. Con người ta qu nhất là sức khoẻ. Có sức khoe mới có thể làm ra của cải, gây dựng cuộc sống ấm no.

Trong đám hội làng Mai Động mồng 4 tới mồng 6 tháng Giêng, người ta vẫn thường bắt gặp rất nhiều gương mặt già trẻ gái trai từ khắp nơi về tụ hội. Đặc biệt là người dân trên các phố Hà Nội.

Một ông lão mặc bộ com lê màu ghi sáng, đội chiếc mũ phớt sang trọng tươi cười xưng tên là Lê Văn Hùng, nhà ở số 71 phố Nguyễn Lương Bằng. Tuy đã ở tuổi ngoại bẩy mươi nhưng chưa năm nào ông bỏ một mùa hội làng Mai. Mỗi lần dự hội, ông như thấy mình thêm một lần trẻ lại:

- Nghe tiếng trống thúc là thấy như mình cũng muốn lao vào xới vật. Người cứ như uống được liều thuốc tiên. Tôi còn sống còn mong đến mùa xuân, còn đi xem hội vật làng Mai. Thật đấy.

Còn mấy cô nữ sinh trung học, đang còn khoác nguyên ba lô sách vở trên vai, những gương mặt sáng ngời và những đôi mắt lấp lánh đang háo hức chờ đón điều gì sau hồi trống kết hội? Nguyễn Thanh Mai, nữ sinh trường trung học phổ thông Minh Khai rất hồ hởi:

- Chúng em vừa tan buổi học đầu xuân mùng sáu tết là về ngay đây còn kịp xem màn chung kết. Nghe trống giục rất phấn khích. Giống như tham gia trò chơi cảm giác mạnh. Xem ai thắng giải chúng em vào xin chụp kiểu ảnh đưa FB cho oách ạ.

Khoảng trên chục năm trở lại đây, luồng gió đổi mới trong nền kinh tế xã hội của thành phố đã thổi một luồng sinh khí mạnh mẽ làm sống dậy những truyền thống văn hóa tinh thần tốt đẹp trong quá khứ. Truyền thống thượng võ lâu đời của dân làng Mai cũng trở lại rạng rỡ cùng những kỳ hội làng mùa xuân.

Vợ chồng anh đô Toàn dù hàng ngày phải lao tâm lăn lộn chốn thương trường vì cuộc mưu sinh thường nhật, nhưng mỗi dịp tết đến, xuân về, không bao giờ quên mua một cành đào thật lớn dâng lên ban thờ tổ. Đó chính là ý nguyện của ông nội anh thưở sinh thời, khi cụ còn là một đô vật nổi danh hàng đầu của làng Mai những năm trước Cách Mạng Tháng Tám. Bởi vì hội làng Mai mở đúng dịp Tết Nguyên đán, cùng với mùa đào hoa rực rỡ. Và sâu xa trong ý nguyện đó, là ước mong cho truyền thống thượng võ của người làng Mai mãi mãi rỡ ràng, cho mãi mãi hội làng Mai xứng danh trong nỗi nhớ và niềm tự hào không chỉ của người làng Mai.

Sau mỗi keo đấu vật thờ Thánh, có tính chất thao diễn tượng trưng, màn xe đài ông lão Tư Đẩy chỉ còn có thể chạy quanh bên xới, cổ vũ cho các trai độ trẻ trong làng. Nhưng đã mấy năm rôi, trai đô làng Mai không giật được giải của chính hội làng mình. Mỗi năm sau trận chung kết, nhìn các trai đô thiên hạ hùng dũng giật giải, mình trần, khố đỏ lễ tạ Thánh hoàng làng, lòng lão đô vật oai hùng một thời không khỏi thoáng chút ngậm ngùi, xót xa... Trong sâu thẳm tâm tư người Mai Động vẫn mong sẽ đến một ngày nào đó trai làng Mai lại có thể giật giải ở chính hội vật của làng Mai.

Và anh độ Toàn cũng vậy, vẫn khắc ghi trong dạ một nỗi buồn sâu thẳm. Thế nhưng khi tiếng trống hội làng bắt đầu trỗi dậy, anh lại mê say lao vào vị trí trọng tài mà dân làng giao phó. Mà phẩm chất cao đẹp nhất của người trọng tài là công bằng và phân minh, trung thực và vô tư.

Kể từ khi được phục hồi, danh tiếng của hội vật Mai Động ngày càng trở nên sáng giá thu hút rất nhiều danh tài tứ xứ, kể cả các tuyển thủ trong đội tuyển vật quốc gia về tranh tài và đoạt giải.

Người được giải sẽ được trao phần thưởng lên tới hàng triệu đồng do dân làng Mai Động đóng góp và được mang nguyên trang phục thi đấu đơn sơ vào lễ tạ Đức Thánh hoàng làng. Tuy nhiên, trong sâu thẳm tâm tư người Mai Động vẫn mong sẽ đến một ngày nào đó trai làng Mai lại có thể giật giải ở chính hội vật của làng Mai. Và anh đô Tài cũng như biết bao những cựu đô vật của làng Mai, vẫn hằng gửi gắm bao hy vọng vào lớp đô vật tý hon của làng. Chờ tới những mùa hội làng xuân mới, sẽ lại có lúc, anh kiêu hãnh giương cao cánh tay của trai đô làng Mai trong niềm vui chiến thắng.
Tùng tùng tùng tùng... Tùng tùng tùng tùng... Nhớ sao những hồi trống vật làng Mai.

Nội dung Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Giải mã bí mật gia tộc Rothschild khuynh đảo thế giới

Giải mã bí mật gia tộc Rothschild khuynh đảo thế giới

“Giải mã bí mật gia tộc Rothschild khuynh đảo thế giới” là nhan đề bài viết theo Chuyên trang Hồ sơ sự kiện được đăng tải trên Tạp chí Cộng sản, là bài Podcast mà chúng tôi muốn gửi đến quý vị ngày hôm nay. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Gia tộc Rothschild là “triều đại” ngân hàng - tài chính của các tỷ phú gốc Do Thái giàu hàng đầu thế giới. Báo chí gọi Rothschild bằng những cái tên khác nhau như “chủ của các ngân hàng trên thế giới”, “hoàng đế tài chính của người Do Thái” hoặc “Nhà nước ngầm” đang nắm quyền kiểm soát thế giới và tài trợ cho các cuộc chiến tranh, xung đột và “cách mạng màu” để lật đổ các chính phủ không đáp ứng lợi ích của họ.

Lịch sử hình thành và phát triển của Rothschild

Tên tuổi nhiều gia tộc tài phiệt của người Do Thái gắn liền với thành phố Frankfurt on Main của nước Đức. Gia tộc Rothschild cũng không phải là ngoại lệ. Từ cuối thế kỷ XVII, Frankfurt on Main là trung tâm tài chính quan trọng nhất ở nước Đức và có quan hệ thương mại chặt chẽ với các thành phố lớn khác của châu Âu.

Ở Frankfurt on Main có sàn giao dịch chứng khoán lâu đời hàng đầu thế giới. Từ thế kỷ XVI, các giao dịch lớn bằng cổ phiếu đã được thực hiện tại các hội chợ Frankfurt. Đến thế kỷ XVIII, người Do Thái gần như độc quyền buôn bán kim loại quý, kim cương và các loại hàng xa xỉ ở châu Âu, mang lại cho họ đòn bẩy ảnh hưởng đối với tầng lớp quý tộc.

Sự hiện diện của người Do Thái trong hệ thống tài chính châu Âu thu hút sự chú ý đặc biệt sau cuộc Chiến tranh Napoleon (1803 - 1815) bởi sau cuộc chiến này đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của gia tộc Rothschild.
Người sáng lập gia tộc Rothschild là Mayer Amschel, sinh năm 1743 tại khu ổ chuột dành cho người Do Thái ở Frankfurt on Main. Cha của Mayer Amschel là Amschel Moses Bauer - người quản lý một văn phòng đổi tiền được trang trí bằng một biểu tượng dưới dạng chiếc khiên màu đỏ khắc hình ảnh con đại bàng được mạ vàng.

Vì thế, về sau Mayer Amschel chọn từ Rothschild để đặt tên cho dòng họ của ông, có nghĩa là “chiếc khiên màu đỏ”. Từ đó, tên của Mayer Amschel được đổi thành Mayer Rothschild.

Năm lên 12 tuổi, Mayer Rothschild đến thành phố Hanover và bắt đầu học việc tại ngân hàng Oppenheimer - một gia tộc ngân hàng của người Do Thái. Khi trở về Frankfurt on Main, Mayer Rothschild bắt đầu sự nghiệp bằng hoạt động kinh doanh tiền đúc từ kim loại quý và đồ cổ, chủ yếu là huân, huy chương cổ.

Vì vậy, có giả thuyết cho rằng, tài sản kếch sù của gia tộc Rothschild bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh tiền đúc. Từ năm 1764, Mayer Rothschild bắt đầu cung cấp tiền xu và vàng cho Hoàng đế William IX và Bá tước Hesse-Kassel - một trong những vị quân chủ giàu nhất châu Âu thời bấy giờ.

Từ năm 1769, Mayer Rothschild trở thành chủ một ngân hàng tư nhân và là nhà cung cấp tài chính chủ yếu cho gia tộc Hesse-Kassel.

Bộ luật gia tộc Rothschild do Mayer Amschel soạn thảo Mayer Rothschild là chủ nhân đầu tiên của gia tộc Rothschild. Để duy trì và phát triển gia tộc, Mayer Rothschild soạn thảo bộ luật gia tộc gồm 5 điều.

Điều 1, chỉ giao quyền quản lý doanh nghiệp cho các thành viên trong gia tộc. Chỉ có nam nhân mới được tham gia kinh doanh và chỉ có nam nhân trực hệ mới có quyền được thừa kế.

Con trai cả trong các gia đình của gia tộc là chủ nhân của gia đình có quyền ra quyết định trên cơ sở đồng thuận của các thành viên khác.

Điều 2, nam nhân chỉ được phép kết hôn với chị em họ thế hệ thứ hai để tài sản tích luỹ được và tên tuổi chỉ thuộc về gia tộc và phục vụ cho sự nghiệp chung của gia tộc. Nữ nhân chỉ được phép kết hôn với giới quý tộc và vẫn duy trì đức tin của mình là Do Thái giáo.

Điều 3, không được phép kê khai tài sản của gia đình, cũng không được tiết lộ quy mô tài sản, kể cả trong trường hợp phải ra hầu tòa. Tranh chấp giữa anh em chỉ được giải quyết trong nội bộ gia đình.

Điều 4, các thành viên trong gia tộc sống hòa thuận, tin tưởng và yêu thương nhau, cùng chia sẻ lợi nhuận một cách bình đẳng.

Điều 5, các thành viên gia tộc duy trì lối sống khiêm tốn, tiết kiệm bởi đây là một trong những yếu tố làm nên sự giàu có.

Điều 6, quyền lãnh đạo gia tộc được trao cho thành viên nào có năng lực hơn tất cả trong việc làm giàu cho gia tộc mà không phụ thuộc vào thâm niên hành nghề hay tuổi tác. Nhờ sự tập trung quyền lực này mà gia tộc Rothschild đã vượt qua mọi cuộc khủng hoảng trên thị trường chứng khoán.

Các thành viên thế hệ đầu tiên của gia tộc Rothschild

Mayer Rothschild là người đặt nền móng cho khối tài sản khổng lồ của Rothschild và có 5 con trai được đặt tên là Amschel, Solomon, Nathan, Karl, James, tất cả đều mang họ Rothschild.

Chính các con trai của Mayer Rothschild đã nhân số tài sản của gia tộc lên gấp hàng nghìn lần, trong đó có 2 người kiểm soát 5 ngân hàng ở các thành phố lớn nhất châu Âu. Amschel Rothschild - con trai cả của Mayer Rothschild - đứng đầu ngân hàng ở Frankfurt on Main năm 1812, sau khi cha ông qua đời.

undefined
Gia đình Rothschild.

Về sau, do Amschel Rothschild không có con nên sau khi ông qua đời, quyền quản lý ngân hàng được chuyển cho các cháu trai của ông. Nathan Rothschild mở một doanh nghiệp ở London - nơi ông thành lập ngân hàng N. M. Rothschild & Sons vào năm 1811. Năm 1814, ngân hàng này tài trợ cho cuộc chiến chống lại Napoleon.

Năm 1816, Solomon Rothschild mở một ngân hàng ở Vienna và là người thành lập chi nhánh Rothschilds ở Áo. Ông là nhà công nghiệp và là chủ đất lớn nhất ở Áo, sở hữu các mỏ than ở Vitkovica và một nhà máy sản xuất nhựa đường ở Dalmatia.

Trái với bộ luật của gia tộc, Nathan Rothschild kết hôn với Chana Cohen - con gái của tỷ phú Barent Cohen và là người Do Thái giàu nhất châu Âu thời bấy giờ. Con trai Nathan Rothschild là Lionel Rothschild tiếp tục mở rộng đế chế tài chính của gia đình. Một chi tiết khá thú vị là Karl Marx - người sáng lập chủ nghĩa Marx xuất thân từ gia đình bên ngoại của Barent Cohen.

Chính gia tộc Rothschild xây dựng đế chế tài chính ở Anh, phần lớn dựa vào vị thế của các nhà tài phiệt gốc Do Thái có quan hệ họ hàng thân thiết. Gia tộc Rothschild nhanh chóng phát huy ảnh hưởng rất lớn trong giới tài chính Anh. Chính Nathan Rothschild là nhà tài trợ chủ yếu để thành lập Ngân hàng Anh trong 2 năm 1825 - 1826.

Năm 1885, con trai của Nathan Rothschild là Nathaniel Rothschild trở thành huân tước và là người Do Thái đầu tiên được gia nhập câu lạc bộ các huân tước của nước Anh. Thủ tướng Anh David Lloyd George gọi Nathaniel Rothschild là người đàn ông quyền lực nhất nước Anh vào năm 1909.

Karl Rothschild - con trai thứ tư của Mayer Rothschild - mở ngân hàng ở Naples và trở thành người đứng đầu chi nhánh Naples của gia tộc Rothschild và trở thành chủ ngân hàng của Giáo hoàng và Vương quốc xứ Sicilia.
Con trai út James Rothschild khởi đầu kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng ở Paris và thành lập công ty kinh doanh De Rothschild Freres. Ông là một trong những nhà tài trợ cho các nhà cách mạng thế kỷ XIX, trở thành đồng minh của Mỹ và là bạn thân của Tổng thống Abraham Lincoln.

James Rothschild từng tuyên bố: “vũ khí đích thực không được cất giữ trong kho trang bị của các bộ trưởng chiến tranh ngu ngốc mà là trong ngân hàng của tôi”.

Tài sản của Rothschild

Gia tộc Rothschild tuân thủ rất nghiêm ngặt các điều luật của triều đại này và không tiết lộ quy mô tài sản của mình. Theo ước tính thận trọng của giới phân tích tài chính, tính đến năm 2024 tài sản của gia tộc Rothschild có thể vượt quá 3.500 tỷ USD.

Ngoài khối tài sản khổng lồ bằng USD này, gia tộc Rothschild còn sở hữu khối tài sản vô hình có giá trị không kém. Đó là tài nguyên thông tin. Từ những năm đầu thập niên thế kỷ XIX, gia tộc Rothschild đã tạo ra mạng lưới đại lý và bộ máy thông tin nhanh nhạy nhất thế giới.

Họ là những người đầu tiên biết được mọi chuyện đang diễn ra ở thủ đô các nước trên thế giới và thu về bội tiền trên sàn giao dịch chứng khoán. Gia tộc Rothschilds thu thập thông tin về các đối thủ cạnh tranh trên thị trường bằng mọi cách mà pháp luật không cấm.

Nathan Rothschild từng tuyên bố: “ai sở hữu thông tin sẽ kiểm soát thế giới”. Chính Nathan Rothschild là người biết trước Napoleon sẽ đại bại ở trận Waterloo. Với thông tin này, ông kiếm được 40 triệu bảng Anh trên sàn giao dịch chứng khoán.

Gia tộc Rothschilds ở Nga

Từ thế kỷ XIX, gia tộc Rothschild theo đuổi mục tiêu chính ở Nga là thiết lập quyền kiểm soát các mỏ dầu ở Baku. Từ năm 1886, Ngân hàng Rothschild Brothers sở hữu cổ phần của Công ty thương mại và công nghiệp dầu mỏ Biển Đen - Caspian và bắt đầu tham gia tích cực vào việc phát triển ngành công nghiệp dầu mỏ ở vùng Caucasus. Rothschild từng tài trợ cho các dự án xây dựng tuyến đường sắt Baku - Batumi.

Từ năm 1887, họ độc quyền vận chuyển dầu mỏ từ Azerbaizan. Đến năm 1890, Rothschild kiểm soát 42% lượng dầu xuất khẩu từ Baku. Công ty dầu mỏ Rothschild thuê tàu chở dầu để vận chuyển qua kênh đào Suez và kiểm soát dầu từ Baku tới thị trường trên khắp các châu lục. Gia tộc Rothschild mua tàu chở dầu trên biển Caspian và xà lan chở dầu trên sông Volga.

Cuộc cách mạng năm 1905 ở Nga châm ngòi cho cuộc khủng hoảng trong ngành sản xuất dầu mỏ do các cuộc đình công, đốt phá các cơ sở sản xuất dầu, làm tê liệt hoạt động sản xuất và xuất khẩu dầu của Rothschild sang châu Âu.

Năm 1912, dự đoán trước cuộc cách mạng sẽ bùng nổ vào năm 1917, Rothschild quyết định ngừng kinh doanh dầu mỏ ở Nga và bán tất cả tài sản ở Nga cho Công ty Royal Dutch Shell của Anh - Hà Lan.

Trong kỷ nguyên Chiến tranh lạnh, gia tộc Rothschilds từng tài trợ cho các dự án nhằm làm tan rã Liên Xô. Chính Rothschild tài trợ cho chiến dịch bí mật đưa Mikhail Gorbachev lên cầm quyền và tiến hành công cuộc “cải tổ” và phong trào ly khai trong các nước cộng hòa thuộc Liên Xô.

Vai trò của “nhà nước ngầm” Rothschild

Gia tộc Rothschild đứng đằng sau các dự án chính trị có ý nghĩa toàn cầu. Karl Marx và V. I. Lênin đều cho rằng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Là đế chế tài chính - ngân hàng lớn bậc nhất thế giới, Rothschild có ảnh hưởng đến các dự án chính trị có tác dụng làm thay đổi thế giới.

Dự án hình thành “nhà nước toàn cầu”. Gia tộc Rothschild chủ trương cùng với các tập đoàn tài phiệt Mỹ, đứng đầu là các tập đoàn tài phiệt Rockefeller và Morgan, thành lập “nhà nước toàn cầu” để giành quyền kiểm soát thế giới thông qua các công cụ tài chính.

Theo chủ trương đó, họ nỗ lực biến quá trình toàn cầu hóa sau Chiến tranh lạnh thành quá trình “Mỹ hóa thế giới” thông qua vai trò độc tôn của đồng USD, Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF).

Dự án xây dựng trật tự thế giới mới đơn cực sau Chiến tranh lạnh. Trật tự thế giới mới là chủ trương của Rothschild và các tập đoàn tài phiệt Mỹ thiết lập các công cụ xuyên quốc gia để giành quyền kiểm soát thế giới sau khi Liên Xô tan rã và trật tự thế giới đơn cực sụp đổ.

Dự án thành lập câu lạc bộ các tỷ phú vàng. Đây là câu lạc bộ của các nước phát triển kinh tế hàng đầu ở phương Tây với tổng dân số khoảng 1 tỷ người coi phần còn lại của thế giới chỉ là nguồn tài nguyên làm giàu cho họ.

Đối với giới tinh hoa của câu lạc bộ tỷ phú vàng, các nước phát triển cao ở phương Tây là “vườn địa đàng”, phần còn lại của thế giới là bãi thải công nghiệp, đồng thời duy trì quyền kiểm soát thế giới ngoài phương Tây trong trạng thái “hỗn loạn có kiểm soát”. Chính vì thế, chiến tranh, xung đột, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia,... bùng phát với tần suất ngày càng lớn.

Dự án tài trợ cho các cuộc “cách mạng màu”. Gia tộc Rothschild là nhà tài trợ chủ yếu cho các cuộc “cách mạng màu” và đảo chính vũ trang ở châu Phi, Georgia, Kyrgyzstan, Trung Đông, Ukraina và nhiều quốc gia khác.

Trong đó, gia tộc Rothschild chọn ra tổng thống và thủ tướng của nhiều nước và khi cần sẽ loại bỏ họ. Rothschilds cũng là nhà tài trợ cho tiến trình Brexit đưa Anh rút khỏi EU./.

Nội dung Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Chợ Bưởi một tháng sáu phiên

Chợ Bưởi một tháng sáu phiên

Cho đến bây giờ, ven nội thành cũ ở Hà Nội, chỉ còn có 2 chợ còn mang chút dấu ấn xưa cũ và còn giữ lệ họp theo phiên. Đó là chợ Mơ ở phía Nam , họp vào ngày 2, ngày 7 và chợ Bưởi ở phía Tây Bắc, họp vào ngày 4, ngày 9. Tuy nhiên, từ ngày cả 2 ngôi chợ này được xây dựng thành trung tâm thương mại, thì phong vị xưa cũng mai một đi nhiều, chỉ là còn chút nét xưa rơi rớt

Chợ Bưởi một tháng sáu phiên

Vào những năm cuối của thế kỷ 20, người Hà Nội cứ mở cửa ra đường, chưa cần đi tới chợ là đã có thể cùng lúc mua được hàng trăm loại mặt hàng khác nhau, từ mớ rau con cá cho đến cả áo quần, mũ nón. Nhưng vẫn có những thứ mà hễ cần đến, thì cứ nhất định phải đợi tới 6 ngày nhất định trong tháng âm lịch, đánh một chuyến lên chơi chợ Bưởi.

undefined
Chợ Bưởi.

Ông Nguyễn Văn Biên, người ở phường Dịch Vọng quận Cầu Giấy loay hoay trở đi trở lại bên mấy lồng thỏ con hồng hồng, xam xám. Vườn nhà rộng, lũ trẻ lại thích nuôi con gì là lạ, khác khác với gà vịt, ngan ngỗng, chó lợn. Vậy thì chỉ có con thỏ là hay nhất, lũ trẻ lại có thể chơi được với chúng. Nên hôm nay nhất định phải kiếm được một đôi.

Anh Hoàng Mạnh Hùng nhà ở trong khu phố cổ quận Hoàn Kiếm thì tha thẩn bên mấy hàng cây hoa cảnh, trên tay đã cầm sẵn một gốc hoa lý đỏ, thứ hoa leo giàn không rụng lá theo mùa, lại nở bông đúng vào dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền. Thứ cây này mới xuất hiện ở Hà Nội chừng mươi năm, gây trồng hơi khó, nên các hàng rong trên phố không sẵn. Chỉ có lên chợ Bưởi đặt hàng mới có. Cây ở chợ Bưởi vừa rẻ vừa hợp ý hơn hẳn ở các hàng rong trên phố.

Cho đến bây giờ, ở Hà Nội, chỉ còn có 2 chợ còn mang dấu ấn xưa cũ và còn giữ lệ họp theo phiên. Đó là chợ Mơ ở phía Nam thành phố, họp vào ngày 2, ngày 7 và chợ Bưởi ở phía Tây Bắc thành phố họp vào ngày 4, ngày 9.

Ca dao Hà Nội cổ có câu: Chợ Bưởi một tháng sáu phiên / Ngày tư, ngày chín cho duyên đèo bòng.

Ngày xửa ngày xưa, chợ Bưởi vốn đã được định vị ở nơi đây trên đất làng Yên Thái ở bờ Tây Nam của Hồ Tây. Chợ nằm ở trung tâm của vùng Kẻ Bưởi cũ, giữa một vùng làng nghề thủ công làm giấy, dệt lụa, dệt lĩnh, nấu nha, nuôi lợn, trồng dâu...

Kẻ Bưởi gồm gần chục làng mang tên Nghĩa Đô, Trung Nha, Vạn Long, Bái Ân, Yên Thái, Võng Thị, Trích Sài, Đông Xã, Hồ Khẩu...

Chợ Bưởi nằm bên chốn hợp lưu giữa 2 con sông tự nhiên Tô Lịch và Thiên Phù, nên thuận lợi trong việc giao lưu buôn bán trên bến dưới thuyền. Chợ lại nằm kề vòng tường thành bao quanh kinh đô Thăng Long, nên dân cư tập trung qua lại khá đông đúc. Người xưa có câu, "nhất cận thị, nhị cận giang" là thế.

Đặc sản chợ Bưởi

Chợ Bưởi tự xưa vốn là nơi buôn bán hàng hoá của dân các làng nghề trong vùng. Theo các thư tịch cũ còn lại. Chợ Bưởi từng có tới 15 gian hàng bán buôn các loại giấy do dân các làng nghề Kẻ Bưởi làm ra. Đó là giấy bản của làng Yên Thái, giấy moi của làng Hồ Khẩu, giấy quỳ của làng Đông Xã, giấy xề của làng Yên Hoà. Nhưng cho đến bây giờ thì chị Ba, một người hàng giấy thật thà bộc bạch:

- Tôi là con gái làng Bưởi, bán hàng ở chợ cũng đã lâu, nhưng làng Bưởi bây giờ chẳng còn mấy nhà làm giấy, giấy này tôi phải ra chợ Đồng Xuân cất về.

Cô hàng trẻ tuổi kế bên thì nhanh nhảu:

- Giấy này không phải giấy Bưởi chị ạ, mà là giấy Bắc Ninh. Giấy Bưởi thì khổ rộng hơn và mặt mịn hơn. Nhiều người vẫn hỏi, nhưng không hiểu tại sao dân trong làng không làm nữa.

Tuy nhiên, cũng không hẳn là nghề làm giấy ở vùng này đã mất hẳn. Bằng cớ là tại chợ, ở gian hàng sắt, vẫn thấy người ta bầy bán những con dao xén giấy đặc chủng sắc như nước, hình cong cong tựa một chiếc hái lúa và một số dụng cụ chuyên dụng khác như liềm xeo giấy, thép can giấy do người làng Xuân Đỉnh ở phía Bắc Hồ Tây đem về hoặc các loại khung phơi, sọt, sề, rổ rá, thúng từ các làng Cổ Nhuế (Từ Liêm) đem xuống, hay các làng Văn Quán (Phú Xuyên), Tự Khoát (Thanh Trì) đem lên. Trong làng duy chỉ còn vài cơ sở làm giấy nhuộm màu cho các nhà làm hàng mã hay học sinh dùng làm thủ công và giấy vệ sinh các loại.

Ở chợ Bưởi, còn có các hàng nông cụ phục vụ cho bà con nông dân các vùng xung quanh. Những là cuốc cày, xén hái, mai thuổng... màu thép loáng lên xanh ngời trong ánh nắng. Song xem ra người mua cũng thưa thớt...

Chợ Bưởi trước đây còn là nơi đầu mối bán buôn các loại hàng lụa lĩnh của các làng nghề ven Hồ Tây thuộc vùng Kẻ Bưởi. Phương ngôn kẻ chợ có câu: "Lĩnh Hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã". Nhưng bây giờ đi cả chợ, bói cũng không ra một tấm lĩnh cổ truyền. Nghề dệt lĩnh Bưởi đã đi vào dĩ vãng từ những năm trước Cách mạng tháng 8 năm 1945. Bây giờ, khắp chợ tràn ngập vải vóc lụa là nhập từ nước ngoài về. Ngày xưa, chợ còn là nơi bán buôn các loại hàng hoá do dân trong vùng sản xuất như mạch nha An Phú, bánh kẹo Xuân Đỉnh, cốm Vòng (Dịch Vọng)... Bây giờ, những mặt hàng này cũng vẫn thấy bày bán loáng thoáng trong chợ, chưa mất hẳn bóng dáng.

Chợ Bưởi cũng còn là nơi mà bà con các vùng ven Hà Nội đem hàng nghề truyền thống đến bán buôn. Bây giờ, cứ đến ngày chợ phiên, ở phía cổng chợ lối lên xuống từ đường Hoàng Hoa Thám, người ta vẫn ngóng bóng bà bán kẹo bột làng Lủ (Thanh Trì) đầu trùm khăn mỏ quạ, răng nhuộm đen, miệng ăn trầu bỏm bẻn. Hai đầu quang gánh lỉnh kỉnh những là kẹo vừng, kẹo lạc, bỏng ngô, bỏng gạo bọc trong những tấm lá chuối khô chéo lạt rơm và lủng lẳng mấy xâu bánh men rượu như những mảnh trứng nhện trắng màu vôi bột, còn dính mươi mảnh vỏ trấu vàng ươm.

Ông hàng thừng chão Trung Văn (Từ Liêm) quần nâu áo cánh, quạt nan phành phạch ngồi giữa đám thừng sợi to nhỏ quấn vòng, tết vặn đủ các kiểu. Ông kể rằng:

- Chợ Bưởi cách đây dăm sáu chục năm trước chỉ có hai cầu chợ ngói. Còn thì đều là lều lán tạm. Còn sau hoà bình lập lại 1954 mới làm lại tất cả bốn năm cầu chợ. Cây bóng mát cũng mới trồng từ dạo ấy. Ngày xưa, tôi bán toàn thừng giang, thừng tre, thừng nứa, thừng đay, thừng gai... Nhưng bây giờ làng tôi làm cả thừng ni lông, thừng nhựa, vô khối!

Chợ Bưởi, theo tên gọi dân gian lâu đời vốn là chợ bán hoa quả, chủ yếu là hoa quả các làng trong vùng. Phương ngôn kẻ chợ có câu: Chợ Bưởi một tháng sáu phiên / Riêng đến tháng tám lại thêm phiên rằm / Ai ơi nhớ lấy kẻo lầm / Đi mua hoa quả chơi rằm trung thu.

Nhưng mà chợ Bưởi bây giờ, không chỉ có hồng, na, bưởi, chuối, nhãn, mà còn có đủ thức hoa quả trăm miền trên đất nước và cả hoa quả từ nước ngoài đem về như táo Mỹ, xoài Thái, mận Úc... và cơ man nào là hàng hoa quả Trung Quốc, cứ vàng tím, đỏ xanh khắp các dãy hàng. Và rồi thì ngay cả đến tivi, cát sét, máy vi tính cũng đầy rẫy, sáng choang.

Ở chợ Bưởi, người ta có thể lựa mua được những thứ rau quả tươi ngon còn thấm đẫm sương đêm mới được cất về từ những làng rau chuyên canh ven sông Tô và sông Nhuệ, hay kể cả các loại rau quả đặc sản của các vùng trên đất nước. Và cũng ở chợ Bưởi, các loại cá tôm tươi rói như thể vừa được cất lưới từ mặt nước Hồ Tây hay đưa từ các lồng cá trên sông Nhuệ, các thuyền cá trên sông Hồng đem về.

Những mặt hàng tươi sống ở chợ Bưởi hình như có rẻ hơn ở các chợ trong trung tâm thành phố chừng vài ba giá. Có lẽ do bà con nông dân lên đây đỡ được một vài đoạn đường xa, và thuế má ở chợ nghe chừng cũng có nhẹ nhàng hơn.

Chợ Bưởi - Chợ cây giống

Một trong những mặt hàng đặc sắc ở chợ Bưởi là cây giống các loại từ các làng trồng hoa cây cảnh cổ truyền ven hồ Tây như Yên Phụ, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân hoặc các xã vùng rau hoa như Tây Tựu, Phú Thượng đem về vào các buổi chợ phiên. Số lượng các mặt hàng cây hoa giống tăng lên gấp hàng chục lần so với ngày thường. Người dân nội thành bây giờ nhà cửa khang trang hơn nhiều. Họ thường tìm lên đây tầm mua vài khóm thiên lý, lan tiêu, bìm bìm, tầm xuân, ti gôn, đai vàng. Các loại cây trồng chậu như: địa lan, thiết mộc lan, ngũ gia bì, mai tứ quý, sen cạn, vàng anh, xoan táo, đinh lăng, đuôi lươn, mỏ vịt...

Các loại cây hoa đẹp như hồng, huệ, nhài, tường vi, dâm bụt, trinh nữ, cẩm tú cầu... trăm thức khác nhau, mỗi thứ một vẻ. Thậm chí, muốn tìm mấy giống cây ăn quả, hay những cây bóng mát loại lớn, người Hà Nội cũng chỉ tìm lên chợ Bưởi. Nào là ngọc lan, hoàng lan, bằng lăng, gạo gai, phượng vĩ. Rồi các giống cây ăn quả đặc sản như hồng Xiêm Xuân Đỉnh, cam Canh, bưởi Diễn... thứ gì cũng có, song cũng tuỳ theo mùa, theo tiết, hợp với việc bán giống, trồng cây. Duy chưa thấy bao giờ chợ Bưởi bán cây giống như đào Nhật Tân hay quất Quảng Bá, mà chỉ vào dịp giáp tết, bán cây và hoa đến lứa dùng chơi tết mà thôi.

Nhưng đi chợ Bưởi mua cây cũng phải có chút kinh nghiệm. Ví như chớ ham cây rẻ khi bầu đất nơi gốc cây hoàn toàn là đất mới. Như vậy, cây dễ bị đứt rễ, đem về trồng vài hôm là héo rũ. Người sành sỏi khi mua cây, ngoài việc chọn dáng vẻ cây gốc, còn chú ý đến bầu đất gốc cây phải được người làm vườn ra ngôi sẵn từ cách đó ít hôm, hoặc trồng vào giỏ tre hay chậu đất một thời gian.

Tuy nhiên, cây cảnh, cây hoa giống ở chợ Bưởi chỉ là những loại cây thông thường, chủ yếu phục vụ nhu cầu các gia đình thị dân dễ tính. Còn muốn mua các loại cây giống, cây thế, cây hoa, cây quả quý hiếm, nhất thiết phải tìm đến tận các nhà trồng vườn chuyên nghiệp mới được xứng ý.

Bà cụ già tên là bà cụ Gái, áo cánh phin nõn, tóc bạc như tơ, tươi cười trò chuyện:

- Nhà tôi ở Nghĩa Đô, có mảnh vườn rộng, tự tay tôi trồng cấy ngải cứu, lá lốt, tía tô, dấp cá, ớt. Tất cả những cây này đến phiên chợ Bưởi là tôi đem ra bán.

Chị phụ nữ tên là Lan người làng Đăm bộc tuệch:

- Nhà em chỉ có 2 sào rưỡi đất ruộng, cấy không đủ ăn, nên quanh năm mùa nào vụ ấy, em làm thêm các loại cây giống như rau ngót, xương sông, mùi tàu, dọc mùng. Ngoài ra còn làm thêm các loại cây cảnh như tố nữ, sen cạn, lan, nhài. Mà chỉ đem đi chợ Bưởi mới có khách, đem các chợ khác không có mấy người mua. Em bán cây giống ở chợ đã 20 năm rồi.

Chợ Bưởi - chợ con giống

Một chị hàng trùm khăn vải vẩy một nắm cơm nguội lên chiếc sọt nan thưa và rộng, bầy ngan con vàng ươm kíu kíu vươn cổ lên đớp đớp. Anh lái lợn túm đôi chân con lợn tháu kêu eng éc, miệng liến láu, tay vung vẩy chỉ trỏ phô nết hay ăn chóng lớn của chú ỉn cho bà khách vấn khăn nâu, túi áo cánh găm chiếc kim băng to tướng.

Cậu bé chừng năm, sáu tuổi níu quần bố mếu máo đòi mua cả lồng mấy chú chó con lông hung hung vàng. Được đi chợ Bưởi một hôm là nguồn vui tột bậc của lũ trẻ thành phố vốn quanh năm sống trong phố xá chật hẹp, tù túng, toàn người là người.

Bà hàng gà giống, khăn kẻ vuông buộc trùm trán, giọng người trên Phùng vóng vót:

- Tôi đi chợ quanh năm, cứ mồng 2, mồng 7 chợ Mơ, mồng 4 mồng 9 lên chợ Bưởi, mồng 5 mồng 10 thì vào chợ Hà Đông, ngày 3, ngày 6 sang chợ Sa. Gà Đông Tảo nuôi nhanh lớn nhất. Mấy năm nay có thêm gà Tam Hoàng, gà Long Phượng giống Tàu, nuôi cám cò lớn nhanh lắm, với mấy giống gà Tây nữa. Nhưng dân Hà Nội vẫn chuộng gà ri ta chân nhỏ mỏ vàng, nuôi lâu lớn nhưng thơm thịt.

Một ông đặc nông dân, áo đại cán sờn khuỷu tay, khăn len kẻ xanh đỏ vắt xộc xệch trên đầu đang vạch đuôi mấy con ngan giống săm soi:

- Phải chọn giống ngan đực, ngan trâu, nuôi nó mới mau lớn, chắc thịt, dôi cân, lắm lã i. Nuôi ngan cái chỉ tổ ỉa toèn toẹt suốt ngày, bẩn cả sân lẫn vườn. Ngan đực thế nào à, xem đây! của quý rõ ràng ràng ra nhé, nhưng không phải ai cũng biết đâu.

Một tràng cười rộ lên rầm rĩ át cả tiếng quàng quạc ran ran của hàng mấy chục lồng ngan ngỗng gà vịt.

Nghe nói ngày xưa, vào phiên chợ 19 tháng chạp âm lịch hàng năm, chợ Bưởi còn có bán cả các loại đại gia súc như trâu, bò, ngựa... bây giờ thì không thấy có.

Người ta thường nói: "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn". Nhưng mà, kỳ thực, chỉ cần đi chợ Bưởi một giờ thôi, thì có khi cũng đong đầy cả mấy túi khôn. Nào là cách chọn gà, chọn vịt, chọn chó, chọn mèo, chọn chim, chọn thỏ. Chỉ riêng có cách chọn chó thôi nhé, nghe một chốc cũng ù tai. Những là tam khoanh tứ đốm. Những là tứ túc mai hoa. Rồi lại còn tứ túc huyền đề gì gì nữa...

Ông đeo kính túm gáy con mèo tam thể nhấc bổng trước mặt thằng cu cháu. Con mèo thảng thốt kêu meo meo mấy tiếng, mình mẩy co dúm, chân sau chạm tai. Thằng cu bé hếch mắt nhìn theo không chớp. Ông nó gật gù:

- Hay chuột lắm đây, chứ chẳng đuỗn đuồn đuồn như con mướp lấm đằng kia.

Cô hàng mèo được lời như cởi tấm lòng, cười toe cười toét dang tay âu yếm đón lại chú mèo như không nỡ bán, trong lúc cu con cứ kéo áo ông mếu máo đòi mua bằng được.

Nhưng mê mấy cũng không tày phiên chợ Bưởi giáp tết. Ngồn ngộn những hoa thơm, quả lạ, chiu chít gà vịt ngỗng ngan, tươi rói lá dong, lạt màu, rộn ràng, lộng lẫy véo von hàng trăm lồng chim, chậu cá. Và đào Nhật Tân, quất Quảng Bá, hoa Tây Tựu ken thành một dòng suối hoa rực rỡ chảy tràn sang tận các ngả đường từ Lạc Long Quân đến Thuỵ Khuê, Hoàng Hoa Thám rồi xuôi về hàng trăm ngả phố Hà Nội.

Nội dung bài Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Thưởng mai mùa xuân

Thưởng mai mùa xuân

“Thưởng mai mùa xuân” là nhan đề bài Podcast của Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung. Kính mời quỳ vị cùng lắng nghe.

Bài viết:

Sự cuốn hút của hoa mai có lẽ đã bật lên từ sự tương phản, khác biệt lạ kỳ. Giữa thân hình mảnh mai, vóc dáng gầy guộc với sương gió lạnh lùng, giá băng khắc nghiệt. Giữa vẻ yếu đuối, mềm dịu bên ngoài và sự mạnh mẽ, quyết liệt bên trong. Giữa sức chịu đựng cùng cực với thế vươn lên hết mình. Hoa mai có lẽ là biểu trưng cao nhất cho sự đối chọi, mà cũng chính là sự hòà hợp tuyệt vời giữa chữ nhẫn và chữ dũng của cốt cách, tinh thần con người, trước cuộc đời bao bất trắc, gian nan mà cũng chứa chan hy vọng và niềm vui: Chúng phương dao lạc độc huyên nghiên / Chiếm tận phong tình hướng tiểu viên.

undefined
Hoa mai loài hoa mang niềm vui xuân sang, tết đến - Loài hoa mang màu nắng của đất trời phương Nam

Trăm hoa đều tàn tạ, duy chỉ có (hoa mai) hé nở, chiếm hết cảnh đẹp nơi vườn nhỏ. Đó chính là hai câu mở đầu của bài thơ thất ngôn bát cú mang tựa đề "Mai Hoa" của một nhà thơ nổi tiếng đời Tống. Nhà thơ Lâm Bô. Ông vốn là người tài trí hơn đời, nhưng ghét mùi tục luy, ghét cảnh bon chen chốn quan trường nên suốt đời chỉ ở ẩn trên núi Cô Sơn, coi mai là vợ, hạc là con. Nghệ thuật thưởng mai, không còn nghi ngờ gì, có xuất xứ chính là từ Trung Quốc. Khoảng 3000 năm trước, người ta đã nhắc tới mai, thoạt đầu như một thứ cây ăn quả trong dân gian. Sử sách Trung Quốc có ghi, vào thời Xuân Thu, ở đất Tây Chu, người dân đã biết trồng mai.

Ngôi nhà cũ kỹ của nghệ nhân Lê Quyết Bội nằm lọt trong làng hoa cổ Nghi Tàm bên sóng nước Hồ Tây. Góc hiên nhà có một cửa sổ nhỏ hình mặt trăng. Vào cứ xuân, ông thường đặt ở dưới chân tường bốn chậu cảnh quý. Đó là tùng, trúc, cúc, mai. Người xưa truyền rằng, đó là bộ cây Tứ Hữu, bốn người bạn thiết. Bởi chúng đều có sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, như tình bạn bất chấp sự đổi thay của thế cuộc. Nhất là tùng, trúc, mai, còn được liệt vào bộ Tam Dũng, ba thứ cây có khả năng xanh tốt vượt qua sự khắc nghiệt của mùa đông giá lạnh. Mà đầu bảng vẫn là cây mai. "Tiên hưởng bách hoa đầu thượng khai" - Mai nở trước muôn hoa, đứng đầu bảng xuân. Mai được coi là biểu tượng của sự thanh cao, lòng cương trực và khí phách ngang tàng, bất khuất của các bậc chính nhân, quân tử, anh hùng, trượng phu. Nghệ thuật thưởng mai, theo thời gian, đã lan dần sang các nước phương đông, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa.

Từ thời nhà Lý, nhà thơ Mãn Giác Thiền sư đã có một bài thơ nổi tiếng nhắc tới hoa mai. Nguyễn Trãi vị anh hùng dân tộc, đệ nhất công thần triều nhà Lê từng ca tụng: Càng thuở già, càng cốt cách. / Một phen giá, một tinh thần.

Người đời yêu kính hoa mai bởi sự kiêu dũng, hiên ngang trước mọi khó khăn, thử thách khắc nghiệt, bởi hoa mai đem lại hương thơm thanh tao và sắc đẹp tuyệt mỹ. Và hơn tất cả, hoa mang lại cho thế gian linh hồn của mùa xuân.

Mai có rất nhiều chủng loại, ở Trung Quốc, có tới 230 loại mai. Riêng về màu sắc, được chia làm ba loại chính là hồng mai, hoàng mai và bạch mai. Ở Hà Nội, chi mai là giống mai trắng điểm hồng đã được lưu truyền qua nhiều đời. Bên hồ Tây, những làng hoa cổ truyền như Nghi Tàm, Nhật Tần vốn là xứ sở của chi mai.

Chi mai hay còn được gọi là Nhị độ mai, vì mỗi năm hoa thường nở hai lần. Cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần mỗi ngày trên đất Hà Nội càng thêm tươi mới, phong phú và đa dạng. Bởi vậy, ở làng đào Nhật Tân mấy năm gần đây, bên cạnh những luống đào rực rỡ, là vẻ đẹp trắng trong, dịu dàng của những vườn mai đang kỳ trổ bông.

Khác với giống đào ưa đất mới phù sa màu mỡ, giống mai không kén đất, không cần chăm bón kỹ càng. Duy nhất, mai chỉ cần được giữ ẩm vừa độ. Mai không chịu được úng ngập, úng ngập sẽ gây thối rễ mai. Mà bộ rễ là một phần vẻ đẹp chính yếu của cây mai. Công phu nhất của người trồng mai chính là tạo nên được những bộ rễ có hình dáng xù xì, gân guốc, cổ quái, ấy là cách để nhấn mạnh độ già cỗi của gốc mai. Người trồng hoa thoạt đầu trồng cả gốc mai xuống đất như các thứ cây thông thường. Chờ cho cây phát triển đến độ thích hợp theo ý nhà vườn, họ sẽ nhấc cây khỏi mặt đất và trồng lại ở độ sâu nhỏ hơn trước. Hoặc tìm cách bới đất cho rễ cây lộ thiên, rồi uốn tỉa cho thành các hình thế khác nhau. Nào Cửu long tranh châu, nào Bát tiên quá hải, nào Ngũ phúc lâm môn...

Sở dĩ người ta kỳ cầu tạo nên vẻ già cỗi cho mai, chính là vì chiều theo thị hiếu dường như là bất biến của người chơi mai tự cổ chí kim. Kỳ lạ thế, tiêu chuẩn của một cây mai đẹp thật khác xa so với muôn hoa. Có bốn tiêu chí để định giá vẻ đẹp của cây mai. Đó là người ta quý già chứ không chuộng non, quý mảnh chứ không ưa mập, quý thưa chứ không thích dày, và cuối cùng là quý nụ chứ không mong nở. Chính bởi vậy, người mê đào thì dù sớm thế nào cũng phải đợi tới qua rằm tháng chạp, mới có thể lên dinh chọn đặt cây cho tết âm lịch. Chính lúc ấy, người ta mới có thể xem nụ mà đoán hoa. Còn người yêu mai có thể lên vườn chọn mai từ dịp nhà vườn đang mùa tuốt lá, tức là từ tiết đông chí, giữa tháng mười một âm lịch. Khi ấy, cây mai đã chớm lộ vẻ đẹp của vóc dáng, hình thế. Mà vóc dáng, hình thế, đó mới chính là tinh thần, cốt cách của hoa mai.

Chốn nhân gian ngàn đời luôn vui ít buồn nhiều. Trong thập đại danh khúc cổ nhạc của Trung Hoa có tới bẩy bài mang âm hưởng buồn man mác hoặc buồn tới mức bi thiết, não nùng. Chỉ có 3 bài là có những đoạn mang âm hưởng vui vẻ, lạc quan, phấn khích. Trong đó có khúc "Mai hoa tam lộng". Có một giai thoại về

"Mai hoa tam lộng". Đó là câu chuyện về Nhân Hồng Hạo vào thời Nam Tống. Ông vốn là một người được sai đi sứ nước Kim nhưng rốt cuộc bị bắt lại mất hơn mười năm. Mười năm dài chờ đợi đằng đăng được hồi hương, mười năm sống trong sự uy hiếp rồi dụ dỗ của kẻ địch, tâm ông chẳng sợ, lòng dạ chẳng sờn, vẫn hiên ngang từ chối mọi ưu sách, ông một mực bảo trì phong thái cao thượng, coi nhẹ hư vô ở đời. Danh sĩ Cao Bá Quát, một bậc kỳ nhân quê ở làng Sủi (nay thuộc xã Phú Thụy, huyện Gia Lâm) là người tài ba, cao ngạo.

Cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương do ông lãnh đạo dù thất bại song vẫn để lại cho người đời tiếng thơm khí phách của một bậc chính nhân quân tử không chịu khuất phục trước cường quyền triều Nguyễn.

Tương truyền Cao Bá Quát đã để lại đôi câu thơ nổi tiếng: Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái mai hoa. (Mười năm vất vả gian truân tìm kiếm cổ. Một đời chỉ cúi đầu bái lạy hoa mai).

Sở dĩ tôi chỉ dám viết hai chữ "tương truyền", bởi cũng có một thuyết khác cho rằng đôi câu thơ trên không phải do danh sĩ họ Cao sáng tác mà là của một nhà nho khác sống cùng thời. Nhưng dẫu sao đó vẫn là đôi câu thơ tuyệt hay về phẩm chất của người quân tử ngày xưa.

Ngẫm ngợi sâu xa thì sự cuốn hút của hoa mai có lẽ đã bật lên từ sự tương phản, khác biệt lạ kỳ. Giữa thân hình mảnh mai, vóc dáng gầy guộc với sương gió lạnh lùng, giá băng khắc nghiệt. Giữa vẻ yếu đuối, mềm dịu bên ngoài và sự mạnh mẽ, quyết liệt bên trong. Giữa sức chịu đựng cùng cực với thế vươn lên hết mình.

Hoa mai có lẽ là biểu trưng cao nhất cho sự đổi chọi, mà cũng chính là sự hòà hợp tuyệt vời giữa chữ nhẫn và chữ dũng của cốt cách, tinh thần con người, trước cuộc đời bao bất trắc, gian nan mà cũng chứa chan hy vọng và niềm vui: Cử đầu hồng nhật cận - Đối ngạn nhất chi mai. / Ngửng đầu mặt trời mọc - Bên suối một nhành mai.

Bài thơ "Thướng sơn" của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ra đời vào thời khắc cách mạng Việt Nam đang đứng trước một bước chuyển lớn lao có lẽ đã không chỉ dừng ở tầng ý nghĩa văn chương, nghệ thuật, mà hơn thế, còn mang ý nghĩa tư tưởng, nhân sinh quan cách mạng sáng đẹp tuyệt vời.

Trong dân gian, nếu như giới thương nhân và người lao động bình dân tết đến thường thích chơi đào bích với sắc hoa đỏ tươi, nụ hoa đông đúc, cánh hoa dày dặn, ý cầu mong cuộc sống sung túc, đủ đầy, rực rỡ, ấm áp, thì giới trí thức, văn nghệ sĩ thường thích đào hồng phai và hoa mai trắng muốt, hầu gửi gắm tâm hồn phong nhã, hào hoa, coi thường những ước muốn trần tục đời thường. Hoa mai vì thế, như thể để dành riêng cho giới sĩ phu, trí giả, văn nghệ sĩ nghênh đón xuân sang.

Đôi vợ chồng nghệ sĩ sân khấu Hà Nội Kim Thanh - Vinh Mậu ngay từ thời trẻ đã cùng nặng lòng yêu hoa mai. Đối với họ, hoa mai là biểu trưng cho tình yêu thanh cao và bền chặt. Đứa con gái út của đôi vợ chồng nghệ sĩ được sinh ra với cái tên chọn sẵn: Mai Chi. Sau này, anh trở thành một tác gia sân khấu chèo, khán giả Hà Nội còn nhớ tới anh với vở chèo Vòng phấn Cap - ca - dơ, còn chị trở thành một nhà giáo ở khoa kịch nói trường nghệ thuật Hà Nội. Bao gian khó và bao thăng trầm trong cuộc đời, rồi cũng đã lùi lại phía sau. Giờ đây, cả hai vợ chồng đều đã ở cái tuổi đã rời xa ánh đèn sân khấu, lặng lẽ trở lại với đời thường. Thế sự xoay vần, nghề chơi lại có lúc trở thành nghiệp sống. Một cửa hiệu hoa cảnh ra đời trên phố Hoàng Hoa Thám, đã trở thành nơi tụ hội của giới tao nhân, mặc khách Hà Thành. Anh và chị lấy tên loài hoa mà họ yêu quý nhất mà đặt tên cho cửa hiệu của nhà, hiệu hoa cảnh Nhất Chi Mai.

Bận rộn quanh năm, tuy vậy, anh và chị vẫn giữ một phong thái sinh sống và ứng xử bình hòà, giản dị và cao nhã, như chẳng hề nhuốm mùi tục luy chốn thương trường. Mỗi thời khắc xuân vê, anh chị lại cùng chăm chút cho những chậu mai, chờ người đồng điệu. Cái nghiệp chèo anh dày công đeo đuổi, trải qua mấy khúc thăng trầm, giờ đang gặp vận hội hồi sinh, dù còn là mong manh, thắc thỏm, song cũng phần nào giúp cho anh vơi nhẹ nỗi trở trăn nghề nghiệp.

Ông xã tôi vốn là dân kinh doanh và công cuộc làm ăn cũng đã trải qua lắm khúc thăng trầm, có lúc rầm rộ nổi tiếng trên thương trường, rồi có khi đã hầu như mất hết cả sản nghiệp, để lại hệ lụy vô cùng nặng nề cho gia đình, vợ con, bầu bạn. Nhưng khi thoát vòng lao lý ở tuổi ngoại ngũ tuần, anh vẫn gắng gỏi đứng dậy bắt đầu một công việc làm ăn dù nhỏ lẻ chỉ bằng một phần trăm, một phần nghìn thời trai trẻ. Cốt là để khắc phục dần những hậu quả thất bại trong những năm tháng trước đó. Ông xã tôi cũng rất thích hoa mai trắng, có lẽ bởi đã một thời vốn từng theo học hàm thụ đại học tổng hợp văn trong thời gian anh là hạ sĩ quan biên phòng đóng quân tại Hà Nội. Tôi thì rất thích tích truyện dân gian Nhị độ mai. Cô con gái út của vợ chồng tôi cũng được đặt tên Hạnh Nguyên là đặt theo tên nàng công chúa trong tích truyện ấy. Ý là mong cho con vượt qua khổ nạn gia đình đến được cuộc sống hạnh phúc tươi đẹp.

Năm nào bên cạnh quất đào vàng thắm, hồng rực trong phòng khách, vẫn là một gốc mai trắng thanh mảnh, dịu dàng. Cuối năm trước, ông xã tôi đã thanh thản về với cõi người hiền sau mấy năm trời kiên trì chống chọi với những căn bệnh hiểm nghèo. Tết đến, theo lệ cũ, tôi vẫn rước một gốc mai trắng về phòng khách và tạm bỏ thú chơi đào quất hằng niên. Gốc mai trắng năm ấy tự nhiên lại trổ hoa rạng rỡ khác thường. Một mình bên song cửa rộng mở chào đón nắng xuân, những cánh lá xanh non rung rinh bên những đóa hoa trắng tinh khôi. Thấp thoáng đan xen là những đốm nụ điểm màu hồng tươi rói.

Chợt nhớ câu thơ xưa của Mãn Giác thiền sư cách đây gần mười thế kỷ: Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận / Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. (Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết. Đêm qua sân trước một nhành mai)

Kính thưa quý vị, bài Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Về hội vật cầu mùa xuân Thuý Lĩnh

Về hội vật cầu mùa xuân Thuý Lĩnh

“Về hội vật cầu mùa xuân Thuý Lĩnh” là nhan đề bài Podcast ngày hôm nay của tác giả - nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, nguyên Trưởng ban Văn hoá - Xã hội, Đài PT-TH Hà Nội. Bài viết được in trong cuốn sách “Hà Nội mến thương” của tác giả. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Bài viết:

Màn bái Thánh của hội vật cầu Thúy Lĩnh do lớp cầu thủ thiếu niên thi đấu tranh tài cướp trái bòng vô cùng hào hứng, sôi động và mang khí thế tranh đua quyết liệt ngay từ phút ban đầu. Những hồi trống cầm nhịp rầm rộ khiến cả một không gian rộng lớn bên bên sân đình tràn ngập niềm hứng khởi mở màn ngày hội tươi vui. Trái bòng vàng rực rỡ bay lượn trên bầu trời ban mai lấp lánh ánh bình minh tạo một hình ảnh thật thơ mộng, bay bổng và quyến rũ lòng người.

Sớm đầu xuân trong sáng, cảnh vật thơ thới, tiếng trống hội rộn rã thôi thúc bước chân người. Lá cờ đại ngũ sắc trước khuôn viên đình làng bay cao trong gió như vượt lên triền đê con sông Hồng, in bóng trên những cánh bãi dâu ngô xanh biếc sắc xuân. Nhóm phóng viên lần đầu tiên đến tham dự hội làng Thúy Ái trong năm đầu tiên làng phục dựng hội làng sau nhiều năm đứt quãng vì chiến tranh và đói nghèo nên thật dễ hòa chung vào niềm vui nao nức của bà con dân làng cũng như con dân Thúy Lĩnh khắp từ trong ngoài nước đổ về.

Thuý Ái là một thôn làng thuộc địa phận xã Lĩnh Nam,huyện Thanh Trì sau đổi là làng Thuý Lĩnh phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai. Nằm bên ngoài con đê sông Hồng, tự xa xưa, người dân Thúy Lĩnh sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng dâu nuôi tằm và dệt vải lụa. Tên gọi Thúy Lĩnh có nghĩa là một tấm lụa biếc nói lên niềm tự hào về nghề truyền thống lâu đời của miền quê bên sông Hồng.

undefined
Hội vật cầu xuân Thuý Lĩnh

Thời kỳ sau ngày tiếp quản Thủ đô 1954, Thuý Lĩnh đã trở thành một vùng trồng rau chuyên canh của Hà Nội cho đến tận giờ đây.

Những năm cuối thế k XX đầu thế kỷ XXl, từ một một làng quê nghèo nàn, Thuý Lĩnh đã và đang trên đà đô thị hóa nhanh chóng. Nhà cửa mọc lên san sát, đường xá mở mang rộng rãi, khang trang.

Tuy nhiên, cho đến tận giờ đây, Thuý Lĩnh vẫn giữ riêng cho thôn làng một cụm di tích văn hóa lịch sử cổ kính mang dấu ấn của những thời kỳ hình thành và phát triển làng xã dưới chế độ phong kiến. Đó là ngôi chùa Thuý Lĩnh mang tên chữ là chùa Diên Khánh. Chùa có lịch sử tạo dựng từ những năm cuối triều nhà Lê đầu triều nhà Nguyễn. Những khóm hoa và cây cảnh cổ thụ trong sân chùa đã in dấu thời gian trải hàng trăm năm có lẻ tỏa bóng trên mái đình cổ kính.

Đình làng Thuý Lĩnh có lịch sử lâu đời hơn, tương truyền là từ thời Lý. Hoặc là đình được xây dựng bởi những người dân đầu tiên ra khai hoang lập làng đã đem theo tập tục phụng thờ đức thánh Linh Lang Đại vương, tức hoàng tử Lý Hoằng Chân đời nhà Lý, là vị thần trấn Tây thành Thăng Long. Truyền thuyết dân gian kể lại rằng, khi Linh Lang đại vương thắng trận, dẹp yên giặc Tống phương Bắc, đã tung lá cờ chiến thắng lên trời cao. Ở vùng đồng bằng Bắc bộ, có tới 269 nơi trông thấy bóng cờ bay ngang qua và đều lập đình đền thờ Đức Ngài làm thành hoàng làng, người bảo trợ cho sự thịnh vượng bình yên cho dân thôn. Thuý Lĩnh chính là một trong 269 làng quê đó.

Hàng năm, làng Thuý Lĩnh mở hội xuân tại đình làng vào các ngày mùng 4 mùng 5 và mùng 6 tháng Giêng âm lịch, trùng với kỳ hội làng Mai Động thờ đức thánh Nguyễn Tam Trinh thời Hai Bà Trưng.

Theo các cụ lão niên trong làng kể lại, thì tục vật cầu ngày xuân của làng Thuý Lĩnh là một trong những nghi lễ phụng thờ đức Linh Lang Đại Vương thành hoàng làng, thể hiện tinh thần thượng võ của quân tướng Đức Linh Lang và cũng là truyền thống chiến thắng giặc ngoại xâm của dân tộc ta trong lịch sử. Tục vật cầu ngày xuân của làng Thuý Lĩnh đầu năm mới cũng là để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, gia đình hòa hiếu, xóm làng an vui.

Sới vật cầu mùa xuân của làng Thuý Lĩnh tự xa xưa được mở ngay trước sân đình. Sau này, do quy hoạch đường xá mới, sới vật chuyển sang mé bên phải sân đình. Lễ vật cầu Thuý Lĩnh quy định rất rõ về kích thước quy mô sới vật, về cách thức chuẩn bị sới vật trước khi vào trận đấu. Đời sau cứ chiếu lệ cũ mà theo, dù đứt nối bao nhiêu năm cũng vẫn vậy.

Mở đầu tất cả các cuộc thi đấu vật cầu Thuý Lĩnh bao giờ cũng là trò cướp trái bòng xuất phát từ trò chơi bóng bưởi của của trẻ em các vùng nông thôn Bắc bộ xa xưa. Trò cướp bòng này cũng được coi là nghi thức thờ Thánh nhất thiết của hội xuân làng Thuý Lĩnh. Màn bái Thánh được tiến hành tại trước ban thờ vọng lập ngay trên sới vật. Tuy nhiên màn bái Thánh của Hội vật cầu Thúy Lĩnh có khác với màn bái Thánh của hội vật truyền thống Mai Động. Nếu như màn bái Thánh của hội vật Mai Động chủ yếu là do một lão đô vật biểu diễn các động tác xe đài uyển chuyển, mạnh mẽ thì màn bái Thánh của hội vật cầu Thúy Lĩnh do lớp cầu thủ thiếu niên thi đấu tranh tài cướp trái bòng vô cùng hào hứng, sôi động và mang khí thế tranh đua quyết liệt ngay từ phút ban đầu. Những hồi trống cầm nhịp rầm rộ khiến cả một không gian rộng lớn bên sân đình tràn ngập niềm hứng khởi mở màn ngày hội tươi vui. Trái bòng vàng rực rỡ bay lượn trên bầu trời ban mai lấp lánh ánh bình minh tạo một hình ảnh thật thơ mộng, bay bổng và quyến rũ lòng người.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, hình tượng trái bòng vàng hay là trái cầu đỏ chính là biểu trưng cho hình ảnh của mặt trời, nguồn gốc của năng lượng sự sống của vũ trụ và loài người, nhất là đối với người dân sinh sống tại những đất nước thuộc nền văn minh lúa nước. Đó còn là hình ảnh biểu trưng cho hạnh phúc và sự phồn thịnh, sự sinh sôi nảy nở của muôn loài trên trái đất.

Tuy nhiên, khi vào thi đấu chính thức, sẽ có một quả cầu bằng gỗ sơn đỏ có kích thước to lớn gấp ba gấp tư trái bóng đá như mọi người thường quen thuộc. Đó là trái cầu hằng ngày được bày trang trọng trước ban thờ Thánh trong đại đình mang ra sau màn tế Thánh khai hội vừa được các bô lão trong làng hoàn thành cùng những giai điệu nhạc lễ dân tộc truyền thống.

Tục vật cầu Thuý Lĩnh chia các đội thi đấu theo các lứa tuổi khác nhau: Nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung niên và cao niên. Mỗi đợt thi đấu gồm 8 cầu thủ, chia làm bốn đội. Mỗi đội gồm hai người, mang đai lưng cùng màu nhau và cùng màu với lá cờ chuẩn cắm ở hố xuất phát của đội đó. Bốn màu là: xanh - đỏ - tím - vàng. Các tuyển thủ cởi trần, mặc quần trắng thắt lưng màu theo màu cờ của đội thi. Ai nấy trông đều vạm vỡ, sức vóc và bừng bừng khí thế.

Mỗi đợt vật cầu được gọi là một phiên. Một phiên thi đấu kéo dài khoảng 1/4 khắc, tức là 30 phút. Nhiều nhất là đến 45 phút. Tiếng trống thúc từng hồi liên tục, giục giã.

Kíp làm phim chia làm hai nhóm với hai quay phim, hai kỹ thuật và hai biên tập viên và một đạo diễn chạy quanh liên tục không có một phút nào được nghỉ ngơi mà có những khoảnh khắc như vẫn trượt khỏi ống kính máy quay.

Nếu như hội vật Mai Động mỗi keo vật vẫn có hai đô vật cùng nhau thi đấu tay không thì hội vật cầu Thúy Lĩnh, mỗi phiên vật bao gồm 8 cầu thủ cùng thi nhau chạy đua, luồn lách, vờn vỡ, tranh cướp trái cầu gỗ đỏ rực thì không khí thêm bội phần rộn rã, quyết liệt. Chưa cần đến cuối phiên đấu, các cầu thủ đều đã lấm lem màu bùn đất suốt từ đầu đến chân. Thật là một cảnh tượng đầy phấn khích.

Lễ vật cầu ở Thúy Lĩnh có hai ngôi trọng tài. Trọng tài là những người có kinh nghiệm thi đấu vật cầu lâu năm và có uy tín trong dân làng bởi sự công minh, trung thực, không thiên vị. Trọng tài cũng rất cần có sức khỏe tốt, có sự dẻo dai và phải hết sức nhanh châ, tinh ý để có thể phát hiện các lỗi sót của cầu thủ và phân định thắng thua rạch rồi, minh bạch, được ban giám khảo và người xem tán đồng nhiệt liệt.

Hội vật cầu Thuý Lĩnh diễn ra mỗi năm chỉ có một kỳ ba ngày. Thế nhưng muốn chiến thắng ở cuộc thi không phải là điều dễ dàng. Ngoài sức khỏe trời phú, mỗi tuyển thủ đều phải có sự rèn luyện thường xuyên hàng ngày cộng thêm những tố chất khác nữa.

Như là sự nhanh nhẹn, mưu mẹo, khéo léo, dẻo dai và biết chớp thời cơ đúng lúc, bất ngờ.

Bên cạnh ban thờ là chỗ ngồi của ban giám khảo cuộc thi gồm các cụ lão niên có uy tín trong làng và thông hiểu lệ tục trò chơi vật cầu cổ truyền. Các thành viên trong ban giám khảo sẽ thay thế nhau đổi phiên đánh trống cầm chịch theo từng phiên thi đấu.

Tiếng trống lúc nào cũng vang vang, mạnh mẽ, thôi thúc. Mỗi khi có một đội tuyển thủ nào đưa được trái cầu về đúng hố cắm cờ của đội mình theo đúng thể thức, không phạm luật câu giờ hay ngoại biên, thì được coi là đạt một giải con. Đại diện của đội đoạt giải sẽ ra trước ban thờ bái Thánh và nhận thẻ điểm màu xanh có ghi trị giá số tiền thưởng ngay trong thẻ.

Nếu đội nào liên tục đạt ba giải con liên tiếp, không đứt quãng, sẽ được nhận một giải cái, thể hiện bằng một thẻ đỏ, có ghi số tiền thưởng ngay trên thẻ. Nếu đoạt nhiều giải con nhưng không liên tục, cũng không thể được nhận giải cái. Điều đó khiến cho các đội thi đấu phải dốc sức với quyết tâm rất lớn. Và đó cũng trở thành yếu tố kích thích sự hứng thú thi đấu cho các tuyển thủ và sự hấp dẫn cao độ với khán giả tham dự. Nếu sau 30 phút thi đấu mà không đội tuyển nào đoạt được giải cái thì trận đấu buộc phải kết thúc để nhường sân bãi cho lớp tuyển thủ mới.

Ngắm những đội cầu thủ phải ra sân khi chưa nhận được giải cái với những gương mặt đỏ bừng tức bực, hối tiếc lại càng thấy không khí cuộc đấu hấp dẫn biết chừng nào.

Người xem hội vật cầu Thúy Lĩnh xúm quanh vòng trong vòng ngoài, tha hồ hò hét vỗ tay cổ vũ đội nhà. Trời tháng Giêng còn giá rét mà họ cởi phăng áo ngoài quàng vai quàng cổ, mặt đỏ bừng, cơ khản đặc. Lắm lúc họ như muốn lao mình vào trận đấu như thể mình cũng là một thành viên đội vật cầu. Nhất là khi có cầu thủ nào trượt chân ngã hay về đúng trái cầu thì khí thế các cổ động viên càng như nổ bùng. Câu tục ngữ "Vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tới xem hội" ứng vào cảnh tượng này thật không sai chút nào.

Tám đội trong vòng bán kết được chia làm 2 bảng, mỗi bảng 4 đội, mỗi đội có 2 người chơi chính để thi đấu. Mỗi trận đấu kéo dài 40 phút. Sau khi 2 bảng thi đấu sẽ chọn ra 2 đội có điểm cao nhất ở mỗi bảng để vào thi đấu trận chung kết.

Trận chung kết bao giờ cũng thu hút đông đảo người xem nhất. Tiếng hò hét cổ vũ ầm ầm như muốn át cả những hồi trống cầm nhịp dồn dập vang lừng.

Đội thắng cuộc bất chấp mình mẩy lấm bê bết bùn đất, họ cùng nhau tâng cao trái cầu gỗ đỏ rực trên bầu trời rực rỡ ánh nắng xuân in hình trên những rặng cây xanh tươi. Đó là một khuôn hình đại toàn cảnh thật tráng lệ trong cuốn phim phóng sự của chuyên mục Hà Nội ngàn năm văn hiến.

Tiền thưởng của hội vật cầu mùa xuân Thuý Lĩnh chủ yếu do bà con dân làng và các nhà hảo tâm đóng góp tài trợ. Tiền thưởng tuy không cao song có giá trị động viên tinh thần rất lớn. Đó là vinh dự rất lớn cho đội tuyển đó trong hội thi. Đội tuyển của hai chàng trai này vừa đoạt được một giải cái sau ba phiên thi đấu khá cam go.

Chiều ngày mồng sáu tháng Giêng là ngày kết hội của hội vật truyền thống Mai Động, Hoàng Mai và cũng là ngày kết hội của hội vật cầu Thúy Lĩnh, Lĩnh Nam. Và bà con dân làng hai vùng quê lại hẹn cùng nhau chờ đến dịp hội làng tháng Giêng năm tới trong những trận đấu sôi động và đầy bất ngờ cùng những gương mặt các đội tuyển thủ trẻ trung mới mẻ lớn lên từ chính mảnh đất của làng quê thân thương.

Nội dung bài Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Đôi ván cờ ngày xuân

Đôi ván cờ ngày xuân

“Đôi ván cờ ngày xuân" là nhan đề bài Podcast của tác giả: Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung - Nguyên trưởng ban Văn hoá - Xã hội; Đài PT-TH Hà Nội, bài viết trong cuốn sách “Hà Nội mến thương” của chính tác giả với nhiều bài viết ý nghĩa về những nét văn hoá độc đáo về mảnh đất và con người đất Kinh Kỳ. Xin mời quý vị cùng lắng nghe.
Bài viết:
Tự ngàn năm xưa, cầm kỳ thi hoạ, vốn là bốn thú chơi tao nhã của người Á Đông. Có nhiều người ngờ rằng, câu chuyện cuộc cờ tiên vỗn là không có thực. Mà cái có thực, hình như là sự thoát tục, cao siêu của một thú chơi đẹp đẽ và tao nhã trong chốn nhân gian. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, thì cờ tướng du nhập vào nước ta muộn nhất là vào thời Bắc thuộc, cách đây trên ngàn năm. Đó là một thú chơi văn hóa, hay là một môn thể thao trí tuệ, hay là tổng hòa cả hai, người ta thường không mấy phân tách rạch ròi.

undefined
Cuốn sách "Hà Nội mến thương".

Thoạt nhìn, khó ai đã đoán đúng tuổi của cụ ông Nguyễn Đắc Dần nhà ở phố Hoàng Hoa Thám, đoạn gần chợ Bưởi. Râu tóc bạc như tơ, nhưng dáng người quắc thước, nước da đỏ au đi đứng nhanh nhẹn, đường hoàng, vững chãi, nói năng vui vẻ, hài hước, cụ vốn chỉ là một viên chức bình thường của ngành đường sắt về nghỉ hưu từ mấy chục năm nay. Con cái đã phương trưởng, đàng hoàng, mỗi người mỗi cơ, mỗi ngũ, hàng ngày cụ thong dong tận hưởng những thú vui tuổi già mà cụ hằng ưa thích. Nhất là thể dục dưỡng sinh và võ dân tộc. Nhì là chơi hoa cây cảnh và ba là thú đánh cờ. Chiều cụ, anh con trai út tuổi Đinh Dậu những lúc rảnh việc thường hầu cờ cùng cha vài ba ván. Khi cao hứng, cụ thường kể cho con những giai thoại xung quanh thú chơi cờ. Ai được nhìn thấy cụ ngồi đánh cờ bên chiếc bàn gỗ lên nước sẵm bóng, cạnh chậu lan mặc biên thơm một làn hương dịu ngọt, sẽ có thể ngỡ mình đang được xem một cuộc cờ tiên. Cụ Nguyễn Đắc Dân luôn lưu giữ bên mình một cuốn sổ tay cũ kỹ, nhiều trang đã ở vàng, không biết đã có từ bao năm rồi. Trong đó cụ ghi chép những thế cờ độc đáo. Đặc biệt, có một thế cờ mà cụ tâm đắc mãi, không chỉ vì cái hay thông thường của một nước cờ cao mà còn hơn thế. Đó chính là nước cờ do cụ chủ tịch nước Hồ Chí Minh sáng tác và đựợc in trên báo Lao Động năm 1966. Cụ Dẫn đã từng lấy nước cờ này đem đố rất nhiều bậc đại cao thủ làng cờ Hà Nội, mà chưa ai giải nỗi. Ngay như cụ Dần, cũng chỉ giải nồi theo bài dẫn đăng kèm trên số báo sau.

Khi chén rượu, khi cuộc cờ.
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên

Tự ngàn năm xưa, cầm kỳ thi hoạ, vốn là bốn thú chơi tao nhã của người Á Đông. Có nhiều người ngờ rằng, câu chuyện cuộc cờ tiên vốn là không có thực. Mà cái có thực, hình như là sự thoát tục, cao siêu của một thú chơi đẹp đẽ và tao nhã trong chốn nhân gian.
Theo các nhà nghiên cứu văn hoa, thì cờ tướng du nhập vào nước ta muộn nhất là vào thời Bắc thuộc, cách đây trên ngàn năm. Đó là một thú chơi văn hoá, hay là một môn thể thao trí tuệ, hay là tổng hòà cả hai, người ta thường không mấy phân tách rạch ròi. Nhất là khi đã vào cuộc cờ, lại trong một khung cảnh thiên nhiên xinh đẹp, hữu tình cùng những người bạn thân thiết. Khi hương xuân, vị tết tràn ngập không gian, người ta có thể dành thời gian tận hưởng đôi ba niềm vui vì thành quả của một năm trời vất vả trong cuộc mưu sinh vốn không ít những lo lắng, ưu phiền khó tránh. Niềm vui ấy sẽ càng được nhân lên trong những cuộc cờ người ở hội làng.
Cách đây gần sáu mươi năm, có một chàng trai Hà thành say mê cờ tướng vào hạng nhất. Chàng trai Nguyễn Tấn Thọ từng ba năm liền đoạt giải cờ chùa Vua, một giải cờ dân gian danh tiếng nhất xứ Bắc và được khắc tên trên tấm bia đá của chùa. Hội cờ chùa Vua mở vào ngày mồng 6 tháng Giêng năm mới. Tương truyền, vào thời Lê cách đây trên năm trăm năm, có một vị hoàng tử con vua nổi tiếng mê cờ. Ngài đã cho dựng một ngôi chùa trên đất làng Thịnh Yên phía nam kinh thành Thăng Long để thờ vị vua cờ huyền thoại Đế Thích và lập sân đấu cờ trước sân chùa cho dân chúng vui xuân. Cho tới bây giờ, vua cờ Nguyễn Tấn Thọ vẫn được giới danh thủ đất Hà Nội tôn vinh là bậc cao cờ hạng nhất. Đã từ nhiều năm nay, vào ba tháng mùa xuân, hiếm ai có thể tìm thấy ông tại nhà. Ông thường được hàng trăm làng xã ở khắp vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ mời gọi làm cố vấn cho các hội cờ xuân thôn quê. Hào hưng với việc khôi phục lại một nét đẹp của mùa xuân xứ Bắc, vua cờ Nguyễn Tấn Thọ hầu như không nghĩ mình đã ở tuổi ngót bát tuần. Nhưng cái tinh thần của cờ tướng trong thời kỳ mới, ông hầu như thấu hiểu tới tận cùng.
Hà Nội còn có một bậc kỳ thủ cao niên rất nồi danh là vua cờ Lê Uy Vệ, cụ từng là phó chủ tịch Liên đoàn cờ Việt Nam. Dù nghỉ hưu đã mấy chục năm song giới kỳ thủ đất Bắc vẫn tôn vinh cụ là người có chuyên môn xuất sắc và có những nước cờ rất hào hoa, thoáng đạt. Ngắm lão vương Lê Uy Vệ diện áo gấm đỏ, đội khăn xếp đỏ, gương mặt hồng hào, đôi mắt tinh anh, ai đó đều mong ước cụ sống sống lâu trăm tuổi và mỗi dịp hội cờ chùa Vua mùa xuân, cụ lại hiện diện như một biểu tượng tuyệt đẹp của thú chơi cao nhã cổ truyền dân tộc.
Mùa xuân năm ấy, ở độ tuổi ngót tám mươi, nhà nghiên cứu văn hóa phương đông Ngô Linh Ngọc vẫn được người Hà Nội tôn vinh là người toàn tài cầm kỳ thi họa trong giới trí giả ở Việt Nam. Riêng đối với cờ, ông từng là người sáng lập ra hội cờ Thuyền Quang vào năm 1936, năm mở đầu phong trào mặt trận dân chủ Đông Dương ở Việt Nam, với rất nhiều hoạt động nhằm tôn vinh và phục hồi những nét đẹp trong nền văn hóa dân tộc. Trong tủ sách gia đình, có hai cuốn sách mà ông yêu quý nhất. Đó là cuốn
Trung Quốc tượng kỳ từ điển, và Tượng kỳ toàn thư. Hai cuốn sách dây cộp, có các thế cờ minh hoa cho cách dánh, có chú thích, có diễn giải một cách sáng sửa, rõ ràng. Ong Ngọc khi trò truyện với chúng tôi cứ ao ước hoài rằng chừng nào Việt Nam có được đôi ba cuốn sách như vậy thì bộ môn văn hóá thể thao cờ tướng sẽ có cơ phát triển mạnh mẽ hơn.
Vài mươi năm trước, với bút danh Kỳ Hữu, ông đã là một cây bút hàng đầu của tạp chí Người chơi cờ Việt Nam. Ông từng sưu tâm và cải biên hàng trăm thế cờ nổi tiếng của phương đông để giới thiệu với làng cờ tướng Việt Nam, góp phần không nhỏ cho phong trào cờ tướng của Hà Nội. Tuy nhiên, có một công trình nghiên cứu mà ông đang say mê theo đuổi, đó là việc sưu tẩm, các áng văn thơ cổ kim về để tài cờ tướng. Nhất là các bài thơ cờ của các bậc vua chúa ngày xưa và các vị lãnh tụ thời nay. Nào thơ của Hán Vũ Đế, thơ của Đường Thái Tông bên Trung quốc, thơ của Lê Thánh Tông, thơ của Hồ Chủ tịch ở Việt Nam. Nếu ai đó có cùng sở thích, xin hãy tìm đến ngôi nhà nhỏ của nhà thơ Ngô Linh Ngọc ở Khu tập thể Trường Đại học Bách khoa. Được hầu chuyện một người như ông, hẳn là ta có thể quên thời quên khắc.
Nhưng mà người Á Đông từng truyền tụng nhau câu danh ngôn cổ: "Rạp dẫu có dựng dài ngàn dặm, buổi tiệc nào là buổi tiệc không tan". Bất cứ một niềm đam mê nào cũng bao hàm một sự thái quá. Mà không phải sự thái quá nào cũng có thể được xã hội chấp nhận. Trong kho tàng sưu tầm của nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Linh Ngọc, có một chỉ dụ của vị Hoàng Đế họ Đinh nước Việt cách đây gần 10 thế kỷ về việc ra hình phạt với người quá ham mê đánh cờ mà bỏ bễ việc công. Cụ còn nhắc đến bài hịch tướng sĩ của Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn với lời nhắc nhở phê bình quản sĩ chớ ham cờ tướng, chớ ham đá gà, chó ham đàn hát mà lơ là việc quân.
Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức có một thời từng đảm đương vị thế quan chức đầu ngành của sở văn hóa thông tin Hà Nội. Cơ quan của ông đóng tại bờ hồ Gươm. Mỗi khi kết thúc giờ làm việc, ông thường quá bộ sang đường, tìm vào câu lạc bộ cờ Ngọc Sơn, nơi ông là hội viên không chính thức từ hàng chục năm nay. Cởi chiếc áo khoác, đặt chiếc máy điện thoại di động trước mặt, thế là ông chủ mục vào bản cờ với hai bên quân xanh, quân đỏ. Bạn cờ của ông có nhiều người là quan chức trong ngành tư tưởng văn hóa của trung ương và Hà Nội. Nhiều vị đã nghỉ hưu song không ít vị còn đương chức. Hôm ấy tôi trông thấy cả nhà thơ Vũ Duy Thông, vụ trưởng vụ báo chí của Ban văn hóá tư tưởng Trung ương và một vài nhân vật quen thuộc trong chính làng báo của chúng ta. Họ tìm đến cờ tướng để giải trí hay là để rèn luyện, hay là cả hai. Trong cương vị hiện thời, ông có thể nói gì đây về một thú vui chưa dễ được hiểu, được quan niệm một cách thuần nhất.


Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.


Nhưng ở độ tuổi của cụ ông Nguyễn Đắc Dần, tuổi ngót chín mươi thì một năm 365 ngày đều có thể coi là những ngày xuân, xuân bất tận và vui bất tận. Có thể lắm chứ, bởi ván cờ chính của cuộc đời, cụ đã hoàn thành trên mọi phương diện, tuy chẳng vẻ vang cao xa, nhưng cũng đủ để cháu con nể trọng, mến yêu. Hôm nay, vừa rời cuộc biểu diễn võ dân tộc ở câu lạc bộ người cao tuổi quận Cầu Giấy, cụ ông Nguyễn Đắc Dần lại cầm chiếc bình tưới cho mấy chậu địa lan trước khi thong thả ngồi vào bàn cờ tướng.
Nếu ai đó có lòng đến thăm cụ ở cửa hàng hoa cảnh Nhất Chi Mai, xin hãy nhớ đừng chúc cụ sống lâu trăm tuổi. Bởi cụ sẽ không bằng lòng đâu. Cụ vẫn nói rằng cụ còn có thể sống lâu hơn thế nữa kia. Hãy chờ mà xem. Ván cờ hay nhất của cụ còn đang ở phía trước.
Nội dung bài Podcast đến đây xin được tạm dừng. Thân mến chào tạm biệt quý vị!

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ và dấu mốc những năm Tỵ

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ và dấu mốc những năm Tỵ

“Cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ và dấu mốc những năm Tỵ” là nhan đề vài viết của Đại tá, Nhà báo Đỗ Phú Thọ, kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Bài viết:

Năm Ất Tỵ 2025 có khá nhiều sự kiện kỷ niệm liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Năm Ất Tỵ 2025, nhân dân cả nước nói chung và ngành Công Thương nói riêng có khá nhiều sự kiện kỷ niệm liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Đặc biệt, nhiều sự kiện đã diễn ra vào những năm Tỵ.

Năm Ất Tỵ 2025 này có khá nhiều sự kiện kỷ niệm liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Sự kiện đầu tiên ở trong những ngày đầu xuân Ất Tỵ, đó là kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2025) mà Bác Hồ chính là người sáng lập. Người là tác giả đầu tiên của Cương lĩnh thành lập Đảng: Chính cương, sách lược vắn tắt; Chương trình hành động vắn tắt, Điều lệ Đảng…, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp vẻ vang của Đảng ta.

Nhiều người đều biết, Đảng ta ra đời vào mùa xuân Canh Ngọ. Thế nhưng có lẽ ít người biết rằng, để có sự kiện đặc biệt đó vào đầu xuân mới, trong năm Kỷ Tỵ 1929, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều hoạt động nỗ lực cho việc hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.

Năm 1929, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Thái Lan thì được tin Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội đang bị tan rã. Tháng 5/1929, Đại hội lần thứ nhất của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội được tiến hành tại Hương Cảng, trong đại hội, vấn đề thành lập Đảng được thảo luận, nhưng không đi đến thống nhất, đoàn đại biểu Bắc Kỳ rút khỏi đại hội về nước, đến ngày 17/6/1929 tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Ngày 25/7/1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ. Tháng 9/1929 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.

undefined
Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những sự kiện trên phản ánh xu thế của cách mạng Việt Nam. Song sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một Đảng thống nhất lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc, người duy nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu đó của lịch sử: Thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam.

Cuối năm 1929, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Thái Lan về Trung Quốc để chuẩn bị việc hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Quá trình chuẩn bị cho Hội nghị hợp nhất được bắt đầu từ ngày 6/1/1930 (tức ngày 7 tháng Chạp năm Kỷ Tỵ). Sau những buổi bàn luận kỹ càng, Người đã quyết định triệu tập Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Nhận được tin, các đoàn đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng lần lượt đến Hồng Kông vào những ngày giáp Tết. Hội nghị bắt đầu ngày mùng năm Tết Canh Ngọ (tức ngày 3/2/1930). Sau 5 ngày thảo luận sôi nổi và khẩn trương, Hội nghị đã nhất trí tán thành hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

11 năm sau sự kiện thành lập Đảng và 30 năm sau kể từ năm Bác Hồ từ bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, mùa Xuân Tân Tỵ (năm 1941), Người từ nước ngoài trở về Tổ quốc qua biên giới Việt - Trung, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Cùng năm 1941, vào tháng 5, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đã xác định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương. Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi, lấy tên là Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, cách mạng Việt Nam chuyển hẳn sang một thời kỳ mới. Hơn 4 năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công, Tổng Khởi nghĩa thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Mùa xuân Quý Tỵ 1953, sau 8 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta đã thu được nhiều thắng lợi, chuẩn bị bước vào giai đoạn tổng công kích 1953-1954. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Thơ chúc Tết xuân Quý Tỵ, 1953”. Bài thơ có đoạn: “Mừng năm Thìn vừa qua, / Mừng Xuân Tỵ đã tới. / Mừng phát động nông dân,/ Mừng hậu phương phấn khởi./ Mừng tiền tuyến toàn quân/ Thi đua chiến thắng mới. / Mừng toàn dân đoàn kết, / Mừng kháng chiến thắng lợi./ Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,...”

Thơ chúc Tết của Bác như hồi kèn thúc giục toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta lao vào trận tuyến để làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” vào năm sau (1954).

Mùa Xuân năm Ất Tỵ 1965, Bác Hồ bước vào tuổi 75 và bắt đầu suy nghĩ viết Di chúc để lại. Như thường lệ, Bác gửi thơ Xuân tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước:

“Chào mừng Ất Tỵ xuân năm mới. / Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi. / Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi, / Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới, / Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi, / Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng, / Chủ nghĩa xã hội ngày càng thắng lợi! / Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công!”

8 giờ 30 phút ngày mồng một Tết Ất Tỵ, Bác gặp mặt hơn 2 vạn đại biểu các dân tộc trong tỉnh Quảng Ninh để chúc mừng năm mới. Nhân dịp này, Người tặng quân và dân Quảng Ninh lá cờ thưởng luân lưu cho toàn ngành than và thiếp chúc Tết cho những đơn vị, cá nhân có thành tích.

Gần trưa mồng một Tết, Bác rời Hòn Gai tiếp tục đi chúc Tết nhân dân huyện Yên Hưng. Bác “xông đất” một số gia đình xã viên Hợp tác xã Khe Cát. Bác rất vui khi thấy trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng gia đình nào cũng có bánh mật, bánh chưng, chè Ba Đình và hoa đẹp. Bác thân mật chúc Tết các gia đình, gần gũi thân thương như một người ông đi xa trở về.

Đầu Xuân mới Ất Tỵ 2025 này, đọc lại Bản Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta có quyền tự hào báo cáo với Người rằng, ước nguyện của Người đã và đang được toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện. Đặc biệt, mùa Xuân này là dấu mốc quan trọng để dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới với mục tiêu “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” theo đúng ý nguyện của Bác trước lúc đi xa.

Bài Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Không được làm trái với nghĩa vụ người Đảng viên

Không được làm trái với nghĩa vụ người Đảng viên

“Không được làm trái với nghĩa vụ người Đảng viên" là nhan đề bài viết của tác giả Công Minh, Báo Công Thương xin được gửi đến quý vị khán giả trong chương trình Podcast ngày hôm nay.

Bài viết:

Lịch sử 95 năm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trưởng thành, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã chứng minh: “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”.

Vai trò gương mẫu của đảng viên xuất phát từ vị trí hết sức quan trọng của đảng viên của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định mọi công việc của Đảng đều do đảng viên làm; mọi nghị quyết, mọi khẩu hiệu, kế hoạch của Đảng đều do các đảng viên chấp hành, triển khai thực hiện. Người cũng nêu rõ mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng nhân dân.

Từ vai trò, vị trí quan trọng đó, đòi hỏi đảng viên phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, không được làm trái với nghĩa vụ đảng viên. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không giữ vững kỷ luật của Đảng, không kiên quyết chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng, không thiết tha quan tâm đến lợi ích của Đảng - là trái với nghĩa vụ đảng viên”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thường xuyên nhấn mạnh đến vấn đề kỷ luật Đảng, khẳng định sức mạnh vô địch của Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam chính là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ và đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Đảng ta là một đảng cầm quyền, phải giữ gìn Đảng thật sự trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân và muốn được như vậy thì mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

undefined

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiệm vụ sống còn của Đảng là phải không ngừng xây dựng chi bộ tốt, đảng viên tốt

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn có những chủ trương, giải pháp tích cực, hiệu quả để đảng viên thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình. Cụ thể: Đảng phải ra sức tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Trong Đảng phải luôn nghiêm chỉnh thực hành phê bình và tự phê bình, Đảng phải hoan nghênh, khuyến khích, tạo thuận lợi để quần chúng nhân dân thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Đồng thời, phải thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt của chi bộ, giữ nghiêm minh kỷ luật của Đảng và thực hiện chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng.

Trước hết, đội ngũ đảng viên cần thật sự tự giác, rèn luyện phấn đấu cả trong lời nói cũng như việc làm, ở mọi lúc, mọi nơi, trở thành những gương sáng để quần chúng nhân dân noi theo. Từng đảng viên cần chú ý khi có thành tích, kết quả tốt thì không chủ quan, kiêu ngạo; khi có khuyết điểm thì phải thẳng thắn chỉ ra và tích cực sửa chữa, khắc phục để tiến bộ. Đặc biệt, hiện nay, nhiều cán bộ, đảng viên đã phát huy vai trò chủ động, tích cực tuyên truyền, vận động để gia đình, người thân cùng gương mẫu, làm tốt theo Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9/5/2024 của Bộ Chính trị khóa XIII về chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên trong thời kỳ mới.

Cùng với nỗ lực tự giác rèn luyện phấn đấu của mỗi cán bộ, đảng viên thì rất cần sự vào cuộc, đồng hành, giúp đỡ của các tổ chức đảng, hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiệm vụ sống còn của Đảng là phải không ngừng xây dựng chi bộ tốt, đảng viên tốt. Người yêu cầu các tổ chức đảng, hệ thống chính trị và nhân dân “có cơ chế chính sách, quy định, cách làm phù hợp, tích cực, tạo thuận lợi, giúp đỡ, đồng hành cùng cán bộ, đảng viên trong tiên phong, gương mẫu. Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đến việc giúp đỡ cán bộ, đảng viên vượt qua sai phạm, khuyết điểm. Người nhắc nhở: “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”.

Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tăng cường các hoạt động chống phá xuyên tạc về đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Chúng xuyên tạc, bịa đặt trên mạng xã hội rằng, đảng viên cộng sản đều hư hỏng, không chịu rèn luyện, phấn đấu, không còn uy tín với nhân dân. Thậm chí chúng còn trắng trợn, kích động, kêu gọi trên mạng xã hội: Cộng sản là thảm họa cần phải có vũ khí để chống lại…

Nhưng cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân luôn hiểu rõ bản chất thâm độc, xấu xa của những kẻ xuyên tạc, chống phá. Vì vậy, cán bộ, đảng viên vẫn làm tròn nghĩa vụ phẩm chất, đạo đức, uy tín của người đảng viên, vẫn giữ được uy tín trong nhân dân và quần chúng nhân dân vẫn vững vàng tin yêu, kiên định tiến lên trên con đường cách mạng tươi sáng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, nhân dân đã lựa chọn với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cán bộ, đảng viên đã và đang tiếp tục phấn đấu làm tốt trách nhiệm, nghĩa vụ, tình cảm của mình với Đảng, nhân dân, đất nước, theo tinh thần Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra: “Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu thực hiện nhiệm vụ trên tinh thần đặt lợi ích chung lên trên hết, mạnh dạn đổi mới, sáng tạo, đột phá, dũng cảm hy sinh để đất nước phát triển”.

Nội dung Podcast của chúng tôi đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 3: Quốc gia có nền văn hóa vững chắc sẽ vượt qua mọi thử thách

Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 3: Quốc gia có nền văn hóa vững chắc sẽ vượt qua mọi thử thách

“Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 3: Quốc gia có nền văn hóa vững chắc sẽ vượt qua mọi thử thách” , kính thưa quý vị, trên đây là tiêu đề bài viết thứ 3, cũng là bài viết cuối cùng của tác giả Nguyễn Hòa, trong chuỗi bài viết được đăng tải trong chuyên mục Phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” - trên báo Quân đội nhân dân điện tử tại trang web qdnd.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Tại hội thảo cấp quốc gia “80 năm Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943-2023)-Khởi nguồn và động lực phát triển” tổ chức ngày 27-2-2023, nhấn mạnh tính cấp bách trong cuộc chiến chống xâm lăng văn hóa, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh: “Cần kiên quyết chống lại mọi sự xâm lăng về văn hóa, bài trừ các hình thức văn hóa lai căng, mê tín, dị đoan, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục”.

Sức mạnh văn hóa Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Công an Việt Nam, hằng năm, có hàng nghìn tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng; hàng chục nghìn thư ân xá quốc tế xâm nhập, tán phát, đưa vào bằng nhiều con đường khác nhau. Những điều này đặt ra vấn đề, chúng ta phải có những giải pháp cụ thể nào chống lại hiện tượng “xâm lăng văn hóa” trong chiến lược “diễn biến hòa bình” và “sức mạnh mềm văn hóa” của các cường quốc đang tác động trực diện đến tư tưởng, suy nghĩ của người dân trong nước, đặc biệt là thanh niên Việt Nam hiện nay, nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Thanh Tú, nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội cho rằng: Nền văn hóa Việt Nam có sức mạnh riêng. Nền văn hóa ấy trải qua hàng nghìn năm đấu tranh, chưa bao giờ khuất phục trước các nước lớn có sức mạnh lấn át về kinh tế hay sức mạnh quân sự. Đặc trưng lớn của văn hóa Việt Nam là sức mạnh tự thân. Vừa chống lại mạnh mẽ, vừa tiếp nhận, tiếp biến có ý thức, khiến cho các cuộc tấn công từ ngoại bang đều thất bại.

Cũng về vấn đề này, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội cho rằng, văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tiến trình phát triển của một quốc gia, đặc biệt là những quốc gia như Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ trình độ phát triển trung bình đến cao. Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là động lực và nguồn lực thúc đẩy sự phát triển bền vững về mọi mặt: Kinh tế, xã hội, khoa học, giáo dục...

Trong quá trình chuyển tiếp này, văn hóa giúp định hình bản sắc dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống, đồng thời tạo ra sự ổn định xã hội và sự đồng thuận trong các chính sách phát triển. Một quốc gia có nền văn hóa vững mạnh sẽ có khả năng vượt qua các thử thách trong quá trình toàn cầu hóa, giữ vững được bản sắc trước những thay đổi nhanh chóng về mặt kinh tế và công nghệ.

undefined
Nghề dệt truyền thống được đồng bào các dân tộc tại tỉnh Gia Lai gìn giữ, phát huy và giúp nhiều người thoát nghèo. Ảnh: Hoa Huyền.

Bên cạnh đó, văn hóa còn là yếu tố then chốt trong việc xây dựng niềm tin, tinh thần cộng đồng, và động lực làm việc của người dân. Văn hóa không chỉ là yếu tố truyền tải giá trị tinh thần mà còn là công cụ định hướng, quản lý sự thay đổi trong xã hội. Đối với các quốc gia đang phát triển như chúng ta, văn hóa có thể là chìa khóa để xây dựng nền tảng vững chắc, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hòa giữa các lĩnh vực và nâng cao đời sống của nhân dân.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn còn nhấn mạnh, để phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chiến thắng các thế lực thù địch muốn áp đặt văn hóa, xâm lăng văn hóa, chúng ta cần xây dựng và củng cố nền văn hóa vừa giữ vững được bản sắc truyền thống, vừa thích ứng và phát triển cùng những thay đổi nhanh chóng của thời đại. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, bản sắc văn hóa dân tộc như một ngọn lửa thiêng cần được gìn giữ và trao truyền. Giữa dòng chảy mạnh mẽ của các luồng văn hóa ngoại nhập, bảo vệ bản sắc dân tộc không phải là sự khép kín mà là cách khẳng định lòng tự tôn, bản lĩnh và sự độc đáo của dân tộc ta. Bản sắc ấy là tâm hồn, là cội nguồn của sự phát triển, giúp chúng ta đứng vững và không bị hòa tan giữa những biến động của thế giới.

Văn hóa cần được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển

Muốn đánh bại các thủ đoạn nô dịch, xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch thì văn hóa phải thực sự đóng vai trò trong việc định hình các chuẩn mực xã hội, tạo ra tinh thần đồng thuận, nuôi dưỡng những giá trị cốt lõi như lòng nhân ái, tinh thần sáng tạo và ý thức cộng đồng. Một quốc gia có nền văn hóa vững chắc là một quốc gia có khả năng vượt qua mọi thử thách, duy trì sự ổn định và đồng lòng để tiến bước.

Văn hóa với vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, cần được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển trong kỷ nguyên mới. Đó không chỉ là một khía cạnh phụ trợ cho kinh tế hay xã hội mà là yếu tố cốt lõi định hình bản sắc, tạo dựng giá trị và thúc đẩy sự phát triển bền vững. Nếu coi kinh tế là xương sống thì văn hóa chính là linh hồn, là nguồn năng lượng tinh thần giúp xã hội phát triển hài hòa, toàn diện. Văn hóa phải thực sự là ánh sáng “soi đường cho quốc dân đi”. Văn hóa là sức mạnh vô hình nhưng bền vững, là nền tảng vững chắc để xây dựng một xã hội thịnh vượng cả về vật chất lẫn tinh thần.

Vậy phải làm gì để bản sắc văn hóa của dân tộc không bị mai một, hòa tan, trộn lẫn vào các dòng văn hóa khác của các nước hay các trào lưu mới trên thế giới, khi chúng ta hội nhập với thế giới ngày càng sâu hơn? TS Nguyễn Ánh Hồng, nguyên Trưởng khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho rằng: “Để ngăn chặn tình trạng xâm lăng văn hóa, đặc biệt trên mạng xã hội thì chúng ta phải trang bị cho cộng đồng và trước hết là các bạn trẻ những hiểu biết về văn hóa giao tiếp, ứng xử trên mạng xã hội. Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội phải được trang bị và đưa vào trong chương trình giáo dục. Tôi nhấn mạnh rằng, nếu các bạn trẻ tăng cường hiểu biết những giá trị của văn hóa truyền thống, hiểu biết được hệ giá trị trong tâm thức của văn hóa Việt Nam và luôn có lòng tự hào, tự tôn dân tộc, có ý thức và có trách nhiệm để bảo vệ các giá trị văn hóa đó, họ sẽ có sức đề kháng trước những tác động của văn hóa ngoại lai”.

Đánh giá cao phương án phải giáo dục cho thế hệ trẻ từ sớm, PGS, TS Bùi Hoài Sơn cũng nhấn mạnh: Giáo dục văn hóa cần phải trở thành trọng tâm. Bắt đầu từ gia đình, trường học cho đến cộng đồng. Giáo dục văn hóa không chỉ là việc truyền dạy lý thuyết mà còn là sự trải nghiệm thực tế thông qua các hoạt động nghệ thuật, lễ hội, phong tục, tập quán. Khi văn hóa trở thành một phần tự nhiên trong đời sống hằng ngày, nó sẽ không bị lãng quên hay pha loãng.

Gìn giữ bản sắc văn hóa, lan tỏa giá trị cốt lõi

Vậy cần làm gì để giữ vững bản sắc văn hóa trong dòng chảy toàn cầu hóa? PGS, TS Bùi Hoài Sơn cho rằng: Trước hết, điều căn bản là xác định rõ giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. Chúng ta cần hiểu sâu sắc về lịch sử, phong tục, tập quán, triết lý sống và những giá trị truyền thống đã được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Đây là nền tảng không thể thay thế, là căn cốt của bản sắc dân tộc.

Sáng tạo không có nghĩa là thay đổi bản chất của văn hóa, mà là tìm kiếm những cách thức mới để biểu đạt và truyền tải những giá trị ấy. Việc biến văn hóa thành một "tài sản" không chỉ giúp bảo tồn mà còn phát triển và quảng bá văn hóa dân tộc ra thế giới. Hội nhập với thế giới là điều tất yếu, nhưng giữ gìn bản sắc văn hóa là nhiệm vụ quan trọng hơn bao giờ hết, để dân tộc ta luôn có một bản ngã riêng biệt, tự tin bước ra thế giới với một vị thế đáng tự hào.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: Để văn hóa thực sự là nền tảng cho sự phát triển bền vững, chúng ta cần hành động quyết liệt và đồng bộ trên cả phương diện lý luận, thực tiễn và đầu tư. Về lý luận, trước tiên, chúng ta cần xây dựng một hệ thống lý luận về phát triển văn hóa hiện đại nhưng vẫn giữ được tính bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó, việc xây dựng và phát triển lý thuyết liên ngành là cực kỳ quan trọng. Văn hóa không thể tách rời với kinh tế, chính trị hay môi trường. Ngoài ra, làm tốt công tác phối hợp giữa văn hóa và các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh. Mối quan hệ này cần được xử lý trên tinh thần kết nối và tương hỗ lẫn nhau. Điều này có thể nhìn từ cách thức phối hợp tổ chức, uy tín, thông điệp tích cực của Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2024 vừa diễn ra cách đây ít ngày. Văn hóa đã len lỏi vào mọi lĩnh vực, và ngược lại trong mọi lĩnh vực đều có yếu tố văn hóa.

Về đầu tư, văn hóa cần được đầu tư xứng tầm cả về tài chính lẫn nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực văn hóa phải đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng con người mới cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, bởi con người chính là chủ thể của mọi sự phát triển, đặc biệt trong một thế giới đầy biến động và cạnh tranh. Văn hóa giúp tạo ra những công dân có trách nhiệm, có lòng yêu nước và ý thức tự hào về bản sắc dân tộc; sống có đạo đức, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng.

Những giá trị này không chỉ tạo nên một cá nhân hoàn thiện mà còn góp phần xây dựng một xã hội đoàn kết, bền vững và mạnh mẽ. Trong kỷ nguyên mới, khi công nghệ và toàn cầu hóa tác động mạnh mẽ, nền tảng văn hóa chính là yếu tố giúp con người giữ vững bản sắc, tránh bị cuốn theo những trào lưu hay ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài. Đây là cái gốc để chiến thắng trước văn hóa ngoại lai, lai căng, xâm lăng văn hóa.

Đặc biệt, cần nhìn văn hóa như một yếu tố chiến lược trong việc nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế, biến văn hóa thành “sức mạnh mềm” để hội nhập một cách chủ động, tự tin đánh bại âm mưu, ý đồ của các thế lực muốn đồng hóa, xâm lăng văn hóa. Hành động quyết liệt từ sớm, từ xa, để đừng bao giờ "văn hóa bị lâm nguy" như lời cảnh tỉnh của đại văn hào Nga M.Gorki.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Chính luận 35 của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Đừng vội a dua, để thế lực thù địch lợi dụng kích động

Đừng vội a dua, để thế lực thù địch lợi dụng kích động

“Phòng, chống diễn biến hòa bình: Đừng vội a dua!” - Kính thưa quý vị, trên đây là nhan đề bài Podcast được đăng tải trên báo Quân đội nhân dân của tác giả Huy Phong mà chúng tôi muốn gửi đến quý vị và các bạn ngày hôm nay. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Tại nhà văn hóa tổ dân phố, Bí thư Chi bộ Hùng và Tổ trưởng dân phố Nam đang sôi nổi bàn luận về những quyết sách của đất nước tại Kỳ họp thứ tám (Quốc hội khóa XV) thì Tân đến chơi thể thao. Không vui vẻ như thường ngày, ném túi vợt cầu lông xuống sân, giọng Tân bức xúc:

- Hai chú thấy không? Cái nghị quyết đường tàu cao tốc Bắc-Nam Quốc hội vừa thông qua mà người ta nói ghê lắm! Nào là tốn tiền, nào là vô ích, chỉ để “làm màu” thôi..!

- Cậu nghe ở đâu nói vậy? - Ông Hùng giọng nhẹ nhàng.

- Trên mạng rất nhiều người phản đối. Họ bảo số tiền đó để xây bệnh viện, trường học, đầu tư những công trình thiết thực khác. Chứ hơn 1,7 triệu tỷ đồng thì tiền lấy đâu ra; rồi lại đội vốn như nhiều công trình khác; không khả thi và không thể thực hiện được...

undefined
Phối cảnh nhà ga đường sắt tốc độ cao.

- Nhưng Tân à, cậu đã nghiên cứu nội dung nghị quyết của Quốc hội chưa? Đã tìm hiểu về dự án này chưa? - Ông Nam hỏi lại.

- Cháu hơi bận, chưa để ý, nhưng người ta nói nhiều như thế thì chắc đúng thôi! Mạng xã hội đưa nhiều thông tin trái chiều mà.

- Tôi cũng từng lo lắng, nhưng tìm hiểu kỹ tôi biết, dự án được chuẩn bị trong gần hai thập kỷ. Chúng ta cũng đã tham khảo kinh nghiệm của nhiều quốc gia phát triển để hoàn thiện báo cáo nghiên cứu tiền khả thi rồi.

- Nhưng ông Hùng, ông Nam à, số tiền đó quá lớn. Rồi Nhà nước thiếu nợ thì sao?

- Theo nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và vốn ngân sách Trung ương giữa các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương; cho phép dự án được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù; phát hành trái phiếu; huy động các nguồn vốn hỗ trợ khác... - Ông Hùng phân tích.

- Đúng đó! Các công trình lớn đều có người đồng thuận, người phản biện. Chúng ta trước khi đánh giá, có ý kiến cá nhân thì phải tìm hiểu kỹ lưỡng. Người đứng đầu Đảng ta cũng đã khẳng định đây là thời gian chín muồi để triển khai rồi - Ông Nam tiếp lời.

- Nghe hai chú nói cũng có lý... Nhưng nếu thông tin đó sai thì làm sao chống lại những người "bôi xấu" trên mạng?

- Thì mình nói bằng hành động và kết quả cụ thể. Chỉ cần dự án này thành công, dân mình hưởng lợi, tự khắc họ sẽ hiểu. Nhưng trước hết, cháu phải ủng hộ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tìm hiểu ngọn ngành quá trình và kết quả nghiên cứu, triển khai dự án. Đừng để thế lực thù địch lợi dụng kích động.

- Cũng có thể cháu hơi vội vàng. Mai cháu sẽ tìm hiểu kỹ rồi trao đổi cùng hai chú.

Sáng hôm sau, Bí thư Hùng và Tổ trưởng dân phố Nam đang tập thể dục trong sân nhà văn hóa thì Tân đi qua, dừng xe chào: “Cháu xin lỗi hai chú vì chưa tìm hiểu kỹ đã a dua, nói bừa. Cả tối qua cháu đã tìm hiểu cặn kẽ. Đúng như hai chú nói, tuyến đường sắt tốc độ cao hiện đại sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững. Dự án rất quan trọng và tiền khả thi. Cháu sẽ phản bác những thông tin xuyên tạc kia các chú nhé".

Nói xong, Tân chào hai “cán bộ già” cẩn thận rồi mới lên xe đi. Bí thư Hùng nhìn Tổ trưởng dân phố Nam không nói gì, nhưng trong mắt hai ông ánh lên niềm vui!

Bài Podcast với nhan đề “Phòng, chống diễn biến hòa bình: Đừng vội a dua” đến đây xin được tạm dừng, thân ái chào tạm biệt quý vị!

Đừng nghe đồn thổi, xuyên tạc về Nghị định 168

Đừng nghe đồn thổi, xuyên tạc về Nghị định 168

“Phòng, chống diễn biến hòa bình: Đừng nghe đồn thổi!” - Kính thưa quý vị, trên đây là nhan đề bài Podcast mà chúng tôi muốn gửi đến quý vị và các bạn ngày hôm nay. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Đến nhà ông Tám chơi, thấy cậu Hạnh, con trai ông làm nghề lái xe taxi vẫn đang nằm trùm chăn trên giường, anh Tĩnh ngạc nhiên hỏi:

- Cậu Hạnh ốm à bác Tám?

- Không! Em nó vẫn khỏe. Nhưng nó bảo bây giờ chạy xe ra đường tiền công không đủ tiền nộp phạt vì có thông tư gì đó mới ban hành, mức phạt rất cao, mà các biển báo, đèn tín hiệu giao thông trên đường lại cố tình “bẫy” lái xe. Vì thế cánh tài xế dịch vụ nghỉ hết rồi.

- Làm gì có chuyện đó. Cháu thấy xe dịch vụ vẫn chạy bình thường mà. Chỉ khác là việc chấp hành luật lệ giao thông của lái xe tốt hơn thôi.

undefined
Người dân nghiêm túc chấp hành luật giao thông sau Nghị định mới.

Nghe anh Tĩnh nói vậy, Hạnh bật dậy, cắt ngang:

- Anh nhìn cuộc sống lúc nào chẳng màu hồng. Phải chịu khó lên các trang mạng xã hội để nghe cánh tài xế phản ánh thì mới hiểu được.

- Anh cũng hay vào các diễn đàn và biết rằng, thi thoảng có tuyến đường, có biển báo chưa hợp lý, còn bất cập, nhưng đó chỉ là cá biệt. Các cơ quan chức năng tiếp thu phản ánh đều kiểm tra, khắc phục. Đặc biệt, lực lượng chức năng chỉ xử phạt tài xế cố tình vi phạm...

- Thế anh có thấy ở đâu mà mức phạt lại cao như ở nước mình không?

Hạnh cố tranh luận. Anh Tĩnh vẫn điềm đạm:

- Mỗi quốc gia có đặc thù, quan điểm khác nhau. Em phải thấy rằng, trước đây, các cơ quan chức năng chủ yếu tuyên truyền, giáo dục, có xử phạt nhưng mức phạt nhẹ nên nhiều tài xế “nhờn” luật. Thành ra, bao năm rồi mà giao thông vẫn lộn xộn, số vụ tai nạn vẫn cao, nhiều vụ tai nạn đau lòng xảy ra do lái xe không tuân thủ luật giao thông. Chính vì vậy, anh ủng hộ việc nâng cao mức xử phạt để răn đe với các trường hợp cố tình vi phạm. Em để ý xem, từ khi nghị định mới ra đời, tình trạng vi phạm giao thông, số vụ tai nạn cũng giảm hẳn.

Thấy Hạnh im lặng, anh Tĩnh giọng chân thành:

- Em làm nghề lái xe dịch vụ, vì vậy, phải có cái nhìn khách quan. Mình cứ chấp hành nghiêm túc, chủ động tuân thủ thì không phải lo ngại gì. Trên mạng giờ phức tạp lắm. Người góp ý chân thành, mang tính xây dựng có, nhưng không ít người lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, chống phá, gây hoang mang dư luận. Nếu không tỉnh táo, em sẽ chẳng dám làm gì cả. Mà đang tuổi thanh niên, chẳng lẽ cứ nằm ở nhà ăn bám bố mẹ sao?

Ông Tám nghe anh Tĩnh nói vậy cũng khuyên:

- Anh Tĩnh nói đúng đấy. Mình cứ tuân thủ nghiêm, sống văn minh thì chẳng phải lo ngại gì đâu. Còn những câu chuyện cá biệt kia, bố tin sẽ được khắc phục, giải quyết dứt điểm thôi.

- Vâng! Con cám ơn bố. Em cám ơn anh Tĩnh. Giờ con ăn sáng rồi lại đi làm luôn đây ạ.

Bài Podcast với nhan đề “Phòng, chống diễn biến hòa bình: Đừng nghe đồn thổi!” đến đây xin được tạm dừng, thân ái chào tạm biệt quý vị!

Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 2: Cam go mặt trận không tiếng súng

Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 2: Cam go mặt trận không tiếng súng

“Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 2: Cam go mặt trận không tiếng súng” , kính thưa quý vị, trên đây là tiêu đề bài viết thứ 2 của tác giả Nguyễn Hòa, trong chuỗi bài viết được đăng tải trong chuyên mục Phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” - trên báo Quân đội nhân dân điện tử tại trang web qdnd.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Bài viết: Ngoài sự tấn công có chủ đích của các thế lực từ bên ngoài, còn có nguyên nhân từ sự buông lỏng trách nhiệm trong giáo dục từ gia đình, nhà trường, xã hội và các cơ quan chức năng, cộng thêm sự buông thả của các cá nhân. Như vậy, không cần tốn một viên đạn, các cường quốc đã xâm lăng văn hóa thành công, từng bước thực hiện cuộc thôn tính mềm, bành trướng văn hóa, bá chủ văn hóa.

Văn hóa độc hại, sùng ngoại, lai căng

Đánh giá đúng tầm mức sự nguy hại của làn sóng xâm lăng văn hóa, thể hiện rõ quyết tâm ngăn chặn làn sóng này, ngày 27-7-2010, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW “Về chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”.

Chỉ thị đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ, tác hại của các sản phẩm văn hóa độc hại và sự sùng ngoại, lai căng đã “tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc; có nguy cơ dẫn tới khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận công chúng; dẫn đến khuynh hướng “tự diễn biến” về chính trị, tư tưởng, tác hại lâu dài đến các thế hệ mai sau”.

Làn sóng xâm lăng văn hóa thể hiện rõ ở chỗ các nước phát triển, các nước lớn có âm mưu sẽ xây dựng chiến lược để lặng lẽ đưa các giá trị chuẩn mực, đạo đức xã hội, tư tưởng chính trị, phương pháp kinh tế... của họ dần áp đặt vào các nước đang phát triển thông qua giao tiếp giữa các nước. Từ phân tích trên, chúng ta có thể hiểu sự xâm lăng văn hóa là chiến lược được các cường quốc tính toán nhằm thực hiện tham vọng bá chủ thế giới. Không giống như các dạng truyền thống của quyền lực quốc gia, xâm lăng văn hóa thể hiện quyền lực mềm của một cường quốc.

undefined
Các hộ gia đình ở huyện đảo Trường Sa thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa. Ảnh: Hoa Huyền

Nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, văn hóa luôn là đối tượng mà các thế lực thù địch tập trung hướng đến thông qua nhiều cách thức, thủ đoạn, trong đó trắng trợn nhất là dùng văn hóa để xâm lược; tấn công bằng văn hóa để áp đặt các giá trị văn hóa và lối sống của phương Tây; phá hoại bản sắc văn hóa của dân tộc, từ lĩnh vực văn hóa chuyển hóa dần sang lĩnh vực chính trị; hình thành ý thức chống đối về chính trị, phản bội lại Đảng, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa; đi ngược lại với nền văn hóa của dân tộc.

Dùng văn hóa để phá hoại sự ổn định xã hội

Các chuyên gia trong lĩnh vực văn hóa, an ninh mạng đã phân tích và chia sẻ một số thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường dùng, đó là: Sản xuất các sản phẩm văn hóa mang hơi hướng thời đại, đánh mạnh vào tập tính thói quen của giới trẻ, những người yếu thế, tiểu thương, những người về hưu, người ít tiếp cận với thông tin chính thống từ cơ quan quản lý nhà nước. Với nhóm đối tượng này, chúng khuyến khích những nhu cầu văn hóa, tinh thần không lành mạnh, tạo ra các mâu thuẫn không có thật thông qua các tin giả được tán phát tinh vi, từ đó tạo ra khuynh hướng văn hóa đối lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa.

Tiếp đó, chúng thông qua các hoạt động trực tiếp và gián tiếp để lôi kéo nghệ sĩ, những người có ảnh hưởng đi theo trào lưu hưởng thụ xa hoa, các trào lưu sáng tác tự do, dân chủ kiểu phương Tây; lấy số ít người có ảnh hưởng làm “ngọn cờ”, từ đó tuyên truyền làm tha hóa thế hệ trẻ; từng bước làm cho thế hệ trẻ quên đi gốc văn hóa dân tộc, đua đòi ăn chơi, hưởng thụ, không quan tâm tới vận mệnh đất nước...

Bước tiếp theo tinh vi hơn, các thế lực thù địch thông qua các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để sản xuất, truyền bá các sản phẩm văn hóa xấu độc, lai căng với ý đồ rõ rệt là tạo thói quen xấu, nhân lên những hành vi phản nhân văn, phi tiến bộ, từng bước tác động vào tâm lý, sở thích, kích thích lối nghĩ, lối sống cá nhân ích kỷ, bạo lực, những ham muốn vật chất tầm thường.

Từng bước làm thay đổi các thang giá trị xã hội, đạo đức, lối sống, làm cho một bộ phận người dân trong xã hội sao nhãng nghĩa vụ, trách nhiệm với cộng đồng, đất nước. Kích thích lối sống hưởng thụ, ca ngợi dục vọng, lạc thú bản năng thấp hèn, chỉ lo cho mình mà quên đạo nghĩa, quay lưng lại với truyền thống và những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

“Dạo” một vòng trên các trang mạng xã hội, chúng ta có thể thấy rõ, nhiều trang mạng xã hội, các tờ báo điện tử của phương Tây có phiên bản tiếng Việt vẫn ngày đêm thêu dệt, đơm đặt những câu chuyện không có thật về các đồng chí lãnh đạo cấp cao; lợi dụng thông tin xử lý cán bộ để bôi nhọ, công kích Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng ra sức xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; phủ nhận giá trị của hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược trước đây và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của dân tộc hiện nay; đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa; làm lẫn lộn vai trò của những chiến sĩ cách mạng chân chính với những kẻ cướp nước, bán nước. Chúng ra sức quảng bá, tuyên truyền các giá trị văn hóa phương Tây; đề cao chủ nghĩa đa nguyên, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng; sử dụng tiêu chuẩn kép trong vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”...

Chúng cũng đầu tư không ít tiền bạc để quảng bá các sản phẩm văn hóa như phim, ảnh, video tuyên truyền, văn hóa phẩm, sách báo, văn học... với ý đồ thao túng rõ rệt nhằm phá hoại nền văn hóa của dân tộc ta; phá hoại sự ổn định xã hội.

Bằng các cuộc tiếp xúc trực tiếp, thông qua con đường du học, hội thảo, du lịch... những lời hứa hão, các thế lực thù địch đang thực hiện âm mưu ly gián về tư tưởng, chia rẽ về tổ chức, lôi kéo những người có ảnh hưởng cổ xúy cho các trào lưu tư tưởng văn hóa phương Tây, gây nhiễu loạn tư tưởng nhân dân, đặc biệt là giới trẻ.

Mục đích của chúng là từng bước làm cho người dân phai mờ những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam; từng bước xa rời sự lãnh đạo của Đảng trong công tác văn hóa, tiến tới phủ nhận tính giai cấp, tính Đảng trong văn hóa; tách lĩnh vực này ra khỏi đời sống chính trị-xã hội của đất nước, phá hoại bản sắc văn hóa của dân tộc, từ lĩnh vực văn hóa chuyển hóa dần sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa, đi ngược lại với nền văn hóa của dân tộc... Đây là mưu đồ rất thâm độc của các thế lực thù địch khi chúng quyết tâm từng bước xâm lăng văn hóa đối với nước ta.

Ngăn chặn từ sớm hành vi mở rộng xâm lăng văn hóa

Những bước đi của cuộc xâm lăng văn hóa đang dần mở rộng ở các cấp độ và phạm vi khác nhau trong tổng thể chiến lược thôn tính văn hóa, nhất là trong bối cảnh nước ta tham gia hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Việc chúng ta tham gia tích cực vào một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; đón đầu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng sự bùng nổ các thiết bị thông minh kết nối mạng, mọi biến đổi, tác động từ bên ngoài dù nhỏ nhất cũng gây ra ảnh hưởng, theo chiều hướng ngày càng rộng và đa dạng.

Các nước phương Tây hiểu rõ điều này và cũng quyết tăng cường sử dụng “sức mạnh mềm văn hóa” kết hợp cùng sự phát triển vượt bậc của công nghệ, làm cho quá trình xâm lăng văn hóa diễn ra mạnh hơn. Các nước phương Tây và các cường quốc dựa vào công nghệ cao kiểm soát phương thức phổ biến thông tin, từ đó chủ động tạo định hướng dư luận với tốc độ chóng mặt.

Cùng với đó, quá trình toàn cầu hóa, đa dạng hóa văn hóa thế giới chính là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch công khai lợi dụng hội nhập văn hóa của các nước đang phát triển mà ra sức truyền bá các sản phẩm văn hóa độc hại, truyền bá giá trị tư bản chủ nghĩa, với mục đích cuối cùng là nô dịch văn hóa và đạt được các mục tiêu chính trị.

Mặt khác, chúng ra sức công kích Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; phủ nhận giá trị của hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược trước đây và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của dân tộc hiện nay; đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa, làm lẫn lộn vai trò của những chiến sĩ cách mạng chân chính với những kẻ cướp nước, bán nước, để rồi dần theo thời gian, các tầng lớp trong xã hội chấp nhận các giá trị phương Tây, quên đi lịch sử, văn hóa dân tộc, từng bước bị đồng hóa với văn hóa nước ngoài một cách “êm dịu”, không phản kháng.

Đây cũng là đặc điểm thay đổi lớn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà phương Tây đang áp dụng.

Văn hóa cũng là trận chiến không khoan nhượng

Hiểu rõ ý đồ của các thế lực, các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam cũng có sự đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng. Đánh giá về tầm quan trọng của nền tảng văn hóa đối với một quốc gia, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội cho rằng: “Văn hóa không chỉ là yếu tố truyền tải giá trị tinh thần mà còn là công cụ định hướng, quản lý sự thay đổi trong xã hội. Đối với các quốc gia đang phát triển như chúng ta, văn hóa có thể là chìa khóa để xây dựng nền tảng vững chắc, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hòa giữa các lĩnh vực và nâng cao đời sống của nhân dân.

Trong kỷ nguyên mới, khi chúng ta đối mặt với những thay đổi nhanh chóng về công nghệ, môi trường và lối sống, văn hóa cần được coi trọng hơn bao giờ hết. Văn hóa không chỉ là sự phản ánh quá khứ mà còn là sự dẫn dắt, định hướng cho tương lai như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Một quốc gia có nền văn hóa vững chắc là một quốc gia có khả năng vượt qua mọi thử thách, duy trì sự ổn định và đồng lòng để tiến bước trong bối cảnh toàn cầu hóa đầy cạnh tranh. Văn hóa là sức mạnh vô hình nhưng bền vững, là nền tảng vững chắc để xây dựng một xã hội thịnh vượng cả về vật chất lẫn tinh thần”.

Vì thế, tăng cường giáo dục, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới, như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên” vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hết sức quan trọng để ngăn ngừa tác động của những âm mưu, thủ đoạn xâm lăng văn hóa; tạo sức đề kháng, sự miễn dịch trong các tầng lớp nhân dân trước mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Chính luận 35 của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 1: “Vũ khí văn hóa

Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 1: “Vũ khí văn hóa "

“Cuộc xâm lăng tĩnh lặng - Bài 1: “Vũ khí văn hóa” , kính thưa quý vị, trên đây là tiêu đề bài viết của tác giả Nguyễn Hòa được đăng tải trong chuyên mục Phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” - trên báo Quân đội nhân dân điện tử tại trang web qdnd.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Bài viết: Một cuộc xâm lăng âm thầm, có vẻ tĩnh lặng đang diễn ra nhanh chóng, quyết liệt trên lĩnh vực văn hóa. Nhiều quốc gia “giật mình” bởi sức tàn phá từ các loại “vũ khí văn hóa” đối với an ninh quốc gia, tương lai dân tộc.

Trong bối cảnh hiện nay, câu tuyên ngôn bất hủ của đại văn hào Nga M. Gorki: “Đối với tôi, lời kêu gọi Tổ quốc lâm nguy cũng không đáng sợ hơn lời kêu gọi: Hỡi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!” chưa mất tính thời sự, là lời cảnh tỉnh, nhắc nhở mỗi quốc gia trước mối họa “xâm lăng văn hóa”.

Cảnh báo về nguy cơ xâm lăng văn hóa, nhà sử học người Israel-Yuval Noah Harari cho rằng, các sản phẩm văn hóa thông qua nhiều con đường khác nhau, nhất là internet, mạng xã hội, đang “là một vùng đất tự do và vô luật làm xói mòn chủ quyền quốc gia, phớt lờ các biên giới, phá hủy quyền riêng tư và đem lại mối đe dọa an ninh toàn cầu có thể nói là đáng sợ nhất”. Các sản phẩm văn hóa một khi trở thành vũ khí trong tay các thế lực muốn xâm lăng thì sự nguy hiểm tăng lên gấp bội.

Lấy văn hóa nước khác để tự đồng hóa mình

Trong kỷ nguyên số, khi sự giao lưu và trao đổi văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa kéo theo sự giao thoa, trao đổi, tương tác rất mạnh, văn hóa được xem là vũ khí hữu hiệu khi nó trở thành công cụ, vũ khí mềm, là “củ cà rốt” mà những nước lớn, các thế lực thù địch sử dụng để tiến hành cuộc xâm lăng mềm, xâm lăng bằng văn hóa, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Với mục tiêu đạt tới là đồng hóa văn hóa, tiến tới nô dịch văn hóa và bước cuối cùng là thay đổi văn hóa, suy nghĩ, hành động tại các nước đối tượng mà họ hướng tới.

Nhiều bạn trẻ cho rằng, làm gì có cuộc xâm lăng văn hóa nào, làm gì có chuyện giới trẻ bị đồng hóa văn hóa. Chúng tôi giải trí với trò chơi, phim ảnh, sách báo, mạng xã hội của nước ngoài đều đã được cấp phép; chúng tôi ăn uống các loại bánh trái, hoa quả, thực phẩm của nước ngoài cũng đều được sự cho phép của cơ quan chức năng; quần áo, kiểu tóc của chúng tôi, muốn học theo ai là do sở thích cá nhân... Chúng tôi theo chân các thần tượng nước ngoài là tôi muốn học hỏi để được thành công như họ...

undefined
Trẻ em tỉnh Hòa Bình được gia đình giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa từ những bộ trang phục. Ảnh: Hoa Huyền

Giải thích về “lý sự” của một số bạn trẻ đang mang suy nghĩ trên, TS Nguyễn Ánh Hồng, nguyên Trưởng khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho biết: Các bạn trẻ Việt Nam đang sống trong thời đại công nghệ số với tâm lý thích khám phá, thích thể hiện cái tôi cá nhân của mình, thích cái mới và thích sự thay đổi, nhưng lại chưa có đủ độ chín chắn, chưa đủ trải nghiệm, chưa đủ bản lĩnh để có thể phân biệt được đâu là những giá trị tích cực, đâu là giá trị tiêu cực từ bên ngoài đưa vào Việt Nam. Thế nên, một cách vô thức bị tác động, ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa ngoại lai. Các thế lực thù địch đã triệt để khai thác tác động tiêu cực của mạng xã hội, sử dụng nó trở thành một phương tiện thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thử hỏi, với một quốc gia hơn 100 triệu dân, nếu ai cũng sùng ngoại, sính ngoại như vậy, cũng hành xử như vậy, quốc gia ấy có phải bản sao của một nước khác không? Trong khi tại chính các nước phương Tây, như Mỹ đã đưa ra cảnh báo đỏ sẽ cấm hoạt động đối với mạng xã hội TikTok do nghi ngại vấn đề an ninh quốc gia. Ở Pháp cũng cấm trẻ em dưới 16 tuổi không được tiếp cận mạng xã hội. Một số nước khác thì ban hành những quy định nghiêm khắc đối với việc sử dụng mạng xã hội nếu vi phạm, truyền tải nội dung thông tin không đúng đắn, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, xúc phạm tôn giáo chính thống, kêu gọi biểu tình, lập hội nhóm bất hợp pháp, trò chơi bạo lực; xuyên tạc lịch sử thông qua các sản phẩm phim ảnh, văn học, sách giáo dục...

Ngẫm lại ở ta, đi đâu cũng gặp cảnh từ anh bán cơm tới chị bán hàng, từ nhà chờ xe buýt cho tới góc khuất một công sở... tay cầm điện thoại mà trên loa phát ra tràn ngập các phim ngắn về tổng tài, kiều nữ, anh hùng; các đoạn video, bài viết dạy dỗ, hướng dẫn “nuôi con kiểu Nhật”, “dạy con theo cách của người Do Thái”, “phong cách thời trang Hàn Quốc”, “truyện tranh Nhật Bản”... hình ảnh khoe tiền, khoe của, ăn uống vô độ, ứng xử bất kính... Rồi cứ đến dịp các ngày lễ của nước ngoài, như Halloween-lễ hội hóa trang; Valentine-ngày lễ tình nhân, lễ Giáng sinh... thì các nam thanh nữ tú lại xúng xính váy áo cũn cỡn, lố lăng, phản cảm “check in”, chờ dịp để khoe mẽ lối sống ảo.

Trong lĩnh vực truyền thông, khán giả truyền hình và những người tham dự các sự kiện mấy năm gần đây, đặc biệt là trên các kênh truyền hình cấp tỉnh chỉ biết thở dài ngao ngán khi chứng kiến tên không ít chương trình giải trí cũng nửa tiếng Việt, nửa tiếng Anh, rồi diễn viên, người dẫn chương trình thì khoe mẽ trình độ ngoại ngữ “nửa Tây, nửa ta” khiến bao người ngao ngán... Thật buồn, khó chịu và cám cảnh, lo ngại cho sự quý giá của tiếng Việt và văn hóa dân tộc.

Sự lai căng đã tới mức phải báo động

Trong cuốn “Internet và sự tác động đến văn hóa Việt Nam”, TS Từ Thị Loan chỉ ra: Sự lai căng văn hóa đang có những tác động tiêu cực đến quan niệm về đạo đức, ý thức đạo đức. Tác động nổi bật nhất về vấn đề này là tư tưởng đề cao các giá trị vật chất trước các giá trị tinh thần, giá trị đạo đức. Những cảnh sống xa hoa, giàu sang trong các bộ phim và MV ca nhạc, những thông tin về cung cách tiêu xài khủng của các đại gia, phong cách ăn mặc sang chảnh của các “sao”, thói ăn chơi thời thượng, “chịu chơi” và “chịu chi” của những người nổi tiếng ở nước ngoài đã tác động không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng của cộng đồng cư dân mạng, đặc biệt là giới trẻ. Từ đó hình thành ở họ tư tưởng coi trọng vật chất, coi nhẹ đạo đức, đề cao hình thức, biểu hiện bề ngoài mà không chú trọng đúng mức đến phẩm chất đạo đức, cái đẹp bên trong”.

TS Từ Thị Loan nhận định, những tác động tiêu cực của truyền thông mới cũng góp phần cổ xúy các hành vi vô văn hóa, phản đạo đức, vi phạm các chuẩn mực xã hội, như: Kích động dâm ô, đồi trụy, những biểu hiện suy đồi...

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội thì nhận định: Tâm lý sùng ngoại, muốn chứng minh mình tiên phong trong xu hướng khiến giới trẻ Việt Nam tiếp thu văn hóa nước ngoài một cách dễ dãi. Hơn nữa, sự phát triển và phổ biến các phương tiện truyền thông mới đã khiến cho hiện tượng lai căng văn hóa lan truyền nhanh chóng mà không bị kiểm soát, kích thích và thu hút sự tò mò của giới trẻ. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh cụ thể, một số bạn đã có những biểu hiện lệch lạc trong suy nghĩ, hành vi và lối sống. Việc bắt chước những trào lưu như thần tượng thái quá các ngôi sao; sử dụng ngôn ngữ nước ngoài vô tội vạ... đã gây ra những hậu quả hết sức tai hại, hình thành nên những nhận thức mới, thói quen mới, tạo ra những định hướng giá trị xa lạ với văn hóa truyền thống, có nguy cơ trở thành những bản sao của văn hóa nước ngoài. Điều đó khiến giới trẻ mất phương hướng trong việc xây dựng và hình thành nhân cách con người Việt Nam, không có sự tự tin để hội nhập quốc tế. Nguy hiểm hơn, lai căng văn hóa sẽ khiến văn hóa đất nước nói chung dễ bị phai nhạt, mất sức sống, ảnh hưởng đến sức mạnh chung của quốc gia.

Cuộc xâm lăng mềm xuyên biên giới, xuyên quốc gia

Phải khẳng định, trong thời đại số, mỗi một phút, một giờ lại có hàng vạn thông tin được chia sẻ thông qua mạng xã hội và các kênh giao tiếp văn hóa phi chính thức khác nhau, cho thấy mức độ nhập khẩu văn hóa không kiểm soát lớn như thế nào.

Không phải tự nhiên chỉ một thời gian ngắn mạng xã hội phát triển ở nước ta, không ít người giờ đây chỉ yêu thích các sản phẩm văn hóa từ nước ngoài, biến họ trở nên khác hẳn, sùng ngoại, “đặc sệt” phương Tây, với đặc trưng là thích quan tâm tới bản thân hơn là chia sẻ với cộng đồng; thích kiểu ăn mặc khác lạ, lối sống thực dụng chứ không thích lối sống gia đình theo nếp nhà truyền thống với các giá trị gia đình; tinh thần chia sẻ với xóm làng, cộng đồng. Nguy hại hơn, họ xa rời trách nhiệm với Tổ quốc, họ trốn tránh nghĩa vụ công dân, chỉ biết đòi hỏi quyền lợi, đòi hỏi tự do dân chủ một cách vô độ, tuyệt đối, muốn làm gì thì làm theo kiểu phương Tây.

Những biểu hiện nguy hiểm ấy đang bào mòn chất văn hóa Việt, khiến họ dần quên đi những giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc, quên đi mình là ai. Thật nguy hiểm khi hàng triệu người đang dùng mạng xã hội hay các sản phẩm văn hóa độc hại đang không nhận ra mình dần bị đồng hóa văn hóa theo “kế hoạch” đã được tính toán của các nước lớn; các nước phương Tây thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” và làn sóng xâm lăng văn hóa êm dịu, tĩnh lặng, bất bạo lực.

Không khó để nhận ra, “kế hoạch” của các thế lực này đã thành công một phần nào đó. Nhìn các sản phẩm văn hóa trên các trang mạng xã hội, hay một số trang điện tử, báo điện tử với nội dung đánh vào tâm lý người Việt trẻ, như scandal của văn nghệ sĩ; những cuộc đấu khẩu, chửi rủa, bạo lực; cuộc sống của các ca sĩ, ban nhạc nước ngoài, video clip bói toán, dạy nấu ăn, dạy làm giàu, dạy ứng xử mà cốt truyện, những nhân vật đều thuộc về một quốc gia khác... Tóm lại, từ việc nhỏ nhất cho đến việc lớn, đều bị văn hóa ngoại chi phối.

Các nhà nghiên cứu đã cảnh báo: Không ít giá trị văn hóa Việt Nam đã và đang bị thay đổi trong đời sống hằng ngày ở từng con người, mỗi gia đình. Trong xu thế toàn cầu hóa, nhiều người đã đón nhận những yếu tố văn hóa ngoại lai một cách không chọn lọc, không biết nhận diện, phân tích và bỏ đi những cái xấu, cái không phù hợp. Nhiều người khác thì dễ dãi tiếp thu, vay mượn vốn văn hóa của nước ngoài để giúp mình tưởng như đã đạt tới cột mốc là công dân văn minh toàn cầu; chăm chăm mượn cái của nước khác, người khác mà tưởng rằng đó là tiêu chuẩn của giá trị. Họ không hiểu thế nào là tiếp thu những mặt tích cực; thế nào là bị đồng hóa, bị nô dịch văn hóa.

Như vậy, nhiều người đang tự mình tan ra, dần mất bản sắc văn hóa dân tộc, bị đồng hóa văn hóa từ chính những biểu hiện trong lối sống, lối ứng xử, trong cách tiếp nhận và thay đổi quan niệm về giá trị vật chất, tinh thần họ đang học theo. Nếu “căn bệnh” sùng bái văn hóa ngoại lây lan từ cá nhân sang gia đình, rồi ra cộng đồng và các tầng lớp xã hội thì lúc đó, xã hội đã thực sự bị xâm lăng văn hóa. Nỗi lo xâm lăng văn hóa càng được nhân lên khi internet, mạng xã hội dưới sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn... ngày càng trở nên phổ biến.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Chính luận 35 của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Bài 2: Đại tướng Nguyễn Quyết với dấu ấn “vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng”

Bài 2: Đại tướng Nguyễn Quyết với dấu ấn “vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng”

“Đại tướng Nguyễn Quyết - Vị tướng tài năng, đức độ, nhất mực trung thành của Đảng ta, Quân đội ta - Bài 2: Đại tướng Nguyễn Quyết với dấu ấn “vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng”, kính thưa quý vị, trên đây là bài viết của Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI, được đăng tải trên báo Quân đội nhân dân điện tử tại trang web qdnd.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Đại tướng Nguyễn Quyết, trong cuộc đời hoạt động và cống hiến của mình, có thể nói, ở ông chính là sự hội tụ nhiều phẩm chất cao quý của một cán bộ, đảng viên cộng sản: Kiên trung, gương mẫu, tận tụy, sáng tạo và nhất là tinh thần đoàn kết máu thịt với nhân dân.

Thế hệ ông, trong đó có ông, trong mọi hoàn cảnh, nhất là trên cương vị chủ trì cơ quan hay đơn vị đều luôn tiên phong, gương mẫu, thực hiện đúng nguyên tắc của Đảng, luôn đặt lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và Quân đội lên trên hết, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn linh hoạt và sáng tạo, đi đầu giải quyết khó khăn, thử thách và rất quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.

Trước khi giữ cương vị trọng yếu trong Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, ở Quân khu 3, những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, Tư lệnh kiêm Chính ủy - Thượng tướng Nguyễn Quyết đã để lại dấu ấn khá sâu đậm về vai trò “chủ soái” của ông trong phong trào “làm giàu, đánh thắng”, “vươn ra Biển Đông làm giàu, đánh thắng” ở Quân khu 3. Phong trào này thể hiện rõ sự táo bạo và đổi mới trong cách nghĩ của một cán bộ có tầm chiến lược. Phong trào phát triển nhanh chóng, sâu rộng và có hiệu quả thiết thực, tạo nên một “hiện tượng” đối với toàn quân và cả nước thời gian đó. Nhiều chủ trương, kinh nghiệm mà quân và dân Quân khu 3 tiên phong thực hiện đã tạo tiền đề cho sự nghiệp đổi mới sau này.

Nhắc đến dấu mốc Đổi mới 1986, không thể không nhắc đến Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, một người con quê ở Hưng Yên khi đó đã rất kiên quyết, đi đầu, khởi xướng các phong trào: “Những việc cần làm ngay”; “Nói đi đôi với làm”... mà chắc chắn người đứng đầu của Đảng đã cảm nhận rất sâu sắc từ thực tiễn các thành quả của Quân khu 3 - hậu phương lớn trong chiến tranh cũng là vựa người, vựa của, nơi cung cấp nhân tài, vật lực, trí tuệ và cả những đột phá về cách nghĩ, cách làm để làm tiền đề cho công cuộc Đổi mới của đất nước.

Trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 3, vị tướng hiểu rất sâu sắc rằng, sau hai cuộc chiến tranh, khi hai đầu biên giới phía Nam, phía Bắc mới vừa im tiếng súng, nền kinh tế quốc dân gặp vô vàn khó khăn vì những bao vây, cấm vận ngặt nghèo của các nước tư bản. Một khó khăn rất lớn nữa, đó là đã xuất hiện dấu hiệu rạn nứt, suy thoái, lung lay của khối xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, càng khiến cục diện xây dựng đất nước, nâng cao đời sống của toàn quân và toàn dân ta gặp rất nhiều khó khăn.

Với tư duy nhạy bén và bề dày kinh nghiệm từng được tôi rèn trong lửa đỏ các cuộc chiến tranh, vị Tư lệnh của vùng đất châu thổ sông Hồng đã cùng với tập thể lãnh đạo Quân khu 3 quyết định vươn ra Biển Đông để làm giàu, đánh thắng. Nói thì đơn giản như vậy, văn bản cũng có thể lập ra, hoạch định trên giấy không khó khăn gì nhưng bắt tay vào thực hiện những công việc thực hành mới là vô cùng khó khăn, phức tạp.

Vị tướng trận từ những ngày đầu đi theo cách mạng hiểu rất rõ ràng đã là người chiến sĩ phải luôn ở tuyến đầu, phải chống chịu sóng gió và vượt qua nó để giúp người dân có cơm ăn, áo mặc, phải xây dựng đời sống hạnh phúc cho nhân dân sau các cuộc chiến tranh với vô vàn mất mát, hy sinh. Nhưng làm giàu phải trên tinh thần thượng tôn pháp luật, tuyệt đối không được bất chấp các quy luật về kinh tế-xã hội, khẩn trương, quyết liệt nhưng không được nôn nóng, ăn xổi ở thì. Tất cả những vấn đề đặt ra đó đều đã được vị tướng cân nhắc hết sức kỹ lưỡng.

Từ thực tiễn của các tỉnh miền biển như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà - Nam - Ninh, nhân dân gặp khó khăn về vươn khơi, lấn biển, thiếu thốn các phương tiện khai thác thủy hải sản; đồng đất ven biển bị xâm thực mặn khó trồng cấy; cư dân thiếu cơ sở vật chất để tạo dựng các làng nghề. Chưa kể, thói quen quan liêu, bao cấp, trông chờ, ỷ lại và nhất là e ngại cách thức làm mới, sợ cái mới, cầu an đã ăn sâu, bám rễ trong đông đảo tầng lớp nhân dân.

Nhìn nhận rõ bản chất của vấn đề, vị tướng đứng đầu Quân khu 3 đã phát động phong trào thi đua: “Vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng” mà nòng cốt là các đơn vị trong toàn quân khu kết hợp với nhân dân trên địa bàn thực hiện từng khâu, từng việc, chủ động, sáng tạo, dựa trên sức mình là chính. Khi đó, ở các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà - Nam - Ninh đâu đâu cũng phấn chấn thi đua lao động sản xuất, quân với dân khăng khít một lòng, một dạ vượt mọi khó khăn. Nhiều tập thể tiên tiến với sự chủ động, sáng tạo nổi trội đã trở thành mô hình mẫu. Nhiều cá nhân tiêu biểu với thành tích lao động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả càng khiến phong trào đi vào chiều sâu, giải quyết bài toán khó của nền kinh tế đang rơi vào trì trệ lúc bấy giờ. Điểm sáng trên mặt trận kinh tế của quân và dân Quân khu 3 đã chứng minh cho phong trào thi đua: “Vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng”.

undefined
Đại tướng Nguyễn Quyết giữ thói quen đọc sách, báo. Ảnh: baohungyen.vn.

Một đặc điểm nổi trội của vị tướng Nguyễn Quyết là tầm nhìn xa của ông từ các phong trào thi đua để góp phần “quốc phú, binh cường”, nhất là việc xây dựng thế trận Quốc phòng toàn dân nơi vùng biển đảo. Trong phong trào kể trên, Quân khu 3 đã khai hoang, lấn biển ở các tỉnh trên địa bàn được 55.468ha, nhiều tuyến đường xuyên ra bán đảo Đình Vũ, xuyên ra đảo Cát Hải, Cát Bà - Hải Phòng đã khiến vùng đất hoang hóa trở thành nơi canh tác với các ngành nghề làng biển. Các tuyến đảo vùng Đông Bắc thay da đổi thịt hằng ngày, nhiều làng nghề, ngư trường hoạt động sôi nổi đã đem lại lợi ích lớn cho nhân dân.

Cùng với đó, các tuyến đảo gần bờ cũng được xây dựng và phát triển theo hướng bền vững vừa là một pháo đài trong phòng thủ biển đảo vừa là một đầu cầu kết nối để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đây cũng là tiền đề để sau này khi Đại tướng Nguyễn Quyết ra thăm cán bộ chiến sĩ, quân và dân trên quần đảo Trường Sa đã có những quyết sách đã trở thành chủ trương, trở thành phương châm hành động với câu khẩu hiệu nổi tiếng: “Cả nước vì Trường Sa, Trường Sa vì cả nước”. Đây cũng là dấu mốc hết sức quan trọng đánh dấu sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội ta trong việc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước.

Hôm nay, mỗi khi giở lại từng trang lịch sử, nhất là những trang quân sử hào hùng của quân và dân Quân khu 3, chúng ta càng thấy rõ sự vinh dự, tự hào, nhất là niềm tin sâu sắc vào sự quyết đoán và phương châm chiến lược của Đảng ta, quân đội ta, trong đó có những vị tướng bình dị nhưng vô cùng sâu sắc như Đại tướng Nguyễn Quyết.

Từ sự thành công của phong trào thi đua: “Vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng” gắn với tên tuổi Đại tướng Nguyễn Quyết đã cho thấy trong công cuộc cách mạng, nhất là ở những giai đoạn gian khổ, khó khăn, rất cần có những bộ óc dám suy nghĩ, dám thực hành, dám làm những điều chưa ai làm, dám khơi thông những tắc nghẽn để mở đường cho những dòng chủ lưu mạnh mẽ trong sự phát triển và trưởng thành bền vững của Quân đội ta, đất nước ta.

Chúng ta luôn rất tự hào với vị tướng gắn với phong trào thi đua: “Vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng”.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Chính Luận 35 của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Bài 1: Đại tướng Nguyễn Quyết- Vị tướng tài năng, đức độ, nhất mực trung thành của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Bài 1: Đại tướng Nguyễn Quyết- Vị tướng tài năng, đức độ, nhất mực trung thành của Đảng Cộng Sản Việt Nam

“Đại tướng Nguyễn Quyết - Vị tướng tài năng, đức độ, nhất mực trung thành của Đảng ta, Quân đội ta - Bài 1: Từ một thiếu niên nông thôn vùng đất Kim Động (Hưng Yên) đến Bí thư Thành ủy Hà Nội trong Cách mạng Tháng Tám”, kính thưa quý vị, trên đây là bài viết của Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI, được đăng tải trên báo Quân đội nhân dân điện tử tại trang web qdnd.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Đại tướng Nguyễn Quyết là vị tướng luôn được tổ chức phân công đảm đương những vị trí công tác chiến lược ở những giai đoạn bước ngoặt của cách mạng.

Năm 1945, khi mới 23 tuổi, ông đã đảm đương cương vị Bí thư Thành ủy Hà Nội, cùng tập thể lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Tiếp đó, năm 1947, ông được phân công Nam tiến, đảm đương các chức vụ quan trọng trong Quân khu ủy Quân khu 5, Chính ủy Mặt trận Quảng Đà. Năm 1955, ông được điều về làm quyền Chính ủy rồi Chính ủy Quân khu Tả Ngạn. Từ năm 1977 đến năm 1986, ông Quyết giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Quân khu ủy Quân khu 3.

Đặc biệt, trong dấu mốc Đổi mới 1986, ông được điều về đảm đương cương vị Phó chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Đại tướng Nguyễn Quyết là vị Thủ trưởng Tổng cục Chính trị có nhiều đóng góp lớn trong giai đoạn bước ngoặt từ dấu mốc Đổi mới 1986 khi thực hiện trở lại cơ chế Đảng ủy lãnh đạo, thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang.

undefined
Đại tướng Nguyễn Quyết khi tròn 100 tuổi. Ảnh: qdnd.vn.

Đồng chí Nguyễn Quyết tên khai sinh là Nguyễn Tiến Văn. Ông sinh ngày 20-8-1922 tại xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Hưng Yên cũng là mảnh đất sinh ra nhiều vị tướng lĩnh tài ba, kiên trung sớm theo Đảng, theo Bác Hồ từ những ngày đầu lập nước và trưởng thành trong các cuộc chiến tranh vệ quốc như: Trung tướng Nguyễn Bình, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, Thượng tướng Lê Quang Hòa, Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên và đặc biệt là Đại tướng Nguyễn Quyết.

Ngay từ nhỏ, cậu bé Nguyễn Tiến Văn đã tỏ rõ bản tính thông minh sôi nổi tham gia các công việc nhưng cũng rất điềm đạm và chăm chỉ nên rất được cha mẹ, thầy cô và bè bạn quý mến. Cuộc sống ở các vùng quê Bắc Bộ trong đó có vùng đất xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên rất khó khăn. Chính quyền thực dân Pháp và bè lũ tay sai ra sức đàn áp, bóc lột nhân dân ta đến kiệt cùng. Giới địa chủ cường hào đứng đầu là bọn lý trưởng, chánh tổng, tri huyện, tri phủ cấu kết ngoại bang không từ một thủ đoạn nào để bóc lột người nông dân, bần cùng hóa đúng như những gì trong tiểu thuyết "Tắt đèn" của nhà văn Ngô Tất Tố đã mô tả.

Trước cảnh đất nước lầm than cơ cực, chàng thiếu niên Nguyễn Quyết đã sớm có suy nghĩ phải làm việc gì đó để giúp ích cho gia đình, bà con làng xóm, cho đất nước và cũng là mở ra trang mới với cuộc đời mình. Mới ở tuổi mười lăm, Nguyễn Quyết đã rời quê hương Kim Động lên Hà Nội tìm việc làm cũng là để thấy rõ hơn xã hội nhiều mặt ở Thủ đô. Trong tâm tư của chàng thiếu niên, lúc nào cũng ám ảnh việc dân bản xứ lầm than cơ cực còn những kẻ cầm quyền luôn phè phỡn, xa hoa. Vốn có hiểu biết về chữ nghĩa và sự chín chắn, khéo léo trong lời ăn tiếng nói, Nguyễn Quyết đã xin vào được làm thư ký kiêm phát hành báo cho Báo Đuốc Tuệ của Trung tâm Phật giáo Bắc kỳ, có trụ sở ở chùa Quán Sứ. Ở vị trí này, Nguyễn Quyết vừa được làm vừa được học ngay tại tòa soạn và các nơi khác. Có dịp tiếp xúc với nhiều người ở các tầng lớp xã hội khác nhau đã cho Nguyễn Quyết một cái nhìn bao quát, rộng khắp, những sự cọ xát hết sức hữu ích.

Trong khoảng thời gian này, chàng thanh niên Nguyễn Quyết bị lôi cuốn bởi các hoạt động của cuộc vận động dân chủ do Đảng Cộng sản Đông Dương phát động. Tận mắt chứng kiến và tham gia nhiều hoạt động của phong trào, được tiếp xúc với các công nhân, người lao động thành phố, giới trí thức và các giai tầng xã hội khác nhau đã cho ông hiểu sâu sắc và nhận định rõ ràng rằng thân phận của người dân mất nước thì ở đâu cũng như nhau, nông thôn hay thành thị, nông dân hay công nhân, trí thức đều bị bọn thực dân cướp nước và bè lũ tay sai đè đầu cưỡi cổ, phải chịu bóc lột, bất bình đẳng thậm chí là bị giết oan mà không có pháp luật bảo vệ. Đây cũng là những bài học lớn cho Nguyễn Quyết trưởng thành.

Cũng trong thời gian đó, đồng chí Nguyễn Quyết đã lọt vào vòng ngắm theo dõi của bọn mật thám. Chúng lùng sục tìm cách bắt ông, khiến ông phải tạm trở về quê hương. Tại Kim Động, ông đã may mắn gặp đồng chí Nguyễn Văn Tích (còn có bí danh là Tạo) - một đảng viên cộng sản, là cán bộ liên tỉnh (gồm các tỉnh: Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An...) và được giao nhiệm vụ vận động quần chúng xây dựng phong trào phản đế ở huyện Kim Động. Nguyễn Quyết đã hoạt động rất tích cực và có nhiều thành tích. Năm 1940, khi vừa tròn 18 tuổi, đồng chí Nguyễn Quyết được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, được phân công phụ trách Bí thư Thanh niên phản đế huyện Kim Động. Đây chính là dấu mốc rất quan trọng của đồng chí Nguyễn Quyết.

Tháng 8-1943, khi mới 21 tuổi, đồng chí Nguyễn Quyết đã được Xứ ủy Bắc kỳ chỉ định tham gia Ban Cán sự Đảng Hà Nội, được phân công phụ trách xây dựng căn cứ ngoại thành và vận động công nhân đấu tranh trong nội thành. Khoảng thời gian này, ông cùng các đồng chí lãnh đạo trong Ban Cán sự Đảng Hà Nội tổ chức thành lập các chi bộ, giác ngộ số công nhân cư trú ở ngoại thành bắt mối với các nhà máy, cơ sở sản xuất trong nội thành. Nhiều cơ sở, chi bộ ở nội thành và ngoại thành Hà Nội đã được thành lập, phong trào cách mạng ở Hà Nội được nâng cao chính là cơ sở, nền tảng cho Cách mạng Tháng Tám.

Mùa hè năm 1944, sau khi tham dự một lớp học quân sự tại tỉnh Thái Nguyên để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, ông được chỉ định làm Bí thư Thành ủy Hà Nội thay đồng chí Lê Quang Đạo do bị lộ nên Trung ương điều đi làm nhiệm vụ khác. Ông chia sẻ: “Đó là thời kỳ một ngày bằng hai mươi năm sục sôi không khí chuẩn bị mọi mặt cho cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân. Tôi được phân công đặc trách công tác quân sự, đồng chí Phương phụ trách công vận, đồng chí Vũ Oanh phụ trách thanh vận... Chúng tôi nắm chắc các đội tự vệ vũ trang mới thành lập, tổ chức huấn luyện dưới những hình thức khác nhau. Đây sẽ là lực lượng vũ trang hậu thuẫn quan trọng cho nhân dân giành chính quyền ở Hà Nội”.

Chính từ sự chuẩn bị công phu, sáng suốt, kiên quyết của Ban lãnh đạo Thành ủy Hà Nội với sự đứng đầu của Bí thư Thành ủy Nguyễn Quyết đã tiến tới một quyết định lịch sử: Hà Nội tiến hành khởi nghĩa vào ngày 19-8-1945 đánh đổ chính quyền tay sai, thành lập chính quyền cách mạng và đã thành công rực rỡ, trọn vẹn, không đổ máu. Sau này, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã nhận định về dấu mốc lịch sử trên: “Trong thời cơ lịch sử có một không hai đó, đã xuất hiện những con người thông tuệ được tôi luyện trong môi trường cách mạng, những trái tim và khối óc không chỉ dựa vào lòng yêu nước nồng nàn mà còn có tư chất tuyệt vời, phán đoán sắc sảo về khả năng thắng lợi của cách mạng và sự nhạy cảm thời cuộc đặc biệt. Ban lãnh đạo của Hà Nội khi đó toàn những người trẻ tuổi, dưới 30, mà người đứng đầu là Bí thư Thành ủy Nguyễn Quyết mới ở tuổi 23 và kinh qua 6 năm tôi luyện trong đấu tranh cách mạng. Thật là tuyệt vời!”.

Đó cũng là một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong cuộc đời Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Quyết.

Trong mỗi lần các nhà văn, nhà báo chúng tôi tiếp xúc với Đại tướng Nguyễn Quyết, ông đều tỏ ra rất phấn chấn khi kể về quãng thời gian trai trẻ của mình, nhất là khi được tổ chức tin tưởng giao chức vụ Bí thư Thành ủy Hà Nội vào thời điểm then chốt nhất của Cách mạng Tháng Tám. Chính từ sự tin tưởng tuyệt đối của cấp trên, của Đảng, đã cho ông nền tảng vững chắc để sau này đảm đương các cương vị, trọng trách trong Quân đội. Đây cũng chính là một trong những vẻ đẹp, chiều sâu thành tựu của Đảng ta trong việc bồi dưỡng, rèn luyện và sử dụng những người con ưu tú trong công cuộc cách mạng.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Thời sự của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Nhận thức đúng về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy

Nhận thức đúng về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy

“Nhận thức đúng về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy”, kính thưa quý vị, trên đây là bài viết của tác giả Phan Nguyễn, được đăng tải trong chuyên mục Phòng, chống diễn biến hòa bình trên báo Quân đội nhân dân điện tử tại trang web qdnd.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy công quyền theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Chúng ta xác định đây là một cuộc cách mạng tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, với mưu đồ đen tối, các thế lực thù địch không ngừng gieo rắc tư tưởng phản động vào dòng chủ lưu của đất nước, nhằm xuyên tạc, kích động, chống phá...

Chủ trương đúng, quyết tâm cao

Thời gian gần đây, thông tin về việc triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, sắp xếp, cải cách tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả trở thành chủ đề chính, nổi bật trên tất cả các loại hình, ấn phẩm báo chí-truyền thông. Chủ đề này cũng thu hút sự quan tâm chú ý đặc biệt của truyền thông quốc tế. Dư luận tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia có mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam đều đánh giá cao và kỳ vọng vào sự đột phá mạnh mẽ của Việt Nam trong lĩnh vực này. Nhiều chuyên gia, học giả quốc tế đã có những bài viết phân tích, đánh giá, bày tỏ tin tưởng vào quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong cải cách bộ máy. Trong hoạt động đối ngoại, khi tiếp xúc với nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo cấp cao các nước, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước ta cũng thông tin về chủ trương lớn này của Việt Nam, đồng thời nhận được sự quan tâm, tin tưởng của bạn bè quốc tế.

Thông qua hội nghị các cấp, các cuộc tiếp xúc cử tri, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta cũng thông tin kịp thời, giải đáp thắc mắc, tiếp thu kiến nghị của cử tri về công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy và nhận được sự đồng tình, ủng hộ, thống nhất rất cao của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân. Các hoạt động hội thảo, tọa đàm về chủ đề này cũng được tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Giới chuyên gia, nhà lãnh đạo, nhà quản lý, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân bày tỏ kỳ vọng lớn vào cuộc cách mạng mới của đất nước, đồng thời có nhiều hiến kế, đề xuất, kiến nghị có giá trị, sát thực tiễn, nhằm góp phần thực hiện thành công chủ trương lớn của Đảng.

Có thể nói, cuộc cách mạng về cải cách tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị của đất nước đã và đang nhận được sự quan tâm to lớn của nhân dân và dư luận quốc tế. Sự đồng thuận, kỳ vọng của nhân dân chính là cơ sở, nền tảng tinh thần vững chắc để Đảng, Nhà nước ta quyết tâm, quyết liệt thực hiện bằng được mục tiêu, yêu cầu đã đề ra. Trong bài viết với tựa đề “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “... Để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; muốn vậy cần khẩn trương thực hiện cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị...”.

Sự khẳng định tính tất yếu và quyết tâm phải làm nhanh, làm đồng bộ, chính xác, hiệu quả các bước đi, lộ trình tinh gọn bộ máy của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta cũng chính là quyết tâm chính trị to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Điều này khẳng định, Đảng, Nhà nước ta đã xác định đúng và trúng vấn đề. Tinh gọn bộ máy không chỉ là đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn của đất nước mà còn là yêu cầu khách quan của xu thế thời đại. Việt Nam sẽ gặp nhiều rào cản, khó khăn, chậm trễ... trong hội nhập quốc tế nếu không quyết liệt tinh gọn bộ máy vốn đã và đang quá cồng kềnh hiện nay.

Thấy gì từ những luận điệu xuyên tạc, chống phá?

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc cải cách để tinh gọn, bảo đảm cho bộ máy công quyền hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là một đòi hỏi tất yếu. Đây là thời điểm chín muồi, hội tụ các yếu tố cần và đủ để chúng ta thực hiện cuộc cách mạng của thời đại mới, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, từ dấu mốc Đại hội XIV của Đảng.

Trong lúc hệ thống chính trị các cấp đang chủ động, nỗ lực triển khai các hình thức, giải pháp sắp xếp, tinh gọn bộ máy với tinh thần Trung ương nêu gương thì không gian mạng cũng liên tục xuất hiện các sản phẩm truyền thông mang tư tưởng thù địch, đi ngược lại chủ trương của Đảng, Nhà nước ta. Trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube... thời gian gần đây liên tục xuất hiện các bài viết, video clip của một số đối tượng phản động là người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là những thành phần bất mãn với Tổ quốc, sống lưu vong, lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền tư tưởng phản động, xuyên tạc chống phá Đảng, chống phá đất nước.

Bám vào những thông tin về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy được đăng tải trên hệ thống báo chí, truyền thông trong nước, những đối tượng này vận dụng chiêu bài cắt ghép, xuyên tạc thông tin, “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” để lèo lái, lừa bịp dư luận. Thủ đoạn của chúng là “hóng hớt” thông tin từ mạng xã hội, lắp ghép vào thông tin, hình ảnh trên báo chí chính thống trong nước để nói phải thành trái, đổi trắng thay đen. Chúng móc nối với một số đối tượng cực đoan trong nước để thực hiện những cái gọi là “trao đổi”, “phỏng vấn” với những đối tượng tự xưng, tự phong là “học giả”, “chuyên gia” để phân tích, bình luận tình hình chính trị trong nước. Chúng bám vào thông tin về việc một số đồng chí nguyên là lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước bị xử lý kỷ luật, gán ghép thông tin này với lộ trình tinh gọn bộ máy để chụp mũ, quy kết chúng ta “thanh trừng nội bộ”...

Chúng ta đều hiểu rõ, cuộc cách mạng nào cũng đều phải trả giá, hy sinh. Thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy, chắc chắn sẽ có một bộ phận lớn cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương từ ngân sách nhà nước... dôi dư, mất việc làm, ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống gia đình. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta rất nhân văn, giải quyết có lý, có tình nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự xáo trộn tâm lý xã hội và cuộc sống của những đối tượng bị ảnh hưởng. Bám vào thực tế này, các đối tượng phản động, thù địch liên tục, thường xuyên tung tin thất thiệt nhằm kích động, lôi kéo, cổ xúy các hành vi cực đoan gây mất ổn định chính trị và đoàn kết nội bộ. Những sản phẩm truyền thông độc hại này được chúng triệt để tận dụng mạng xã hội đăng tải, lan truyền với mức độ, cường độ ngày càng nhiều. Mục đích của chúng là gây nhiễu dư luận, gây rối nội bộ, phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị, làm lung lạc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; phá hoại cuộc cách mạng của Việt Nam trong thời đại mới...

Thống nhất nhận thức, kiên trì hành động

Yêu cầu đầu tiên và trước hết là phải tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động từ trong Đảng và hệ thống chính trị các cấp. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy không phải là việc làm “nhất thời” như các thế lực thù địch rêu rao, mà thực chất là chúng ta đã triển khai thực hiện từ lâu, trọng tâm là giai đoạn 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Chúng ta đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, kết quả đạt được theo yêu cầu đề ra vẫn còn khiêm tốn, thực tế còn tồn tại nhiều điểm nghẽn, bất cập cần khẩn trương tháo gỡ. Đảng ta đã chỉ rõ, cho đến nay, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ...

undefined

Quan điểm chỉ đạo về tinh gọn bộ máy toàn bộ hệ thống chính trị theo Nghị quyết 18 của Trung ương.

Những hạn chế, tồn tại đó là lực cản lớn, gây lãng phí, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Nguyên nhân là do chúng ta còn chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy. Những hạn chế, yếu kém, tồn tại đã được Đảng, Nhà nước chỉ rõ, thẳng thắn thừa nhận. Việc triển khai sắp xếp, tinh gọn bộ máy được làm trước hết từ Trung ương đã thể hiện rõ tính nêu gương, tiền phong gương mẫu từ trên xuống.

Sự thống nhất nhận thức và hành động, trước hết, trên hết từ trong Đảng là nhân tố nòng cốt, trung tâm để tạo sự thống nhất trong cả hệ thống chính trị và toàn dân. Để có sự thống nhất, đoàn kết thực chất, bền vững, bên cạnh việc tin tưởng, ủng hộ, đồng hành với chủ trương lớn của Đảng, đòi hỏi cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước phải có chính kiến, thái độ rõ ràng trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng cực đoan, phản động, thế lực thù địch.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, kẻ thù của cách mạng Việt Nam là thực dân, đế quốc xâm lược và các thế lực tay sai. Cuộc cách mạng trong thời đại mới về tinh gọn bộ máy, kẻ thù của chúng ta bên cạnh các thế lực thù địch, phần tử phản động còn là cái “tôi” ích kỷ, hẹp hòi, đố kỵ, sự yếu kém của bản lĩnh, chủ nghĩa cá nhân. Để cách mạng thành công, phải đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, đồng thời phải đấu tranh với chính cái “tôi” tiêu cực, chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn có hiệu quả những biểu hiện suy thoái chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống ngay từ nội bộ.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Chính luận 35 của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu: Ký ức khó quên về những trận chiến

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu: Ký ức khó quên về những trận chiến "rừng sâu là nhà, bom đạn là bạn "

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu: Ký ức khó quên về những trận chiến “rừng sâu là nhà, bom đạn là bạn”, kính thưa quý vị, trên đây là nhan đề bài viết của tác giả Thanh Thảo nhân dịp kỉ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) được đăng tải trên báo Công Thương điện tử tại trang web congthuong.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, người lính già nay đã qua tuổi tám mươi, nhưng mỗi khi nhắc đến chiến tranh, đôi mắt ông vẫn ánh lên những tia lửa, chất chứa ký ức của những tháng ngày máu lửa mà ông cùng đồng đội đã đi qua.

Trong những câu chuyện của ông kể cho chúng tôi - nhóm phóng viên Báo Công Thương, những kí ức dài không chỉ là chiến thắng, mà còn là nỗi đau, nước mắt và những bài học về lòng yêu nước, sự hy sinh cho độc lập dân tộc. Cuộc đời binh nghiệp của ông gắn liền với những trận đánh lớn, mà mỗi trận chiến là một dấu mốc không thể phai mờ trong lịch sử đất nước.

Trận Khe Sanh 1968: “Sống, chết đều phải đi tới cùng”

Ngồi bên chiếc bàn nhỏ trong căn nhà yên tĩnh, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu kể lại trận Khe Sanh bằng giọng trầm, đứt quãng, như đang nhìn lại từng gương mặt đồng đội đã ngã xuống.

Ngày ấy, chúng tôi nhận lệnh đánh vào Khe Sanh, nơi quân địch đã xây dựng một phòng tuyến tưởng như bất khả xâm phạm. Mỗi ngày, hàng trăm tấn bom đạn trút xuống, mặt đất rung chuyển như muốn nuốt chửng cả đội quân. Có lần, chúng tôi nằm trong hầm, từng đồng đội bên cạnh lần lượt hy sinh, nhưng không ai rời vị trí. Trong ánh mắt họ, tôi nhìn thấy một lời nhắn nhủ: Anh hãy đi tiếp, dù tôi có phải dừng lại ở đây. Và chúng tôi đi tiếp, sống, chết đều phải đi tới cùng".

Trận Khe Sanh không chỉ là chiến thắng quân sự, mà còn là chiến thắng của tinh thần và ý chí. Với ông, đó là một bài học sâu sắc về lòng kiên cường, rằng chiến tranh không bao giờ chỉ là đối đầu vũ khí, mà là cuộc chiến của trái tim và niềm tin.

Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971: “Rừng sâu là nhà, bom đạn là bạn”

Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là một trong những thử thách lớn nhất đối với Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu. Trong câu chuyện của ông, chiến dịch ấy như một cơn bão mà bất cứ ai bước vào đều phải đối mặt với cái chết.

Chúng tôi tiến vào rừng sâu, nơi chưa từng có dấu chân người. Rừng già bao phủ, nhưng bên dưới là hàng ngàn bãi mìn, pháo sáng và máy bay địch quần thảo suốt ngày đêm. Đó là nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau một hơi thở. Có lần, tôi cùng đồng đội bò qua một bãi mìn dài gần hai cây số, mỗi bước chân đều nghe thấy tiếng tim mình đập. Chỉ một chút sơ sẩy, cả đại đội có thể biến thành tro bụi”.

Đường 9 - Nam Lào là một chiến dịch mà quân đội ta không chỉ chiến đấu với địch, mà còn phải chiến thắng cả thiên nhiên khắc nghiệt và nỗi sợ hãi trong chính mình. Ông xúc động kể với nhóm phóng viên Báo CôngThương: “Chúng tôi không biết mình có sống sót hay không, nhưng chỉ có một niềm tin duy nhất: Nếu không đi tiếp, sẽ không còn ai giữ được con đường Trường Sơn”.

Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975: “Lá cờ tung bay trong nước mắt”

Ngày 30/4/1975, cả dân tộc vỡ òa trong niềm vui chiến thắng, nhưng với Nguyễn Huy Hiệu, đó là ngày ông khóc nhiều nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

Trước giờ tiến vào Sài Gòn, chúng tôi biết rằng đây là trận chiến cuối cùng, là đích đến của cả một hành trình đầy máu và nước mắt. Nhưng đó cũng là trận đánh mà tôi sợ nhất, không phải vì đạn bom, mà vì sợ rằng sẽ có thêm nhiều đồng đội hy sinh ngay trước thềm hòa bình. Và họ đã hy sinh. Những người lính cuối cùng ngã xuống trên con đường dẫn đến Dinh Độc Lập, họ không kịp thấy lá cờ tung bay. Khi chúng tôi dựng lá cờ lên nóc Dinh, nước mắt tôi đã chảy. Tôi khóc cho đồng đội, cho những người mẹ, người vợ sẽ mãi chờ đợi những người không bao giờ trở về”.

Chiến dịch Hồ Chí Minh khép lại cuộc chiến kéo dài hàng thập kỷ, nhưng với Thượng tướng, đó không phải là dấu chấm hết. Ông nói: “Khi nhìn lá cờ, tôi chỉ ước rằng không bao giờ phải cầm súng nữa. Nhưng tôi biết, để giữ được hòa bình, chúng ta sẽ còn phải chiến đấu, chỉ là trên một mặt trận khác”.

Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979: “Đứng ở đâu, đất nước ở đó”

Khi đất nước vừa thống nhất, tiếng súng đã lại vang lên ở biên giới phía Bắc. Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu khi ấy không ngần ngại bước vào cuộc chiến mới, bảo vệ từng tấc đất quê hương.

Chúng tôi đứng giữa mùa đông lạnh giá ở Lạng Sơn, trước mặt là hàng ngàn quân địch tràn xuống, sau lưng là làng mạc, là những người dân tay không tấc sắt. Đứng ở đâu, đất nước ở đó. Chúng tôi không cho phép mình lùi bước”.

Những trận chiến ác liệt ở Lạng Sơn, Cao Bằng đã ghi dấu những hy sinh to lớn. Ông kể: “Có người lính trẻ hỏi tôi: “Thủ trưởng, nếu tôi hy sinh, liệu đất nước có nhớ đến tôi không?". Tôi chỉ nhìn anh ấy và nói: “Đất nước không bao giờ quên ai đã giữ lấy nó”. Và hôm sau, anh ấy không còn nữa.

Chiến tranh biên giới phía Bắc kết thúc, nhưng với ông, đó là lời nhắc nhở rằng hòa bình không bao giờ là điều dễ dàng.

Người kể chuyện chiến tranh và khát vọng hòa bình

Hơn nửa đời người cầm súng, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu hiểu rõ giá trị của hòa bình hơn bất kỳ ai. Ở tuổi xế chiều, ông dành thời gian viết sách, ghi chép lại những câu chuyện chiến trường không chỉ để tưởng nhớ, mà còn để gửi gắm lời nhắn nhủ đến thế hệ mai sau.

undefined

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu. Ảnh: Quốc Chuyển

Hòa bình không tự nhiên mà có. Nó được đổi lấy bằng máu, nước mắt và cả tuổi trẻ của những người đã đi qua chiến tranh. Hãy sống sao cho xứng đáng với những gì họ đã hy sinh”.

Trong giọng kể của ông, không có sự tự hào cá nhân, không có ánh hào quang của chiến thắng, mà chỉ là nỗi day dứt, lòng trân trọng dành cho những người đã nằm lại trên những cánh rừng, con đường, dòng sông của Tổ quốc. Ông bảo: “Tôi may mắn hơn nhiều đồng đội vì được sống đến hôm nay, nhưng tôi luôn tự hỏi liệu mình đã làm đủ để trả ơn họ chưa”.

Vào ngày 22/12 – Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu thường dành thời gian lặng lẽ đặt hoa tưởng nhớ những đồng đội đã hy sinh. Với ông, đây không chỉ là ngày kỷ niệm, mà là dịp để tri ân, để nhắc nhở mỗi người Việt Nam rằng quân đội nhân dân không chỉ là lực lượng chiến đấu, mà là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Ngày 22/12, tôi không chỉ nghĩ về quá khứ mà còn nghĩ về tương lai. Lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng một khi nhân dân đoàn kết, quân đội hết lòng vì dân, chúng ta có thể vượt qua mọi kẻ thù. Nhưng điều quan trọng hơn cả là phải giữ được hòa bình, để không một người mẹ nào còn phải mất con, không một người lính nào phải gục xuống giữa tuổi đôi mươi”.

Nhìn về cuộc đời binh nghiệp của mình, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu không coi mình là anh hùng. Với ông, mỗi vết sẹo trên cơ thể là một lời nhắc nhở, mỗi trận đánh là một câu chuyện khắc sâu trong tim. Và hòa bình, dù quý giá đến đâu, cũng luôn mong manh, cần được bảo vệ bằng cả trái tim và trí tuệ của mỗi thế hệ.

Chiến tranh là những ngày đen tối nhất của lịch sử, nhưng nó cũng làm sáng lên ánh sáng của lòng yêu nước. Tôi không kể chuyện để khơi dậy hận thù, mà để thế hệ trẻ hiểu rằng hòa bình là thứ không thể lãng quên, không thể xem thường. Đừng để những hy sinh ấy trở thành vô nghĩa”.

Câu chuyện đã tạm khép lại, nhưng ánh mắt tướng Hiệu vẫn trầm tư. Ông không nói thêm, chỉ nhìn ra ngoài cánh cửa, nơi bầu trời bình yên của mặt nước Hồ Tây êm ả, bình lặng trên phố Trấn Vũ hôm nay trải dài. Trong khoảnh khắc đó, ông lại đang nghĩ đến những đồng đội chưa từng trở về!. Và có lẽ, nếu có điều ước cuối cùng, ông sẽ ước rằng thế hệ mai sau sẽ không bao giờ phải nghe đến tiếng súng, chỉ còn lại tiếng cười của tự do và hạnh phúc trong hòa bình, độc lập

Hòa bình, độc lập vốn dĩ là món quà đắt giá và bi tráng nhất của lịch sử, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, cùng hàng triệu người lính khác, đã trao nó lại cho chúng ta bằng cả cuộc đời mình. Trong dịp kỷ niệm 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12 này, khi chúng ta cúi đầu tưởng nhớ những người lính đã ngã xuống, hãy tự hỏi bản thân: Liệu chúng ta đã sống xứng đáng với sự hy sinh ấy chưa? .

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Thời sự của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Vị tướng huyền thoại, “người anh cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Vị tướng huyền thoại, “người anh cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam

“Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Vị tướng huyền thoại, “người anh cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam”, kính thưa quý vị trên đây là nhan đề bài viết của Đại úy, Thạc sỹ Nguyễn Ngọc Toán - Viện Lịch sử quân sự, được đăng tải trên báo Nhân dân điện tử tại trang web nhandan.vn. Trong tháng 12 này là dịp đặc biệt có ý nghĩa kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024), thêm một lần nữa chúng ta cũng nhắc nhớ và hồi ức lại những câu chuyện về vị tướng huyền thoại của dân tộc Việt Nam - Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tấm lòng trân trọng và biết ơn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, được nhân dân yêu mến, kính trọng, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ và là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Vị tướng huyền thoại của Việt Nam và thế giới; dù không trải qua trường lớp quân sự nào, nhưng dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh; đồng chí Võ Nguyên Giáp đã cùng Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy xây dựng Quân đội từ “con số không” nhanh chóng phát triển lực lượng, trình độ tổ chức, tác chiến, nâng cao sức mạnh chiến đấu, đánh bại nhiều viên tướng nổi tiếng của các quân đội đế quốc thực dân hùng mạnh trên thế giới, làm thay đổi dòng chảy lịch sử dân tộc và nhân loại.

Tên tuổi và sự nghiệp của ông mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử dân tộc, vị tướng lừng danh trong lịch sử thế giới, góp phần làm phong phú nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần vào việc hình thành và phát triển học thuyết quân sự - đường lối chiến tranh nhân dân độc đáo Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Ông cũng là Tổng Tư lệnh đầu tiên và duy nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam, là Đại tướng đầu tiên, cũng là đại tướng đánh bại nhiều đại tướng nhất.

Tiểu sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911, tại xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình nhà nho giàu lòng yêu nước. Ông đã dấn thân vào con đường cách mạng từ khi tuổi đời còn rất trẻ dưới sự dìu dắt của các bậc đàn anh và những người thầy ở Trường Quốc học Huế, tham gia các tổ chức yêu nước và cách mạng: Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việt Cách mạng Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, trở thành Ủy viên Trung ương dự bị, phụ trách tuyên huấn và giao thông liên lạc của Tổng bộ Tân Việt Cách mạng Đảng. Võ Nguyên Giáp đã góp phần to lớn thúc đẩy tổ chức Tân Việt thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn - là một trong ba tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông đã bị thực dân Pháp kết án 2 năm tù vì tham gia ủng hộ phong trào Xôviết Nghệ - Tĩnh.

Tháng 4/1940 đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Võ Nguyên Giáp, ông và đồng chí Phạm Văn Đồng được đồng chí Hoàng Văn Thụ - Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp giao nhiệm vụ sang miền Nam Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Đầu tháng 6/1940, tại Thúy Hồ - Côn Minh - Vân Nam (Trung Quốc), hai ông được gặp đồng chí Vương (tức lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc). Từ đây, Võ Nguyên Giáp được gần gũi, trở thành người học trò xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Nhận thấy ở Võ Nguyên Giáp có tài năng thiên bẩm về quân sự, cho nên sau thời gian thử thách, rèn luyện, tháng 12/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã giao cho Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Kể từ đây, Võ Nguyên Giáp giữ vai trò người chỉ huy cao nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Võ Nguyên Giáp, đội quân từ 34 chiến sĩ trở thành một đội quân cách mạng ngày càng lớn mạnh, từng bước đánh bại những quân đội nhà nghề, sừng sỏ, được trang bị những vũ khí chiến tranh tối tân, hiện đại thời bấy giờ, giành và giữ nền độc lập, tự do cho dân tộc, vẹn toàn lãnh thổ cho Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trên cương vị Bí thư Trung ương Quân ủy, Tổng Chính ủy, Bí thư Tổng Quân ủy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từng bước lớn mạnh, trưởng thành, phát huy vai trò của quân đội cách mạng, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; phát huy thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, từng bước đánh bại các kế hoạch quân sự của địch. Đại tướng đã trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng, đánh dấu sự phát triển của cuộc kháng chiến như Biên Giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào,... Đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, với tư duy quân sự sắc bén, với nhãn quan chiến lược sâu sắc, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, để làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đưa Đại tướng vào hàng danh tướng của thế giới.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cương vị Phó Thủ tướng, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội, Đại tướng chỉ đạo quân, dân trên cả hai miền Nam, Bắc lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh những cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ, ngụy, lập nên những chiến công vang dội, như thắng lợi trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và mùa khô 1966 - 1967, Chiến dịch đường 9 - Nam Lào năm 1971, cuộc tiến công chiến lược năm 1972, hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, làm nên “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội vào tháng 12/1972. Đặc biệt đại thắng mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh đã lập nên mốc son chói lọi, kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng, giành lại trọn vẹn độc lập cho dân tộc, thống nhất cho non sông.

Đất nước hòa bình, thống nhất, Đại tướng đã cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Năm 1991, Đại tướng nghỉ hưu ở tuổi 80.

Với những công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.

Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam suy tôn ông là người “Anh Cả” của quân đội. Bộ đội do ông lãnh đạo, chỉ huy được nhân dân yêu mến gọi là “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là niềm tự hào, là sự kiêu hãnh mà không phải quân đội nào trên thế giới cũng có được.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với những chiến công hiển hách:

Đổi mục tiêu đánh Cao Bằng sang Đông Khê trong chiến dịch biên giới năm 1950.

Trong Chiến dịch Biên Giới 1950, trên cương vị là Bí thư Đảng ủy Mặt trận Biên Giới, Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có những đóng góp quan trọng, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch, tạo bước ngoặt căn bản trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.

Theo kế hoạch tác chiến ban đầu vạch ra, quân ta sẽ bắt đầu chiến dịch bằng tập trung ưu thế binh lực, tiến công tiêu diệt địch trong thị xã Cao Bằng. Sau khi giải quyết xong Cao Bằng, sẽ chuyển xuống tiêu diệt địch ở Đông Khê, rồi tùy tình hình để định hướng phát triển tiếp theo của chiến dịch.

Nhưng trước khi lên đường đi chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh để báo cáo tình hình và được Người căn dặn: Chiến dịch này quan trọng, chỉ được thắng, không được thua. Lời căn dặn đó, khiến đồng chí Tổng Tư lệnh trăn trở, suy nghĩ nhiều về tầm quan trọng của chiến dịch. Vậy, mục tiêu đặt ra cho chiến dịch có vượt quá sức của bộ đội hay không? Lấy thị xã Cao Bằng là điểm đột phá mở đầu chiến dịch có đúng không? Liệu ta có thể huy động đủ lương thực cho lực lượng lớn bộ đội, dân công trong chiến dịch dài ngày không?

Từ những trăn trở đó, đầu tháng 8 năm 1950, Bộ Chỉ huy Chiến dịch tổ chức trinh sát thực địa Cao Bằng. Sau khi phân tích, đánh giá tình hình, để thực hiện quyết tâm bảo đảm đánh chắc thắng trận đầu, trận đánh then chốt mở màn cho chiến dịch tiến công lớn đầu tiên của Quân đội ta. Tại cuộc họp Đảng ủy Mặt trận ngày 16 tháng 8 năm 1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Chiến dịch kết luận: Đánh Cao Bằng trước, “ta chưa có thể nói chắc chắn bảo đảm thắng lợi”. Do vậy, đồng chí đưa ra phương án tác chiến mới, đó là đánh Đông Khê trước để mở màn chiến dịch.

Bởi, nếu đánh Cao Bằng trước, ta sẽ gặp một số khó khăn như vấn đề tổ chức vượt sông, vấn đề đối phó với quân nhảy dù tăng viện lúc chiến đấu... Nếu đánh Cao Bằng không thắng lợi sẽ ảnh hưởng tới niềm tin của bộ đội. Ngược lại, tiến công Đông Khê phù hợp với nguyên tắc bảo đảm chắc thắng trận đầu trong tác chiến chiến dịch, phù hợp với cách đánh của ta (đánh điểm, diệt viện, lấy tiêu diệt địch ngoài công sự là chính), thuận tiện cho ta triển khai binh, hoả lực, phù hợp với khả năng chiến đấu của bộ đội, có khả năng bảo đảm chắc thắng và có cơ hội đánh viện binh địch.

Hơn nữa, lực lượng địch ở Đông Khê yếu hơn so với các mục tiêu khác - là nơi địch tương đối sơ hở nhưng lại là nơi hiểm yếu, nếu Đông Khê bị đột phá, toàn bộ thế trận của địch sẽ bị chia cắt và uy hiếp. Do vị trí quân sự quan trọng của Đông Khê, là mắt xích quan trọng nối với thị xã Cao Bằng với thị trấn Thất Khê. Nếu mất Đông Khê, tuyến phòng thủ đường số 4 sẽ bị chia cắt, thị xã Cao Bằng trở nên cô lập, buộc địch phải đưa quân đến ứng cứu Đông Khê, hoặc rút quân từ Cao Bằng về hỗ trợ.

Phương án này, ngay sau đó, được báo cáo lên Chủ tịch Hồ Chí Minh và được nhất trí thông qua.

Diễn biến của chiến dịch đúng như Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp dự đoán. Sau thời gian chuẩn bị, ngày 16 tháng 9 năm 1950, quân ta nổ súng tiến công Đông Khê, đến sáng 18 tháng 9, quân địch rút chạy, ta làm chủ trận địa. Địch buộc phải điều lực lượng ứng cứu: Binh đoàn Lepager nhận lệnh tiến theo đường số 4 lên đón binh đoàn của Charton từ Cao Bằng rút về cùng hợp điểm tại Đông Khê. Sau đó, ta đã khéo léo “dụ” được hai binh đoàn thiện chiến nhất của quân Pháp rời bỏ những nơi đồn trú kiên cố, cô lập chúng không cho hợp điểm và buộc chúng cuối cùng phải sa vào thế trận “thiên la, địa võng” do ta bày sẵn ở Cốc Xá - Ðiểm cao 477 để tiêu diệt. Thắng lợi đó thể hiện tài năng thao lược thiên bẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Thay đổi phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, giải quyết nhanh sang “Đánh chắc, tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.

Sau khi Điện Biên Phủ được chọn làm điểm quyết chiến chiến lược giữa ta và thực dân Pháp, ngày 14 tháng 01 năm 1954, tại Sở Chỉ huy chiến dịch ở Thẩm Púa, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch mở Hội nghị Cán bộ phổ biến Kế hoạch tác chiến chiến dịch theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” đã xác định và giao nhiệm vụ cho các đơn vị tiến hành công tác chuẩn bị đánh theo Quyết nghị của hội nghị. Nhưng với nhãn quan quân sự nhạy cảm, sắc bén, Đại tướng nhanh chóng phát hiện những điểm yếu của phương án “đánh nhanh, giải quyết nhanh”.

Bởi, “tình hình địch đã thay đổi nhiều. Chúng đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội sẽ phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có”, quan trọng hơn, những khó khăn đó chưa tìm được cách khắc phục. Mặc dù, “pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xuất phát xung phong”, nhưng với tinh thần kỷ luật cùng thái độ trách nhiệm trước Đảng, quân và dân, Đại tướng quyết định “Phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh khác dù bộ đội có thắc mắc. Phải chuyển từ phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Thời gian chuẩn bị sẽ kéo dài.

undefined

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch họp bàn kế hoạch tác chiến Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Từ kinh nghiệm thực tiễn chiến trường những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và thiên bẩm quân sự, Đại tướng đã trình bày quan điểm về phương án tác chiến tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm, phân tích những thay đổi quan trọng về phía địch từ sau Hội nghị Thẩm Púa, cùng những khó khăn chưa thể khắc phục của ta. Từ đó, Đại tướng khẳng định: Phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” không thể đảm bảo nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng”. Đại tướng quả quyết ta vẫn giữ vững quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, nhưng phải thay đối cách đánh và phương châm tác chiến. Sau thời gian thảo luận nghiêm túc, thay mặt Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Mặt trận, Đại tướng kết luận: “Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết, và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới”.

Quyết định hoãn cuộc tiến công, thay đổi phương châm tác chiến là một quyết định quyết đoán, dũng cảm, thể hiện tầm cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị của Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận trước Đảng, nhân dân và Quân đội. Quyết định đó kịp thời tránh được nguy cơ tổn thất cho quân và dân ta mà như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Chỉ được thắng không được bại, vì bại thì hết vốn”.

Thực tiễn diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng minh quyết định của Đại tướng vào thời điểm lịch sử đó là hoàn toàn đúng đắn. Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ức có kể lại đó là “một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình

Ra mệnh lệnh “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa…’ trong trận đại thắng mùa xuân 1975

Với “hai đòn chiến lược gối đầu nhau” là Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng giành thắng lợi, ta đã loại khỏi vòng chiến một nửa lực lượng địch, giải phóng một vùng rộng lớn suốt từ Quảng Trị đến Khánh Hòa, tạo đột biến về cục diện
chiến tranh, khiến địch hoang mang, hoảng loạn, tìm cách co cụm để giữ Sài Gòn...

Nắm bắt thời cơ chiến lược, ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị họp mở rộng bàn về đòn chiến lược thứ ba tiến công Sài Gòn, đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến giải phóng Sài Gòn - Gia Định theo hướng bao vây chiến lược ở phía đông và phía tây Sài Gòn, sử dụng nắm đấm chủ lực, bất ngờ thọc sâu tiêu diệt địch.

Ngày 1/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trên cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương điện cho Trung ương Cục miền Nam, xác định thời gian tiến công Sài Gòn, trong đó nêu rõ: “Hiện nay ta đã có đầy đủ lực lượng và khả năng để giành thắng lợi hoàn toàn trong một thời gian ngắn hơn dự kiến rất nhiều. Vấn đề quyết định là phải kịp thời nắm lấy thời cơ... Thời gian hiện nay phải tính từng ngày. Phải thần tốc, thần tốc, toàn thắng, nhất định toàn thắng”.

Được sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Chính trị, quán triệt tinh thần tiến quân “thần tốc”, trên hướng Đường số 1, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Bộ Chính trị ký quyết định thành lập cánh quân Duyên hải (còn gọi là cánh quân phía Đông, 5/4/1975) và trực tiếp giao nhiệm vụ phải chọc thủng các phòng tuyến của địch từ Nha Trang trở vào Sài Gòn. Tổng Tư lệnh đặt ra yêu cầu đối với cánh quân phía Đông là phải tìm mọi phương án nâng cao tốc độ hành quân để kịp thời gian tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn; quá trình hành quân phải là quá trình bổ sung, sáp nhập và hiệp đồng chiến đấu liên tục, “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”.

Đôn đốc, thúc giục các binh đoàn, lực lượng trên toàn mặt trận, ngày 7/4/1975, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã tự tay thảo bức Điện số 157/ĐK, ra mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”

Cùng với việc chỉ đạo các cánh quân “thần tốc” giải phóng lãnh thổ trên đất liền, ngày 2/4, Đại tướng trực tiếp chỉ thị cho đồng chí Lê Trọng Tấn: Ngoài nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh cho Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân, tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa. Ngày 4/4, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký bức bức “mật điện” số 990B/TK “chỉ cán bộ có trách nhiệm biết”, sau đó tốc chuyển đến đồng chí Võ Chí Công - Chính ủy Quân khu 5 và đồng chí Chu Huy Mân - Tư Lệnh Quân khu 5: giao nhiệm vụ cho Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Khu V, Bộ Tư lệnh Hải quân khẩn trương nghiên cứu kế hoạch tác chiến và tiến hành mọi công tác chuẩn bị để khi có thời cơ kịp thời giải phóng Quần đảo Trường Sa, coi đó là một nhiệm vụ rất quan trọng.

Mệnh lệnh được thi hành ngay tức khắc. Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân triển khai kế hoạch tác chiến. Sau khi Quân khu 5 báo cáo kế hoạch đánh chiếm các đảo, ngày 13/4, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện cho đồng chí Chu Huy Mân nêu ý kiến về thời cơ đánh chiếm các đảo. Ngày hôm sau, nhận được tin quân địch chuẩn bị rút khỏi Trường Sa, Đại tướng chỉ thị cho Quân khu 5: Thời cơ đánh chiếm các đảo lúc này rất thuận lợi. Các anh ra lệnh đánh chiếm ngay. Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra chặt chẽ và thường xuyên báo cáo về Bộ.

Ngày 28/4, quân ta hoàn thành giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa. Đến ngày 30/4 lá cờ giải phóng tung bay trước Dinh Độc lập báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng, một thời khắc thiêng liêng của triệu triệu người Việt Nam khi đất nước được giải phóng, non sông thu về một mối.

Như vậy, suốt ba mươi năm chỉ đạo, điều hành cuộc chiến tranh cách mạng (1945-1975), trên cương vị Tổng Tư lệnh quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp góp phần quan trọng vào những thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta. Hình ảnh và những cống hiến đặc biệt xuất sắc của Đại tướng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc luôn sống mãi với non sông, đất nước, trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, đúng như khẳng định của đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng: “Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đánh giá cao công lao của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta suy tôn đồng chí là Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Con người, nhân cách và những cống hiến to lớn của đồng chí in đậm trong lòng nhân dân, là vị tướng của nhân dân, mãi mãi lưu danh trong lịch sử dân tộc.

Những đánh giá về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các vị tướng ấy (tức tướng Pháp ở Đông Dương) cầm quân đánh trận ở Việt Nam đều thua ông Giáp thì ông Giáp phải trên họ một bậc”

Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng văn, võ song toàn. Vừa võ vừa văn, cả hai lĩnh vực ấy quyện vào, hỗ trợ cho nhau, đều hay, đều giỏi: quân sự - chính trị - kinh tế - văn hóa; văn hóa – chính trị - kinh tế - quân sự”

Tướng De Castrier: “Quân đội viễn chinh Pháp và các tướng tá Pháp chúng tôi là một đội quân nhà nghề, thiện chiến và trang bị hiện đại. Sự kiện tướng Giáp thắng chúng tôi ở Điện Biên Phủ làm chúng tôi ngạc nhiên về tài năng của ông [...] tôi thừa nhận tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cônhi và Đại tướng Navarre. Tôi hân hạnh làm đối thủ của tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông.”

60 năm những người hùng châu Á, bình chọn của tạp chí Time, 2006: “Ngày nay, vẫn chỉnh tề trong bộ quân phục, tướng Giáp khiêm tốn từ chối nhận định rằng những chiến thắng quân sự đã khiến ông trở thành một người anh hùng. Ông khẳng định, chúng tôi đơn giản là bằng chứng rằng “nhân dân Việt Nam, với tinh thần yêu nước, có thể làm nên những điều phi thường”. Đúng vậy. Nhưng tướng Giáp đã chỉ cho họ con đường ấy

Bách khoa toàn thư quân sự Bộ Quốc Phòng Mỹ 1993: “Tài thao lược của tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao… Sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùng với sức mạnh áp đảo về quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thầy giáo dạy sử”

Bách Khoa toàn thư Pháp: “Là người tổ chức Quân đội nhân dân, ông Giáp đã thực hiện được một sự tổng hợp độc đáo các học thuyết mácxít, kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp. Võ Nguyên Giáp đã chứng minh rằng ông có những đức tính ngoài tầm cỡ bình thường trên mọi lĩnh vực lớn của cuộc chiến tranh”

Những phát ngôn kinh điển của Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

Cuộc gặp đầu tiên của Đại tướng với cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Mcnamara tháng 11/1995: “Từ lo sợ không có trong tư duy của chúng tôi. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ chiến thắng.”

Cuộc gặp lần thứ 2 - cũng là lần cuối cùng của cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Mcnamara tháng 6/1997: “Vị tướng dù có công lao đến đâu cũng là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam mới là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ mình bình đẳng với những người lính của mình”

Chiến lược của tôi là chiến lược hòa bình, nhưng hòa bình trong độc lập, tự do” - Trả lời câu hỏi của cố vấn an ninh của Tổng thống Algieria

“Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó” - Đại tướng nói khi được chúc mừng nhân dịp bước sang tuổi 100.

Kính thưa quý vị, chương trình Podcast - Thời sự của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe, rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên: Tuyệt đối không bỏ trống, làm gián đoạn hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên: Tuyệt đối không bỏ trống, làm gián đoạn hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường

“Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên: Tuyệt đối không bỏ trống, làm gián đoạn hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường”, kính thưa quý vị, trên đây là nhan đề của bài viết của nhóm phóng viên được đăng tải trên báo Công Thương điện tử tại trang web congthuong.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên chỉ đạo, Quản lý thị trường cần nêu cao tinh thần, tuyệt đối không bỏ trống, làm gián đoạn hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường.

Bộ trưởng ghi nhận 5 kết quả nổi bật của lực lượng Quản lý thị trường

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025 của lực lượng Quản lý thị trường, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho rằng, đây không chỉ là tổng kết năm mà còn là hội nghị lịch sử, triển khai Nghị quyết 18 thực hiện chủ trương tinh gọn, sắp xếp lại bộ máy hoạt động của các bộ, ngành, đơn vị, trong đó có lực lượng Quản lý thị trường.

Hội nghị cũng nhằm tổng kết, đánh giá và nhìn lại hiệu quả của mô hình hoạt động Tổng cục Quản lý thị trường theo ngành dọc sau hơn 6 năm hoạt động kể từ tháng 10/2018. Tổng kết không phải là kết thúc mà mở ra chương mới hoạt động, dù ở đâu, Quản lý thị trường cũng phải phát huy hiệu lực, hiệu quả, xứng đáng là lực lượng tiên phong trong công tác phòng, chống hàng giả, bảo vệ người tiêu dùng.

Trong năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia và sự chỉ đạo, điều hành sát sao của Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ, lực lượng Quản lý thị trường đã có nhiều nỗ lực, sáng tạo trong triển khai thực hiện nhiệm vụ và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên biểu dương, đánh giá cao công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường của toàn lực lượng.

Thứ nhất, toàn lực lượng đã tích cực, chủ động tham mưu cho cấp có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong hoạt động công vụ của lực lượng (như các đề án, công điện, chỉ thị và văn bản chỉ đạo về: Tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 và Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025; kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong kinh doanh xăng dầu và kinh doanh mặt hàng vàng; đấu tranh phòng chống hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ trên môi trường thương mại điện tử; thực hiện nghiêm quy định về hóa đơn điện tử trong kinh doanh, bán lẻ xăng dầu; tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường sau cơn bão Yagi…, góp phần lành mạnh hóa thị trường, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa trong nước.

Thứ hai, lực lượng đã triển khai khá tốt nhiều đợt cao điểm kiểm tra, kiểm soát thị trường, thanh tra chuyên ngành đấu tranh với các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ. Nhiều vụ việc vi phạm lớn đã bị phát hiện và xử lý (thể hiện rõ qua số vụ thanh tra, kiểm tra, phát hiện xử lý, số tiền xử phạt và số vụ chuyển cơ quan điều tra đều tăng đáng kể so với năm trước). “Kết quả này chứng tỏ vai trò của lực lượng Quản lý thị trường ngày càng được khẳng định, phát huy”- Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên biểu dương.

Cũng theo Bộ trưởng, một số lĩnh vực nổi cộm, có diễn biến phức tạp trong thời gian qua đã được quan tâm chỉ đạo, như: Lĩnh vực thương mại điện tử, số vụ xử lý tăng 2,4 lần và số tiền xử phạt tăng gần 3 lần so với cùng kỳ năm 2023; lĩnh vực kinh doanh mặt hàng vàng, lực lượng Quản lý thị trường đã đồng loạt ra quân kiểm tra, xử lý trên 550 vụ vi phạm, xử phạt hành chính trên 15 tỷ đồng, góp phần thực hiện hiệu quả chỉ đạo của Chính phủ trong việc quản lý thị trường vàng.

Thứ ba, công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cùng cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác Quản lý thị trường và sự phối hợp với các lực lượng chức năng trên địa bàn (như Sở Công Thương, Công an, Quân sự, Biên phòng, Hải quan, Thuế…) trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả… có sự chuyển biến tích cực. Nhiều vấn đề, vụ việc phức tạp đã được xử lý khá tốt, từ đó củng cố được niềm tin của cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương đối với lực lượng Quản lý thị trường (như: Vụ triệt phá kho hàng thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, đồ gia dụng kinh doanh qua mạng xã hội với trị giá hàng hóa trên 20 tỷ đồng tại Hà Nội và vụ phát hiện đối tượng kinh doanh vàng trang sức không rõ nguồn gốc, xuất xứ, trị giá hàng hóa trên 7,3 tỷ đồng tại TP. Hồ Chí Minh...).

Những kết quả này là minh chứng điển hình cho sự nỗ lực của toàn lực lượng trong công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, kiến tạo thị trường lành mạnh, đảm bảo quyền lợi cho cộng đồng doanh nghiệp, người tiêu dùng.

undefined
Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên ghi nhận, lực lượng Quản lý thị trường đã có nhiều nỗ lực, sáng tạo trong triển khai thực hiện nhiệm vụ và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận

Thứ tư, kỷ cương hành chính, nề nếp công tác (từ Tổng cục đến các đơn vị trực thuộc) đã được chấn chỉnh và có chuyển biến khá tích cực. Công tác cán bộ trong toàn lực lượng được kiện toàn đồng bộ, tạo được sự đồng thuận trong tổ chức thực hiện; đặc biệt Tổng cục đã thực hiện khá tốt chủ trương bổ nhiệm nhiều cấp trưởng không phải là người địa phương và đã triển khai nghiêm túc quy định về luân chuyển, điều động công chức các cấp.

Thứ năm, công tác thông tin truyền thông, đối ngoại, hợp tác quốc tế của Tổng cục và các đơn vị trực thuộc được chú trọng và có nhiều chuyển biến rõ nét, giúp nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức thực thi và góp phần tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh.

“Thay mặt Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ, tôi ghi nhận, biểu dương và nhiệt liệt chúc mừng những kết quả mà Tổng cục và toàn lực lượng Quản lý thị trường đã đạt được trong 6 năm qua, đặc biệt là trong năm 2024” - Bộ trưởng ghi nhận và đánh giá cao một lần nữa.

Những hạn chế cần khắc phục, chấn chỉnh

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động Quản lý thị trường vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Nổi lên trong đó là hiệu quả công tác Quản lý thị trường, đấu tranh phòng chống các vi phạm, gian lận thương mại (nhất là trong thương mại điện tử) vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra; tình trạng hàng giả, hàng lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ vẫn bày bán công khai ở nhiều nơi, thủ đoạn vi phạm ngày càng tinh vi, có hệ thống. Các vi phạm về hàng hóa trong thương mại điện tử có xu hướng gia tăng. Số vụ phát hiện và xử lý tuy có tăng so với năm trước nhưng so với thực tế vi phạm thì còn rất nhỏ, chưa phản ánh đúng thực tế tình trạng vi phạm đang diễn ra trên thị trường.

Thứ hai, kiểm tra, kiểm soát địa bàn của các tổ, đội, cơ sở chưa thực sự sâu sát; công tác thanh tra, kiểm tra tại một số đơn vị mới chỉ tập trung chủ yếu vào những hành vi vi phạm đơn giản (như ở khâu giấy phép kinh doanh và niêm yết giá); áp dụng chế tài xử phạt không đủ sức răn đe.

Thứ ba, công tác quản lý, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức công vụ cho cán bộ công chức ở nhiều đơn vị chưa tốt; sức ì trong đội ngũ cán bộ, công chức (nhất là ở cấp cơ sở) còn lớn; công chức vi phạm quy định của ngành (thậm chí vi phạm quy định pháp luật) vẫn tiếp tục xảy ra; việc xử lý sai phạm ở một số nơi chưa nghiêm túc. Tình trạng nhũng nhiễu (thậm chí có dấu hiệu bảo kê) của một số cán bộ trong lực lượng khi thi hành công vụ.

Chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, Bộ trưởng cho rằng có cả khách quan và chủ quan; trong đó các nguyên nhân chủ quan chủ yếu đến từ việc nghiên cứu, quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của Nhà nước và của ngành ở nhiều đơn vị chưa tốt; công tác quản lý, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng (cả về lý luận, phẩm chất đạo đức và chuyên môn, nghiệp vụ) cho cán bộ trong lực lượng chưa đạt yêu cầu đề ra.

Chưa kể, công tác kiểm tra, giám sát của cấp trên với cấp dưới và việc đấu tranh với tinh thần xây dựng giữa các bộ phận cùng cấp chưa thường xuyên, kém hiệu quả; việc xử lý vi phạm của tổ chức, cá nhân chưa thật nghiêm túc nên không đủ sức răn đe.

Thêm vào đó, vai trò của các cấp uỷ, tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo ở nhiều đơn vị chưa được phát huy; tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu một số đơn vị chưa rõ nét; kỷ cương, nề nếp trong nhiều đơn vị cơ sở không nghiêm.

Ngoài ra, việc phối hợp với các ngành, các cấp, các lực lượng (nhất là ở cấp địa phương) trong triển khai thực hiện nhiệm vụ có lúc, có việc còn chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, chưa tranh thủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương. Không những vậy, năng lực, trình độ và tinh thần trách nhiệm của một bộ phận công chức Quản lý thị trường (kể cả đội ngũ lãnh đạo, quản lý) ở một số đơn vị còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.

Tuyệt đối không để gián đoạn hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường

Năm 2025, tình hình kinh tế - xã hội nói chung và ngành Công Thương nói riêng được dự báo tiếp tục có nhiều khó khăn, thách thức. Khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi. Nền kinh tế mở cùng với tốc độ gia tăng cao của thương mại điện tử (nhất là thương mại điện tử xuyên biên giới) sẽ ngày càng đặt ra nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp hơn cho công tác Quản lý thị trường. Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng bùng phát và ngày càng tinh vi hơn. Bên cạnh đó, kinh tế nước ta đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, với việc tham gia nhiều các Hiệp định thương mại sẽ mang lại nhiều thời cơ, thuận lợi cho hoạt động ngoại thương nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề về quản lý hàng hóa nhập khẩu, nhất là hàng tạm nhập, tái xuất.

Từ bối cảnh trên, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho rằng, mục tiêu chung của công tác Quản lý thị trường năm tới là tập trung đấu tranh, hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, phấn đấu tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy sản xuất trong nước.

Để thực hiện tốt mục tiêu trên và kịp thời khắc phục những hạn chế, yếu kém thời gian qua, Bộ trưởng đề nghị toàn lực lượng tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, thực hiện thắng lợi, toàn diện các nhiệm vụ năm 2025 được giao, thông qua các nhiệm vụ:

Một là, tiếp tục quán triệt thật sâu sắc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia và của Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ (qua các Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, Công điện…), cùng với khuyến nghị của các Bộ, ngành liên quan và chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các địa phương để thực hiện đúng, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Quản lý thị trường, tạo môi trường lành mạnh cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời, qua thực tiễn quản lý, thực thi công vụ, lực lượng Quản lý thị trường cần tiếp tục chủ động, tích cực tham mưu cho Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương ban hành mới (hoặc sửa đổi, bổ sung) các quy định, cơ chế chính sách bảo đảm đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động của toàn lực lượng.

Hai là, tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thị trường (đặc biệt là trong các dịp Tết, Lễ) nhằm kịp thời phát hiện và xử lý thật nghiêm các sai phạm, nhất là những sai phạm có tính phổ biến trong sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ. Chú trọng kiểm tra, xử lý các sai phạm trong các ngành hàng thiết yếu như: xăng dầu, phân bón; các loại thực phẩm, đồ uống, thuốc lá (nhất là thuốc lá thế hệ mới); thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm, hàng thời trang, hàng điện tử...

Trong bối cảnh mới, cả nước đang tích cực và khẩn trương thực hiện Nghị quyết 18, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đặc biệt nhắc lại tinh thần, không có khoảng trống, không bị đứt đoạn trong công tác triển khai, thực thi nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thị trường của lực lượng Quản lý thị trường.

Đồng thời, tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn với các lực lượng trong đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại trong thương mại điện tử, đặc biệt là thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết của UBTV Quốc hội về giám sát chuyên đề Thương mại điện tử và các chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương trong lĩnh vực thương mại điện tử (như Đề án chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025; Chỉ thị số 18 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ phát triển thương mại điện tử, chống thất thu thuế, bảo đảm an ninh tiền tệ; tăng cường công tác hậu kiểm trong quản lý hoạt động thương mại điện tử).
Ba là, tập trung chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong chỉ đạo điều hành và ý thức chấp hành pháp luật của công chức trong toàn lực lượng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ; kiên quyết xử lý nghiêm, kịp thời, đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân sai phạm, nhất là đối với hành vi bảo kê, tham nhũng, tiêu cực trong thực thi công vụ.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức, sự đồng thuận trong hành động và sự chia sẻ, ủng hộ của xã hội đối với các hoạt động của ngành; đồng thời, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong mọi hoạt động, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn trên các mặt công tác trong toàn lực lượng.

Năm là, về sắp xếp tổ chức bộ máy của lực lượng Quản lý thị trường thời gian tới.

Liên quan đến nhiệm vụ này, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho biết, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và yêu cầu, định hướng của Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo Chính phủ về sắp xếp, tinh gọn bộ máy, Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ đã chỉ đạo kết thúc mô hình tổ chức của Tổng cục Quản lý thị trường và chuyển các Cục Quản lý thị trường ở địa phương về UBND các tỉnh, thành phố quản lý, kiến nghị mô hình Chi cục Quản lý thị trường thuộc Sở.

"Đây là là việc khó, phức tạp, nhạy cảm nhưng không thể không làm và không thể làm chậm trễ hơn. Do đó, để thực hiện tốt nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, tôi đề nghị cấp uỷ, Lãnh đạo Tổng cục Quản lý thị trường và các Cục Quản lý thị trường địa phương cần quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc chủ trương của Bộ Chính trị và yêu cầu, định hướng của Ban Chỉ đạo Chính phủ và của Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Công Thương về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cần phát huy cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, quyết liệt trong triển khai thực hiện nhiệm vụ này" - Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên thông tin và chỉ đạo, toàn lực lượng cần làm thật tốt công tác chính trị tư tưởng, công tác cán bộ (nhất là việc bố trí, sắp xếp và thực hiện chính sách cán bộ), tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong nhận thức và hành động trong toàn lực lượng và từng cơ quan, đơn vị.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cũng đề nghị, toàn lực lượng xác định việc sắp xếp tổ chức bộ máy là việc cần làm và phải làm ngay nhưng phải làm khách quan, dân chủ, khoa học, bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả (chứ không phải là sự sắp xếp cơ học) nhằm giảm thiểu sự chồng chéo, không rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ giữa các đơn vị (tổ, đội).

"Tuyệt đối không để phát sinh tư tưởng, mất đoàn kết nội bộ; không để xảy ra tình trạng so bì, bê trễ, lơ là trong thực thi công vụ, nhất là trong bối cảnh năm mới và Tết nguyên đán Ất Tỵ 2025 đang đến gần, thị trường hàng hoá sẽ rất sôi động, dễ phát sinh những sai phạm trong sản xuất, kinh doanh nếu công tác kiểm tra, giám sát thị trường bị buông lỏng" - Bộ trưởng chỉ đạo và đặc biệt nhấn mạnh thêm một lần nữa về nhiệm vụ không để gián đoạn, không tạo khoảng trống trong công tác quản lý thị trường.

Đặc biệt, Bộ trưởng yêu cầu, cần tập trung triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch cao điểm chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả các tháng cuối năm 2024; dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025 đã được ban hành, bảo đảm ổn định thị trường, phục vụ tốt nhu cầu nhân dân vui Xuân đón Tết.

Trong quá trình tổ chức thực hiện việc sắp xếp, tổ chức bộ máy bên trong, Tổng cục và các Cục Quản lý thị trường địa phương phải bám sát yêu cầu, định hướng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Ban Chỉ đạo Chính phủ và Ban Chỉ đạo của Bộ để bảo đảm chất lượng, tiến độ triển khai và chỉ tiêu sắp xếp tối thiểu được giao; đồng thời, cần lưu ý các vấn đề liên quan đến xử lý tài chính, ngân sách, tài sản công và chuyển tiếp quản lý dự án đầu tư công trong quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Bên cạnh đó, cần chủ động rà soát, tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành mới hoặc sửa đổi bổ sung các quy định, cơ chế chính sách phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới để bảo đảm mô hình bộ máy mới phải tốt hơn mô hình cũ và phải đi vào hoạt động ngay, không để ngắt quãng công việc, không để khoảng trống về thời gian, bỏ trống địa bàn phụ trách.

Về phía Bộ Công Thương, Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Công Thương sẽ chủ động kiến nghị với cấp có thẩm quyền, cũng như trao đổi, làm việc với các Bộ, ngành liên quan và cấp uỷ, chính quyền địa phương để có chính sách cán bộ hợp lý, tạo thuận lợi cho cán bộ công chức trong lực lượng Quản lý thị trường khi thực hiện sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo mô hình mới.

Tiếp thu những ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên, Tổng Cục trưởng Trần Hữu Linh cho biết, toàn lực lượng sẽ nghiêm túc triển khai các ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng và dù ở đơn vị nào lực lượng Quản lý thị trường cũng thể hiện bản lĩnh của người lính trung kiên, phát huy tốt vai trò, nhiệm vụ, trở thành lực lượng chủ công, nòng cốt trong công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường.

“Các đồng chí phải quyết liệt thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Công Thương. Tổng cục Quản lý thị trường vẫn phải cùng Cục Quản lý thị trường các địa phương quán triệt thực hiện nhiệm vụ cho đến khi có quy định mới" - Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên chỉ đạo.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Thời sự của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Cách mạng tinh gọn bộ máy: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng

Cách mạng tinh gọn bộ máy: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng

“Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”, kính thưa quý vị, trên đây là nhan đề của bài viết được đăng tải trên báo Nhân dân điện tử tại trang web nhandan.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Điểm hội tụ chiến lược sau 40 năm đổi mới đất nước đem đến cơ hội lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; đồng thời, cũng đặt ra yêu cầu cấp bách thực hiện quyết liệt cuộc cách mạng nhằm xây dựng hệ thống chính trị thật sự tinh gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.

Việc đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng không chỉ là đòi hỏi tất yếu mà còn là mục tiêu trọng tâm, mang tính quyết định đến sự thành công trong sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế-xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong bài viết “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là một trong những yếu tố then chốt đưa Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành người cầm lái vĩ đại, người thuyền trưởng tinh anh đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Việc tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền và khẳng định sức chiến đấu của Đảng, không chỉ là trách nhiệm của toàn Đảng mà còn là sứ mệnh cao cả để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng, phồn vinh, hạnh phúc.

undefined
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ảnh: Đăng Khoa

Khẳng định sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền giúp Đảng thực hiện tốt vai trò định hướng chiến lược và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Năng lực lãnh đạo, cầm quyền không chỉ thể hiện ở việc xây dựng các chủ trương, đường lối đúng đắn mà còn ở khả năng tổ chức thực hiện hiệu quả, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, nhân dân và mọi chủ thể trong xã hội. Điều này đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy lãnh đạo, tránh bảo thủ, trì trệ và sẵn sàng tiếp thu, chọn lọc những mô hình quản trị hiện đại phù hợp thực tiễn.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đề ra yêu cầu “Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền, xác định rõ mục đích cầm quyền, phương thức cầm quyền, nội dung cầm quyền, điều kiện cầm quyền; vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền; các nguy cơ cần phải phòng ngừa đối với đảng cầm quyền”.

Tiếp đó, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục bổ sung nhiều điểm mới và quan trọng, trong đó có thuật ngữ “năng lực cầm quyền” vào mục tiêu tổng quát “nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”; từ đó, nêu lên quan điểm chỉ đạo: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”.

Sức chiến đấu của Đảng là yếu tố cốt lõi để bảo vệ vai trò lãnh đạo, cầm quyền trước các thách thức nội tại và ngoại lực. Đảng không chỉ phải đối mặt với nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ mà còn phải đứng vững trước sự chống phá từ các thế lực thù địch. Sức chiến đấu mạnh mẽ được thể hiện ở sự đoàn kết nội bộ, tính kỷ luật cao và khả năng hành động đồng bộ của từng tổ chức đảng. Mỗi đảng viên, cán bộ cần không ngừng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm và tinh thần phục vụ nhân dân.

Để hiện thực hóa tinh thần “Tinh-Gọn-Mạnh-Hiệu năng-Hiệu lực-Hiệu quả” - kim chỉ nam cho việc cải cách và đổi mới năng lực lãnh đạo, quản lý và tổ chức của Đảng và Nhà nước, chúng ta cần làm rõ nội dung trọng tâm và áp dụng các phương pháp cụ thể trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện. Đây không chỉ là một yêu cầu về cải cách bộ máy, mà còn là nguyên tắc cốt lõi nhằm tối ưu hóa tổ chức bộ máy, bảo đảm sự gọn nhẹ nhưng vẫn giữ được sức mạnh toàn diện, từ đó nâng cao hiệu quả trong mọi hoạt động, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước để bước vào kỷ nguyên mới.

Tinh thần “Tinh-Gọn” đề cao việc tổ chức bộ máy một cách khoa học, hợp lý, loại bỏ những đầu mối, tầng nấc trung gian không cần thiết, giảm thiểu tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Một tổ chức tinh gọn giúp cải thiện khả năng ra quyết định, giảm bớt thủ tục hành chính, đồng thời tiết kiệm thời gian và nguồn lực. Đối với hệ thống chính trị, tinh gọn không chỉ là sắp xếp lại cơ cấu mà còn là cải cách mạnh mẽ về tư duy và phương pháp làm việc. Bộ máy tinh gọn tạo điều kiện để các cấp lãnh đạo tập trung vào nhiệm vụ chiến lược, thúc đẩy sự sáng tạo, hiệu quả trong chỉ đạo và thực thi.

Tinh thần “Mạnh” chú trọng sức mạnh nội tại của bộ máy tổ chức, được xây dựng từ chất lượng của đội ngũ cán bộ và sự thống nhất trong hành động. Một tổ chức mạnh mẽ phải có đội ngũ nhân sự tinh hoa, được đào tạo bài bản, có bản lĩnh chính trị vững vàng và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Sự mạnh mẽ còn thể hiện ở khả năng thích ứng nhanh trước các thay đổi, giải quyết hiệu quả các thách thức và tận dụng tốt các cơ hội phát triển. Đây là yếu tố quan trọng để bảo vệ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm sự ổn định và phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Tinh thần “Hiệu năng-Hiệu lực-Hiệu quả” hướng đến mục tiêu cao nhất là mang lại giá trị thực tiễn rõ rệt, đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế-xã hội và cải thiện toàn diện chất lượng đời sống nhân dân. Hiệu năng thể hiện ở khả năng vận hành trơn tru, nhịp nhàng của hệ thống, tối ưu hóa các nguồn lực để đạt kết quả tốt nhất; hiệu lực là khả năng thực thi các quyết định một cách khoa học, nhanh chóng, đúng mục tiêu; còn hiệu quả chính là thước đo kết quả thực tế đạt được. Để hiện thực hóa các giá trị này, cần áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, đổi mới công tác giám sát và kiểm tra, đồng thời khuyến khích đổi mới sáng tạo và không ngừng cải tiến quy trình hoạt động của tổ chức.

Những đòi hỏi, thách thức từ thực tiễn

Trải qua hơn 90 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, Đảng không chỉ khẳng định vai trò lãnh đạo, cầm quyền đối với hệ thống chính trị mà còn đóng vai trò trung tâm trong việc hoạch định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường, cùng với những khó khăn, thách thức nội tại đặt ra yêu cầu cấp thiết về cải cách, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Thứ nhất, về tổ chức bộ máy của Đảng hiện nay

Trong những năm qua, tổ chức bộ máy của Đảng đã có những cải cách mạnh mẽ hướng tới tinh gọn, hiệu quả, khoa học hơn nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển đất nước phù hợp tình hình thực tiễn. Các cơ quan Đảng từ Trung ương đến địa phương được sắp xếp lại theo hướng giảm bớt tầng nấc trung gian, loại bỏ các khâu chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ, kịp thời khắc phục những bất cập, hạn chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy. Tuy nhiên, một số cơ quan còn cồng kềnh, hoạt động chồng chéo, làm giảm hiệu quả và gây lãng phí nguồn lực. Tại một số địa phương, sự phối hợp giữa các cơ quan Đảng và chính quyền chưa thật sự chặt chẽ, dẫn đến tình trạng xử lý công việc chậm trễ, không đồng bộ, vẫn còn tình trạng cán bộ, đảng viên thiếu tinh thần trách nhiệm, chưa nắm bắt được yêu cầu đổi mới và hội nhập, thậm chí còn có trường hợp vi phạm đạo đức, pháp luật, làm giảm uy tín của Đảng.

Thứ hai, về hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong tình hình hiện nay

Hiệu quả lãnh đạo của Đảng được thể hiện rõ nét qua những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Việt Nam đã và đang duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, trở thành một trong những nền kinh tế năng động nhất khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực lan tỏa trong xã hội. Hàng loạt vụ án lớn đã được xử lý nghiêm minh, nhiều cán bộ cấp cao bị kỷ luật, truy tố, cho thấy quyết tâm của Đảng trong việc xây dựng một bộ máy trong sạch, vững mạnh.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế cần sớm được khắc phục để nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng: Một số chủ trương, nghị quyết quan trọng của Đảng triển khai xuống cơ sở còn chậm, thiếu sự đồng bộ, dẫn đến khó khăn trong khâu tổ chức thực hiện. Việc xây dựng chính sách ở một số lĩnh vực chưa thật sự bám sát thực tiễn, gây ra tình trạng lãng phí nguồn lực hoặc không đạt được kết quả như kỳ vọng.

Thứ ba, về năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cầm quyền, là lực lượng duy nhất tiếp nối vai trò và sứ mệnh lịch sử lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bắt tay vào xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, đem lại độc lập cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Tuy nhiên, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc dự báo và ứng phó với các tình huống phức tạp, đặc biệt là những vấn đề về an ninh phi truyền thống, còn gặp nhiều khó khăn; một số nơi vẫn còn tồn tại tình trạng xa rời quần chúng, thiếu lắng nghe ý kiến từ nhân dân, dẫn đến sự giảm sút niềm tin ở một bộ phận người dân.

Ngoài ra, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đang trở thành nhiệm vụ trọng tâm. Việc rèn luyện đạo đức, tư tưởng và năng lực chuyên môn cho cán bộ cần được quan tâm hơn nữa, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang tích lũy đủ thế và lực khẩn trương bước vào kỷ nguyên mới.

Giải pháp đồng bộ, quyết liệt, đổi mới phương thức lãnh đạo

Theo tinh thần “Tinh-Gọn-Mạnh-Hiệu năng-Hiệu lực-Hiệu quả”, Đảng Cộng sản Việt Nam cần triển khai các giải pháp đồng bộ, quyết liệt để tiếp tục khẳng định năng lực cầm quyền, lãnh đạo toàn diện, bảo đảm sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Một là, cải cách tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, văn hóa, con người..., đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”.

Xuất phát từ tinh thần đó, quá trình cải cách bắt đầu từ thực hiện rà soát, tổ chức lại các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ trùng lặp nhằm loại bỏ các tầng nấc trung gian, từ đó tối ưu hóa nguồn lực và tăng cường hiệu quả thực thi chính sách. Quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, tránh tình trạng lạm quyền hoặc trốn tránh trách nhiệm.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số trong quản lý và điều hành là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu suất làm việc, gia tăng tính minh bạch và hạn chế các tiêu cực trong quá trình thực thi công vụ nhằm xây dựng bộ máy tối ưu phục vụ người dân và mọi chủ thể trong xã hội.

Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm hiệu quả năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để có được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Để xây dựng một đội ngũ cán bộ vừa tinh gọn vừa mạnh mẽ, đội ngũ này cần được đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên, qua đó hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Mỗi cán bộ cần được trang bị kiến thức chuyên sâu, khả năng nắm bắt và ứng dụng công nghệ hiện đại, đồng thời nắm chắc các vấn đề chiến lược trong nước và quốc tế để đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển. Việc đánh giá định kỳ hiệu quả công tác sẽ giúp nhận diện đúng, trúng những cán bộ không đạt yêu cầu, từ đó mạnh dạn thay thế và bổ sung nguồn lực mới, bảo đảm đội ngũ cán bộ luôn ở trạng thái sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ được giao phó.

Hơn nữa, cần xây dựng môi trường làm việc thuận lợi để cán bộ, đảng viên được phát huy tối đa năng lực, trình độ, sở trường và đề xuất các giải pháp kịp thời xử lý tốt các vấn đề phát sinh từ thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng

Hiệu quả lãnh đạo của Đảng phụ thuộc lớn vào việc duy trì kỷ luật và thực thi nghiêm minh các nguyên tắc tổ chức. Để bảo đảm tính minh bạch, sự tin tưởng của nhân dân và sự vững mạnh của Đảng, cần thực hiện kiểm tra thường xuyên, toàn diện ở mọi cấp, từ Trung ương đến cơ sở, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các dấu hiệu tiêu cực hoặc sai phạm trong tổ chức và đội ngũ cán bộ. Công tác này cần được tiến hành đồng bộ, thường xuyên để không xảy ra tình trạng “vùng cấm”, “lấn sân”, “vô hiệu hóa” lẫn nhau, làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy.

Đại hội XIII chỉ rõ: “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, giám sát chặt chẽ việc cụ thể hóa, thể chế hóa, tổ chức thực hiện nghị quyết; coi trọng kiểm tra, giám sát, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, quy định, chỉ thị, kết luận của Đảng, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả”.

Việc này nhằm bảo đảm mọi hành vi vi phạm đạo đức, pháp luật của cán bộ, đảng viên đều được xử lý công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội. Tăng cường các biện pháp phòng ngừa, đặc biệt là trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong quản lý tài chính-ngân sách, đất đai... Việc xây dựng cơ chế giám sát từ sớm, từ xa, nhất là ứng dụng công nghệ hiện đại sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, làm cho mọi hoạt động của tổ chức công khai, minh bạch hơn.

Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng

Phương thức lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng cần được đổi mới để phù hợp yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Thay vì áp đặt các chỉ thị cứng nhắc, Đảng cần tập trung vào định hướng chiến lược, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, từ đó nâng cao hiệu quả và tính linh hoạt trong quản lý.

Trước khi đưa ra các quyết định lớn, cần lấy ý kiến từ các chuyên gia, nhà khoa học, người dân và mọi chủ thể trong xã hội. Điều này bảo đảm chính sách không chỉ mang tính thực tiễn mà còn khả thi trong việc triển khai. Việc tổ chức các buổi đối thoại, diễn đàn sẽ giúp Đảng lắng nghe trực tiếp ý kiến và nguyện vọng của nhân dân. Những thông tin thực tế này là cơ sở để Đảng điều chỉnh chính sách phù hợp, kịp thời.

Năm là, củng cố mối quan hệ mật thiết với nhân dân

Mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng và nhân dân là nền tảng quan trọng để giữ vững sức mạnh lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng. Nhằm củng cố và thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, đòi hỏi tất cả các chính sách của Đảng và Nhà nước cần đặt lợi ích của nhân dân ở trung tâm, bảo đảm sự công bằng, minh bạch và hiệu quả. Chính sách cần phản ánh đúng nhu cầu thực tế của nhân dân, mang lại lợi ích thiết thực và tạo niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Nghị quyết Đại hội XIII nêu rõ phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đó chính là quyền làm chủ thật sự của Nhân dân, vì Nhân dân, đồng thời cũng là điểm quan trọng trong phương pháp, phương thức lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo, cầm quyền bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ chính là cách thức cầm quyền bền vững nhất, dựa trên việc đem lại lợi ích và hạnh phúc, ấm no cho Nhân dân.

Với tinh thần đó, cán bộ, đảng viên cần gần gũi hơn với nhân dân, thường xuyên lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng để giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội. Đảng cần tạo điều kiện để người dân tham gia tích cực vào các hoạt động quản lý nhà nước và giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền.

Khẳng định rằng, chủ trương “Tinh-Gọn-Mạnh-Hiệu năng-Hiệu lực- Hiệu quả” không chỉ là kim chỉ nam cho việc nâng cao vai trò lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, mà còn là nền tảng để xây dựng bộ máy của hệ thống chính trị hiện đại, minh bạch, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Đổi mới tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, tăng cường kiểm tra, giám sát, củng cố mối quan hệ mật thiết với nhân dân và đổi mới phương thức lãnh đạo là những bước đi chiến lược để Đảng phát huy hiệu quả năng lực cầm quyền, lãnh đạo toàn diện. Với sự quyết tâm, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, Đảng sẽ tiếp tục dẫn dắt đất nước bắt kịp xu hướng phát triển của thời đại, đưa đất nước ta vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hùng cường, thịnh vượng của dân tộc.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Thời sự của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Bài 1: Trụ cột vững chắc của đất nước trong mọi thời kỳ

Bài 1: Trụ cột vững chắc của đất nước trong mọi thời kỳ

“Trụ cột vững chắc của đất nước trong mọi thời kỳ”, kính thưa quý vị, trên đây là nhan đề Bài viết 1 của tác giả Thế Duy, nhân chuỗi sự kiện 80 năm Quân đội Nhân dân Việt Nam - Hành trình vươn mình cùng đất nước, trong chuyên mục Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, được đăng tải trên Báo điện tử Công Thương tại trang web congthuong.vn. Sau đây là nội dung bài viết, kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Trong suốt 80 năm, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ghi dấu ấn đậm nét với những chiến công lẫy lừng và tinh thần chiến đấu quả cảm vì độc lập, tự do của dân tộc.
Trong hành trình lịch sử dài 80 năm, Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) đã ghi dấu ấn đậm nét với những chiến công lẫy lừng và tinh thần chiến đấu quả cảm vì độc lập, tự do của dân tộc. Được thành lập vào ngày 22/12/1944, QĐNDVN không chỉ là lực lượng vũ trang chủ lực mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, sự kiên cường và trí tuệ Việt Nam. Từ một tổ chức với 34 chiến sĩ ban đầu, lực lượng đã phát triển thành một quân đội hùng mạnh và hiện đại, luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước.

Quân đội trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) và chống Mỹ (1954 - 1975)

Bắt đầu với chỉ 34 chiến sĩ cùng trang bị vũ khí đơn sơ, nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, QĐNDVN đã dần lớn mạnh và trở thành lực lượng quân sự quan trọng trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là minh chứng rõ nét cho sự trưởng thành của QĐNDVN, đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc và trở thành niềm tự hào không chỉ của người Việt Nam mà còn của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam thời kỳ đó. Trong quá trình chuẩn bị và triển khai chiến dịch, QĐNDVN đã thể hiện sự sáng tạo và linh hoạt trong chiến lược. Điều này đã khiến quân đội Pháp và cả thế giới phải ngỡ ngàng về một dân tộc nhỏ bé nhưng có tinh thần quật cường, ý chí sắt đá.
Sau khi chiến thắng Pháp, Việt Nam tiếp tục đối mặt với một kẻ thù mới - đế quốc Mỹ. Trong suốt hai mươi năm sau đó, QĐNDVN đã phải chiến đấu trong một cuộc chiến tranh quy mô lớn và phức tạp, không chỉ đòi hỏi sức mạnh quân sự mà còn cả khả năng tư duy chiến lược và sự linh hoạt trong mọi tình huống. Trong thời gian này, QĐNDVN đã triển khai hàng loạt chiến dịch lớn như Tết Mậu Thân 1968, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971 và đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước.

Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, QĐNDVN tiếp tục đối mặt với hai cuộc chiến đấu quan trọng nhằm bảo vệ chủ quyền và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Trước hành động xâm lược của quân Pol Pot trên biên giới Tây Nam, đáp lời kêu gọi từ Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã phát động cuộc phản công quyết liệt. Đỉnh cao là chiến thắng ngày 7/1/1979, giải phóng Thủ đô Phnom Penh và toàn bộ đất nước Campuchia khỏi chế độ diệt chủng tàn bạo. Trong suốt 10 năm (1979 - 1989), quân tình nguyện Việt Nam sát cánh cùng Campuchia truy quét tàn quân, củng cố chính quyền cách mạng và hồi sinh quốc gia này.

undefined
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam - được thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng). Ảnh: Tư liệu

Cũng trong năm 1979, quân và dân Việt Nam đã kiên cường bảo vệ biên giới phía Bắc trước sự tấn công xâm lược. Dù thời gian chiến sự trực tiếp ngắn (17/2 - 6/3/1979) nhưng căng thẳng biên giới kéo dài đến cuối thập niên 80. Qua những trận chiến cam go, lực lượng vũ trang đã giữ vững chủ quyền lãnh thổ.
Thắng lợi trên cả hai mặt trận không chỉ bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ mà còn tạo nền tảng hòa bình cho phát triển đất nước, khẳng định tình đoàn kết quốc tế cao cả của dân tộc Việt Nam.
Các chiến dịch trong giai đoạn này không chỉ là những cuộc giao tranh quyết liệt mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của QĐNDVN. Bên cạnh đó, quân đội còn nhận được sự ủng hộ lớn lao từ nhân dân trong cả nước, với tinh thần “hậu phương vững chắc”, đóng góp nhân lực, vật lực để cung cấp cho tiền tuyến. Chiến thắng 30/4/1975 là minh chứng rõ ràng nhất cho sức mạnh đoàn kết toàn dân và là biểu tượng của sự thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì chính nghĩa.
Giai đoạn đổi mới và hội nhập (từ năm 1986 đến nay)
Bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986, vai trò của QĐNDVN không chỉ giới hạn trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia mà còn tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, QĐNDVN đã không ngừng cải tiến và hiện đại hóa, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ quân sự và huấn luyện. Các nhiệm vụ quân sự thường xuyên, đặc biệt là công tác huấn luyện và nâng cao năng lực sẵn sàng chiến đấu, luôn được quân đội duy trì và phát triển.
QĐNDVN hiện nay đang tập trung vào quá trình hiện đại hóa để trở thành một lực lượng quân sự tinh nhuệ và chuyên nghiệp. Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, QĐNDVN đang dần tiếp cận với những trang bị, vũ khí tiên tiến từ các nước có nền công nghiệp quốc phòng phát triển. Các hoạt động diễn tập, huấn luyện thường xuyên được các cấp lãnh đạo quan tâm chỉ đạo, qua đó tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ lãnh thổ.
Việc xây dựng quân đội hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế còn nhằm mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của đất nước trước những thách thức an ninh khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, QĐNDVN cũng chú trọng phát triển các lực lượng phòng thủ an ninh mạng và khả năng phòng vệ trước các thách thức an ninh phi truyền thống, nhằm đảm bảo sự ổn định của đất nước.
Những thách thức và định hướng phát triển trong tương lai
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, QĐNDVN đối diện với những thách thức trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và đối phó với những nguy cơ an ninh phi truyền thống như tội phạm mạng, buôn lậu, và thảm họa môi trường. Để ứng phó với các thách thức này, QĐNDVN đã có những định hướng phát triển cụ thể, bao gồm việc đầu tư vào công nghệ quốc phòng hiện đại, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ và cải thiện khả năng tác chiến.
Việc hiện đại hóa quân đội không chỉ dừng lại ở mua sắm trang bị mới mà còn chú trọng vào việc xây dựng đội ngũ quân nhân có kiến thức, có phẩm chất đạo đức và khả năng ứng phó với các tình huống khó khăn.
Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, QĐNDVN đã thể hiện vai trò to lớn và quan trọng không chỉ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc mà còn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Từ những chiến thắng vang dội trong cuộc chiến giành độc lập đến những đóng góp thiết thực trong thời bình, QĐNDVN luôn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Với những thách thức hiện tại và trong tương lai, quân đội sẽ không ngừng phấn đấu và phát triển, tiếp tục là trụ cột vững chắc của đất nước trong mọi thời kỳ.
(Tài liệu tham khảo - Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12/1944 - 22/12/2024) và 35 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2024)


Kính thưa quý vị, chương trình Podcast - Chính luận 35 của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe, rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.