Longform
28/09/2026 08:39
Multimedia

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ

Thứ Hai, 28/09/2026 08:39:37 +07:00

(Công Thương) - Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á về quy mô hệ thống điện; thuộc nhóm hàng đầu thế giới về tự chủ lương thực; xếp thứ 32 thế giới về quy mô kinh tế và có 17 Hiệp định thương mại tự do. Vậy phần nào của nền kinh tế đã tự chủ được, phần nào chưa và thước nào đo được điều đó?

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 1

 

Dây chuyền lắp ráp trong một nhà máy chế tạo. Lắp ráp là khâu Việt Nam đã làm được ở quy mô lớn, phần chưa làm chủ nằm ở khâu chế tạo lõi. Ảnh tư liệu quốc tế. Nguồn: Wikimedia Commons

Dây chuyền lắp ráp trong một nhà máy chế tạo. Lắp ráp là khâu Việt Nam đã làm được ở quy mô lớn, phần chưa làm chủ nằm ở khâu chế tạo lõi. Ảnh tư liệu quốc tế. Nguồn: Wikimedia Commons

Tám kỳ trước đo tám mặt của ngành Công Thương trong tám tháng: toàn cảnh, công nghiệp, xuất nhập khẩu, hiệp định thương mại, điện, xăng dầu, thị trường trong nước, thể chế. Mỗi kỳ đều chạm tới hai chữ "tự chủ" ở một góc. Kỳ này gom các góc ấy lại thành một câu hỏi duy nhất. Câu hỏi ấy chỉ trả lời được nếu nói rõ tự chủ là gì.

Tự chủ không phải là tự cung tự cấp. Trong các nền kinh tế lớn, việc tự sản xuất đủ mọi thứ mình dùng không phải là mục tiêu được đặt ra, vì phân công lao động quốc tế cho phép mỗi nước tập trung vào phần mình làm tốt nhất. Tự chủ cũng không phải là giảm kim ngạch nhập khẩu. Một nước công nghiệp hoá nhanh thì nhập khẩu máy móc và nguyên liệu càng nhiều, đó là dấu hiệu của mở rộng năng lực sản xuất chứ không phải dấu hiệu lệ thuộc.

Tự chủ, theo cách hiểu ở đây là khả năng của một nền kinh tế giữ được quyền quyết định về sản xuất của mình khi hoàn cảnh bên ngoài thay đổi đột ngột. Nó gồm ba lớp: có nguồn thay thế khi một đầu mối cung ứng đứt; có đủ năng lực kỹ thuật để tự làm phần cốt lõi nếu bị từ chối chuyển giao; và giữ lại trong nước một phần giá trị đủ lớn để tích luỹ cho vòng đầu tư sau.

Định nghĩa ấy có thể kiểm chứng bằng số. Ba lớp trên ứng với ba nhóm chỉ số: mức độ tập trung của nguồn cung đầu vào; tỷ lệ nội địa hoá ở các ngành chế tạo; và phần giá trị gia tăng ở lại trong nước trên mỗi đồng kim ngạch xuất khẩu.

Trước khi đo bằng số, cần đặt bài này vào đúng khung chủ trương mà ngành đã công bố, vì tự chủ không phải khái niệm mà bài này tự đặt ra.

Chiều 21/1/2026, tại phiên thảo luận ở hội trường về các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Bí thư Đảng uỷ, Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng (nay là Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng) trình bày tham luận: “Phát triển công nghiệp, thương mại Việt Nam tự chủ, kết nối, hiện đại hóa, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập hiệu quả vào chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu”.

Thứ tự ấy đáng chú ý. Tự chủ đứng trước, hội nhập đứng sau. Giữa hai đầu là bốn định ngữ về phương thức. Cách sắp xếp ấy trùng đúng với lập luận triển khai ở các mục dưới, rằng tự chủ là điều kiện của hội nhập chứ không phải vế đối lập với hội nhập.

Tham luận nêu năm nhóm thành tựu của ngành trong nhiệm kỳ 2021 tới 2025, đều bằng số bình quân năm. Công nghiệp tăng 6,1% một năm, riêng chế biến chế tạo 6,9%. Năng lượng vươn lên đứng trong Top đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô hệ thống điện. Xuất nhập khẩu tăng 10,9% một năm với thặng dư duy trì ở mức cao. Thị trường trong nước tăng 7,7% một năm, thương mại điện tử trên 20%. Hội nhập triển khai qua 17 hiệp định thương mại tự do.

Cùng bản tham luận ấy chỉ ra bốn nhóm tồn tại của ngành. Nhóm thứ nhất là mức độ tự chủ công nghệ, giá trị gia tăng cùng năng suất lao động trong công nghiệp còn thấp, các ngành công nghiệp nền tảng cùng công nghệ nguồn phát triển hạn chế. Nhóm thứ hai là hạ tầng năng lượng chưa theo kịp tốc độ phát triển nguồn năng lượng tái tạo, cơ cấu nguồn điện giữa các vùng miền mất cân đối. Nhóm thứ ba là xuất khẩu chưa đa dạng, giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu cùng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Nhóm thứ tư là hạ tầng thương mại cùng logistics chưa đồng bộ, chi phí cao.

Phần giải pháp của tham luận nối thẳng vào ba trong sáu trụ cột. Nhiệm vụ thứ ba đặt tên là phát triển chuỗi cung ứng tự chủ, gồm củng cố chuỗi sản xuất trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để tăng tỷ lệ nội địa hoá, cùng cơ chế đặt hàng doanh nghiệp tham gia các dự án trọng điểm quốc gia. Giải pháp thứ nhất xác định công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng là nền tảng vật chất quan trọng của nền kinh tế độc lập, tự chủ. Giải pháp thứ năm gắn hội nhập với nâng cao năng lực tự chủ, đúng quan hệ hai chiều mà mục cuối của bài bàn tới.

Một cam kết trong tham luận đáng ghi lại vì nó là điều kiện của mọi trụ cột: ngành cam kết chuyển đổi tư duy từ quản lý sang kiến tạo. Cam kết ấy chỉ kiểm được bằng số. Ba con số kiểm được nó là số cuộc hậu kiểm, số dự án đạt cùng số dự án bị thu hồi ưu đãi. Mục về cơ chế ở phần dưới bàn đúng ba con số ấy. 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 3

 

Nấc thang công nghiệp hoá bốn bậc

Nấc thang công nghiệp hoá bốn bậc

Độ lệch cấu trúc đo ở mục trên không phải hiện tượng riêng của Việt Nam. Nó là một nấc trên thang công nghiệp hoá mà nhiều nước Đông Á đã đi qua. Trong thang ấy có một nấc mà phần lớn dừng lại.

Kenichi Ohno, giáo sư Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản, trình bày thang ấy trong cuốn Learning to Industrialize: From given growth to policy-aided value creation, Nhà xuất bản Routledge phát hành năm 2013 trong bộ Routledge-GRIPS Development Forum Studies. Thang có bốn bậc, tính từ bậc 0 là nền kinh tế trước công nghiệp hoá.

Bậc một là bậc dòng vốn đầu tư nước ngoài chế tạo đủ lớn đổ vào để lắp ráp hoặc gia công hàng công nghiệp nhẹ xuất khẩu. Ohno mô tả bậc này bằng một câu đáng đối chiếu: ở đó “quản trị, thiết kế, công nghệ, sản xuất và tiếp thị đều do người nước ngoài điều hành, vật tư cùng linh kiện chính đều nhập khẩu, còn nước sở tại chỉ đóng góp lao động phổ thông và đất công nghiệp”. Bậc hai là bậc nguồn cung linh kiện nội địa bắt đầu tăng và vòng tuần hoàn giữa doanh nghiệp lắp ráp với nhà cung ứng hình thành, nhưng sản xuất về cơ bản vẫn dưới sự dẫn dắt của người nước ngoài. Bậc ba là bậc nội hoá kỹ năng cùng công nghệ, khi người trong nước thay người nước ngoài ở mọi khâu gồm quản trị, thiết kế sản phẩm, vận hành nhà máy, kiểm soát chất lượng, hậu cần và tiếp thị. Bậc bốn là bậc tạo được sản phẩm mới và dẫn dắt xu hướng thị trường toàn cầu.

Chỗ đáng chú ý nhất nằm giữa bậc hai và bậc ba. Ohno gọi đó là "trần kính". Ông ghi rõ phạm vi khảo sát của mình: trong nhóm ASEAN4 gồm Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Philippines, tức những nước bắt đầu công nghiệp hoá trước Việt Nam, tính tới thời điểm ông viết năm 2013 thì cả bốn nước đều chưa xuyên qua được cái trần ấy. Ông đồng nhất hiện tượng này với bẫy thu nhập trung bình.

Năm 2013, Ohno xếp Việt Nam ở bậc một đang chuyển sang bậc hai. Mười ba năm sau, phép đo đặt ra một câu hỏi phải trả lời bằng số chứ không bằng cảm nhận. Quy mô đã đổi hẳn: kim ngạch hai chiều 8 tháng năm 2026 đạt 770,4 tỷ USD, công nghiệp tăng 11,6%. Ohno phân bậc bằng tiêu chí định tính về năng lực quản trị, thiết kế, công nghệ, sản xuất cùng tiếp thị. Ba đại lượng gần nhất mà số liệu công bố hiện có cho phép đo thì chưa đổi tương ứng: tỷ trọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong xuất khẩu vẫn ở mức 73,6% theo số năm 2023, nguồn cung đầu vào vẫn tập trung 62,8% ở Đông Bắc Á, còn phần giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu chế tạo thì vẫn chưa có bộ số công bố định kỳ.

Theo cách đọc ở đây, sáu trụ cột trình bày ở các mục dưới đây là điều kiện để xuyên "trần kính". Trụ cột đầu vào và trụ cột doanh nghiệp là điều kiện của bậc hai. Trụ cột thể chế và trụ cột dữ liệu là điều kiện của bậc ba. Ohno không bàn tới trụ cột dữ liệu, đó là phần được thêm vào. Cách đọc ấy có một lợi ích thực tế: nó cho biết thứ tự, chứ không chỉ cho biết danh sách.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 5

 

Cột bậc lấy theo Kenichi Ohno, Learning to Industrialize, Routledge 2013. Hai cột còn lại là phần đặt cạnh, mọi con số đều đã dẫn ở các mục trên.

Đây là cách phân loại giai đoạn mang tính kỹ thuật, dùng để xác định việc phải làm cho chặng tới, không phải một đánh giá tổng thể về thành tựu. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn là động lực quan trọng của nền kinh tế. Tám kỳ trước đã đo những kết quả ấy bằng số.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 6

 

Mục trên phân bậc bằng tiêu chí định tính. Mục này đặt Việt Nam cạnh khu vực cùng thế giới bằng những con số đã công bố, để thấy tự chủ của Việt Nam đang ở đâu so với xung quanh.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 7

 

Bảng này đọc theo hàng thì thấy một dạng phân bố rất rõ. Dạng ấy có ý nghĩa với chính sách.

Bảy hàng đầu đo quy mô cùng tốc độ. Ở đó Việt Nam đứng đầu hoặc gần đầu khu vực. Đây không phải kết quả ngẫu nhiên mà là thành quả của hơn ba mươi năm hội nhập cùng cải cách. Nó chứng minh mô hình đã chạy đúng ở giai đoạn vừa qua.

Ba hàng cuối đo phần lõi, tức năng suất, năng lực cạnh tranh công nghiệp cùng vị trí trong phân công quốc tế. Ở hai hàng đo được là năng suất nhân tố tổng hợp cùng vị trí trên thang công nghiệp hoá thì Việt Nam còn sau. Hàng thứ ba về năng lực cạnh tranh công nghiệp là mục tiêu đặt cho năm 2030 chứ chưa phải kết quả đã đo, nó cho biết ngành tự đặt đích ở đâu, không cho biết hiện đứng ở đâu. Chỗ đáng chú ý là ba hàng ấy không đo cùng thứ với bảy hàng trên. Bảy hàng trên đo bao nhiêu, ba hàng dưới đo bao nhiêu phần do mình tạo ra.

Một lưu ý về cách đọc bảng, để không suy diễn. Các nguồn trong bảng khác nhau về mốc thời gian, về phạm vi nhóm nước so sánh cùng về phương pháp, nên các hàng đặt cạnh nhau để thấy dạng phân bố chứ không cộng trừ với nhau được. Riêng hai hàng cuối lấy mốc năm 2013 và giai đoạn tới năm 2019, tức trước khi quy mô nền kinh tế đổi hẳn như hiện nay, nên chúng cho biết điểm xuất phát chứ chưa cho biết vị trí hôm nay. Đó chính là chỗ mà trụ cột thứ sáu, tức dữ liệu, nêu là còn trống: chưa có bộ số công bố định kỳ cho phép cập nhật ba hàng cuối theo từng năm.

So sánh trên cũng cho biết một điều về thứ tự việc phải làm. Việt Nam không cần đuổi theo khu vực ở phần quy mô, vì phần ấy đã dẫn đầu hoặc gần dẫn đầu. Việc còn lại nằm gọn ở ba hàng cuối, tức đúng ba thứ mà sáu trụ cột dưới đây bàn tới.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 8

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 9

 

Chỗ hụt ở phần lõi đã được Ngân hàng Thế giới đo bằng số. Báo cáo Việt Nam 2045: Nâng cấp thương mại trong một thế giới đang đổi thay, công bố ngày 15/4/2025, nêu ba con số. Doanh nghiệp nước ngoài chiếm 73% kim ngạch xuất khẩu. Tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu giảm từ 35% xuống 18% trong giai đoạn 2009 tới 2023. Dịch vụ chỉ chiếm 12% tổng giá trị xuất khẩu và 7% giá trị xuất khẩu hàng chế tạo, trong khi ở Hàn Quốc phần đóng góp của dịch vụ vào giá trị xuất khẩu cao gấp ít nhất hai lần. Báo cáo kết luận Việt Nam mới giữ lại được một phần nhỏ giá trị hàm chứa trong hàng hoá mình xuất khẩu.

TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, nói cùng điều ấy bằng ngôn ngữ của doanh nghiệp. Trao đổi với Báo Công Thương ngày 18/4/2026, ông cho rằng khu vực FDI xuất khẩu rất nhiều, nhưng “phần lớn giá trị cấu thành trong các sản phẩm đó lại được tạo ra từ bên ngoài Việt Nam”.

Nhìn từ bên ngoài, vị trí sản xuất của Việt Nam lại đang lên. Bài 3 của tuyến này đã phân tích bộ số liệu thương mại tính theo giá trị gia tăng của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế mà Giáo sư Richard Baldwin sử dụng. Ở đây chỉ cần giữ lại một chi tiết: trong bộ số liệu ấy, Việt Nam thuộc nhóm tăng thị phần sản xuất chế tạo toàn cầu giai đoạn 2020 tới 2022.

Hai lát cắt ấy không mâu thuẫn nhau. Thị phần sản lượng tăng cho biết Việt Nam đã thành một địa điểm sản xuất lớn. Tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giảm cho biết phần lớn mức tăng ấy chưa chảy vào doanh nghiệp Việt Nam. Tự chủ nằm đúng ở khoảng giữa hai con số.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 10

 

Sáu trụ cột trình bày ở các mục sau đo phần việc còn phải làm. Nhưng một khung chỉ nói phần thiếu là một khung lệch, vì nó bỏ qua chính cái nền mà phần việc còn lại sẽ đứng lên. Mục này đo phần nền ấy.

Cần nói ngay một điều về phương pháp. Tự chủ không phải một đại lượng duy nhất mà là một tập hợp nhiều mặt, mỗi mặt có thước đo riêng. Một nền kinh tế có thể tự chủ vững ở mặt này trong khi còn hụt ở mặt kia. Đó là trạng thái bình thường của mọi nền kinh tế đang công nghiệp hoá. Bảy mặt dưới đây là những mặt mà Việt Nam đã có nền, đo được bằng số công bố.

Thứ nhất, tự chủ chính trị và đường lối. Đây là mặt nền của mọi mặt còn lại, vì nó quyết định ai đặt mục tiêu cho nền kinh tế. Trong hơn một năm, từ tháng 12/2024 tới tháng 2/2026, Đảng ban hành liên tiếp mười nghị quyết lớn phủ các lĩnh vực then chốt: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cùng chuyển đổi số; Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế; Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết 72-NQ/TW về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hoá; cùng Nghị quyết Đại hội XIV. Điểm đáng chú ý không nằm ở số lượng mà ở chỗ các từ tự chủ, tự lực, tự cường, nội lực, độc lập xuất hiện xuyên suốt cả mười văn kiện. Đó là một hệ thống mục tiêu do trong nước tự đặt, không do bên ngoài đặt hộ.

Thứ hai, tự chủ lương thực. Đây là mặt Việt Nam vững nhất, cũng là mặt mà nhiều nền kinh tế lớn hơn không có. Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu hơn 8,06 triệu tấn gạo, thu về hơn 4,1 tỷ USD. Ý nghĩa của con số ấy không nằm ở kim ngạch, vì 4,1 tỷ USD chưa tới một phần trăm tổng xuất khẩu cả nước. Ý nghĩa nằm ở chỗ khác: một nền kinh tế bảo đảm được lương thực cho gần một trăm triệu dân bằng sản xuất trong nước thì trong mọi kịch bản đứt gãy chuỗi cung ứng, nó vẫn giữ được ổn định xã hội để xử lý các đứt gãy còn lại. Trao đổi với Báo Công Thương tháng 4/2026, TS Nguyễn Văn Hội, Bí thư Đảng uỷ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, xếp Việt Nam vào nhóm những nước hàng đầu thế giới về tự chủ lương thực. Đặt cạnh quãng đường lịch sử thì mặt này còn nói được nhiều hơn: từ một nước phải nhập khẩu lương thực và từng đối mặt nạn đói, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.

Thứ ba, tự chủ quốc phòng làm nền tảng. Không một nền kinh tế nào giữ được quyền quyết định về sản xuất nếu không giữ được chủ quyền. Ở mặt này, hành lang pháp lý đã hoàn chỉnh trong chưa đầy bốn năm. Ngày 26/1/2022, Bộ Chính trị khoá XIII ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW xác định công nghiệp quốc phòng phát triển theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng cùng hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia. Ngày 27/6/2024, Quốc hội thông qua Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp số 38/2024/QH15, có hiệu lực từ 1/7/2025, lần đầu tiên lĩnh vực này có một đạo luật riêng. Về kết quả thực tế, tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng ngày 15/9/2025, Trung tướng Hồ Quang Tuấn, Chủ nhiệm Tổng cục, cho biết chỉ riêng năm năm gần đây Tổng cục đã hoàn thành chỉ lệnh sản xuất hơn 140 chủng loại vũ khí lục quân cùng vũ khí quân binh chủng, đóng mới gần 140 tàu và sửa chữa trên 380 lượt tàu quân sự các loại. Văn kiện Đại hội XIV bổ sung các thành tố tự chủ, tự lực, tự cường, hiện đại vào chủ trương phát triển công nghiệp quốc phòng, nâng tự chủ chiến lược về công nghiệp quốc phòng thành trọng tâm.

Thứ tư, tự chủ năng lượng ở phần hạ tầng vật chất. Tham luận tại Đại hội XIV ghi ngành năng lượng đã vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô hệ thống điện, an ninh năng lượng quốc gia được bảo đảm. Số đo cụ thể: hệ thống điện đạt quy mô khoảng 90.000 MW cuối năm 2025 và nằm trong nhóm 20 hệ thống điện lớn nhất thế giới; tới ngày 15/7/2026 tổng công suất đặt là 93.435 MW. Đây là mặt mà Bài 5 của tuyến đã đo kỹ, nên ở đây chỉ ghi lại một điều: Việt Nam đã dựng được năng lực ấy tới quy mô dẫn đầu khu vực. Vì sao riêng năng lượng lại quan trọng đến thế thì trụ cột thứ hai ở dưới trả lời. Đó không phải thành tựu nhỏ. Nó là điều kiện vật chất cho mọi tính toán công nghiệp về sau.

Thứ năm, tự chủ về quy mô và ổn định vĩ mô. Năm 2020, tổng sản phẩm trong nước của Việt Nam là 346,6 tỷ USD, xếp thứ 37 thế giới. Năm 2025 vượt 514 tỷ USD, xếp khoảng thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á, tức lên 5 bậc trong 5 năm. Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tăng từ 3.552 USD lên khoảng 5.026 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Đi kèm là hai con số về nền tảng ổn định: chỉ số giá tiêu dùng năm 2025 ở mức 3,31%, nợ công cuối năm 2025 khoảng 34,4% tổng sản phẩm trong nước, thấp hơn nhiều so với trần đặt ra. Ý nghĩa của cặp số sau với khung tự chủ lớn hơn vẻ ngoài của nó: một nền kinh tế có dư địa tài khoá là nền kinh tế có thể tự quyết định gói ứng phó khi bên ngoài biến động, thay vì phải đi vay theo điều kiện của người cho vay.

Thứ sáu, tự chủ về chủ thể kinh tế trong nước. Trụ cột thứ ba ở mục dưới sẽ đo phần hụt của doanh nghiệp Việt Nam trong xuất khẩu. Nhưng nếu chỉ nhìn qua cửa sổ xuất khẩu thì bỏ mất phần lớn bức tranh. Tính trên toàn nền kinh tế, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 51% tổng sản phẩm trong nước, trên 30% ngân sách nhà nước và sử dụng 82% lực lượng lao động. Cùng với kinh tế nhà nước, được Nghị quyết 79-NQ/TW xác định vai trò riêng, cùng kinh tế tập thể, ba khu vực này là nòng cốt xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Nghĩa là chủ thể trong nước đã nắm phần lớn nền kinh tế nội địa, phần chưa nắm là khâu xuất khẩu chế tạo, tức đúng một khâu chứ không phải toàn bộ.

Thứ bảy, tự chủ về không gian hội nhập. Mười bảy hiệp định thương mại tự do đã ký và có hiệu lực là một tài sản chiến lược ít nước cùng trình độ phát triển có được. Bài 4 của tuyến đã đo mạng lưới ấy. Với khung tự chủ, ý nghĩa của nó là quyền chọn: một nước có mười bảy cửa ra thị trường thì khi một cửa hẹp lại, việc chuyển hướng là bài toán chi phí chứ không phải bài toán sinh tồn. Đây là thứ tự chủ mà Việt Nam tự tạo ra bằng đàm phán, không do ai ban cho.

Bảy mặt trên không mâu thuẫn với sáu trụ cột ở các mục sau. Chúng là hai nửa của cùng một phép đo. Phần đã tự chủ là điều kiện để đặt được bài toán tự chủ ở phần còn lại, vì một nước chưa lo xong lương thực, chưa giữ được chủ quyền, chưa có điện đủ dùng thì chưa thể bàn chuyện làm chủ khâu chế tạo lõi. Việt Nam đã qua các bậc ấy. Đó là lý do vì sao câu hỏi của kỳ này là câu hỏi của một nền kinh tế đang ở nấc cao hơn, chứ không phải câu hỏi của một nền kinh tế đang loay hoay ở vạch xuất phát.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 11

 

Bài 2 của tuyến này đã đo phần nội địa hoá của công nghiệp chế biến chế tạo và chỉ ra danh mục 6 công nghệ cùng 16 sản phẩm chiến lược mà ngành công bố ngày 10/7/2026. Kỳ này không nhắc lại các con số ấy, chỉ nối chúng vào khung tự chủ.

Điều đáng chú ý là chỗ hẹp không nằm ở toàn bộ chuỗi mà nằm ở một khâu. Việt Nam đã làm được phần lắp ráp hoàn thiện với quy mô lớn, đã có hạ tầng khu công nghiệp và có lực lượng lao động đủ cho khâu ấy. Phần chưa làm chủ là khâu chế tạo lõi: linh kiện có hàm lượng kỹ thuật cao, vật liệu nền, khuôn mẫu chính xác. Đây cũng chính là khâu quyết định phần lớn giá trị gia tăng của một sản phẩm công nghiệp.

Vì chỗ hẹp nằm ở một khâu chứ không rải đều, chính sách cũng phải nhắm vào khâu ấy chứ không rải đều. Một chương trình hỗ trợ chia đều cho mọi doanh nghiệp trong ngành sẽ làm dày thêm phần Việt Nam vốn đã mạnh, tức khâu lắp ráp, mà không động tới phần đang thiếu.

Cơ quan nghiên cứu của Bộ, hiệp hội ngành cùng cơ quan quản lý cùng chỉ vào một điểm nghẽn. Trao đổi với Báo Công Thương ngày 26/4/2026, TS Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, nhận định Việt Nam “vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu máy móc, công nghệ và nguyên liệu đầu vào. Sự phụ thuộc này tạo áp lực lên chi phí sản xuất, đòi hỏi nâng cao năng lực nội địa và chuyển dịch chuỗi cung ứng”. TS Trương Thị Chí Bình, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, đặt thêm mốc thời gian: giai đoạn 2026 tới 2030 công nghiệp hỗ trợ có thực sự trở thành nền tảng cho công nghiệp hoá hay không “phụ thuộc vào những quyết định và hành động cụ thể được thực hiện trong năm 2026 này”.

Bộ Công Thương đã lượng hoá cái đích. Theo bài của Báo Công Thương ngày 27/8/2026, mục tiêu đến năm 2030 là công nghiệp hỗ trợ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu sản xuất trong nước, còn xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm được xác định là một nhiệm vụ đột phá thể chế để tháo điểm nghẽn đầu vào.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 12

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 13

 

Chỗ hẹp của đầu vào không chỉ nằm ở máy móc và linh kiện. Nó nằm cả ở nguyên liệu gốc. Ở đây Việt Nam có một tài sản vừa được đo bằng số.

Báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026 của Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cho biết, Đề án điều tra, đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản chiến lược là đất hiếm trên lãnh thổ Việt Nam phần đất liền và thăm dò một số diện tích có triển vọng đã khoanh định được 1.339 km2 đủ điều kiện chuyển giao thăm dò, khai thác, với tài nguyên đất hiếm khoảng 15 triệu tấn. Hàm lượng các nguyên tố đất hiếm có giá trị gồm Nd, Pr, Gd, Tb, Dy, Yb, Y chiếm khoảng 26 tới 28% tổng hàm lượng oxit đất hiếm. Giai đoạn 2 của đề án đã hoàn thành thi công thực địa cùng phân tích mẫu, các đơn vị đang lập báo cáo tổng kết.

Ba con số ấy trả lời vế thứ nhất của tự chủ nguyên liệu: tài nguyên có thật, đã khoanh vùng, đã biết hàm lượng. Nhóm nguyên tố được nêu đích danh cũng không phải nhóm ngẫu nhiên: neodymi và praseodymi là vật liệu của nam châm vĩnh cửu trong động cơ xe điện và tua bin gió, tức đúng hai ngành mà Bài 5 và Bài 6 của tuyến này đã đo bằng công suất lắp đặt.

Điều kiện tổ chức đã thay đổi kể từ ngày 15/9/2026. Theo khoản 18 Điều 3 Nghị định 351/2026/NĐ-CP ngày 11/9/2026, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam là một trong 18 tổ chức giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Trước đó, ngày 07/5/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã giao Cục chủ trì bàn giao và đã ký biên bản bàn giao cho Bộ Công Thương các tài liệu liên quan tới Chiến lược quốc gia về đất hiếm, chiến lược đã được trình tại Tờ trình 14/TTr-ĐU ngày 13/02/2026. Khâu tìm ra tài nguyên và khâu chế biến tài nguyên nay nằm trong cùng một bộ. Đó là điều kiện cần của tự chủ nguyên liệu, chưa phải điều kiện đủ.

Một dẫn chứng khác cho thấy khoáng sản đã được xử lý như một bài toán an ninh chứ không chỉ là bài toán tài nguyên. Nghị quyết 28/2026/NQ-CP ngày 09/6/2026 của Chính phủ ban hành cơ chế đặc thù cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác khoáng sản than đang còn hiệu lực, nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Con số 15% là một cơ chế mở van có trần và có lý do ghi rõ trong tên văn bản, tức đúng kiểu công cụ mà mục trên gọi là cơ chế rút lui phải có tiêu chí.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 14

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 15

 

Bài 5 và Bài 6 của tuyến đã đo hệ thống điện cùng bài toán xăng dầu và dự trữ. Đặt hai bài ấy vào khung tự chủ thì thấy một điểm mà khi đọc riêng từng bài dễ bỏ qua: năng lượng là trụ cột duy nhất trong sáu trụ cột không thể thuê ngoài trong tình huống khẩn cấp.

Thiếu linh kiện thì đặt hàng nơi khác, chấp nhận đắt hơn và chậm hơn. Thiếu vốn thì vay. Thiếu thị trường thì tìm thị trường mới. Nhưng thiếu điện vào một ngày nắng nóng cực đoan thì không có cách nào nhập khẩu kịp trong vòng vài giờ, vì điện phải truyền qua đường dây đã dựng sẵn từ nhiều năm trước. Đặc tính ấy khiến năng lượng trở thành trụ cột phải chuẩn bị trước xa nhất. Đây cũng là trụ cột mà chi phí của việc chuẩn bị thừa luôn thấp hơn nhiều so với chi phí của việc chuẩn bị thiếu.

Chỗ này cần nói cho rõ, vì đọc nhanh dễ thấy mâu thuẫn. Năng lượng không nằm gọn trong lớp thứ nhất của tự chủ, tức lớp có nguồn thay thế, bởi đúng đặc tính vừa nêu là không thay thế kịp trong vài giờ. Nó cũng không thuộc lớp giá trị gia tăng. Năng lượng là điều kiện nền của cả ba lớp, với thước đo riêng là công suất dự phòng cùng độ tin cậy cung ứng, không phải phần giá trị ở lại trong nước. Đo năng lượng bằng thước giá trị gia tăng là đo nhầm thước.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 16

 

Bốn thước đo của trụ cột năng lượng

Bốn thước đo của trụ cột năng lượng

Trụ cột năng lượng có một thước đo gọn hơn mọi lập luận. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Công Thương gửi Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tháng 8/2026 ghi rằng kể từ năm 2015, Việt Nam trở thành nước nhập khẩu ròng năng lượng, với tỷ trọng nhập khẩu ròng năng lượng trên tổng năng lượng sơ cấp tăng từ 8,4% năm 2015 lên khoảng 43,9% vào năm 2025.

Hơn năm lần trong mười năm. Đây là con số ngược chiều rõ nhất trong toàn bộ tuyến. Trong khi công suất nguồn điện, sản lượng điện thương phẩm và tỷ trọng năng lượng tái tạo đều tăng theo hướng tốt, như Bài 5 đã đo, thì mức độ phụ thuộc bên ngoài về năng lượng sơ cấp cũng tăng theo, mà tăng nhanh hơn.

Báo cáo giải thích cơ chế: năng lượng nhập khẩu gia tăng liên tục, khai thác năng lượng sơ cấp trong nước có xu hướng đi ngang, trong khi xuất khẩu giảm, khiến tỷ lệ nhập khẩu ròng duy trì ở mức cao. Tiền chi ra theo đó cũng tăng. Giá trị nhập khẩu năng lượng, chỉ tính than, dầu thô, xăng dầu cùng khí đốt hoá lỏng, tăng mạnh từ 11,7 tỷ USD năm 2020 lên 23,27 tỷ USD năm 2025. Gần gấp đôi trong năm năm.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 18

 

Đọc riêng mặt hàng than thì tỷ lệ tự chủ lộ ra bằng số. Theo dự báo cân đối cung cầu than tại Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia, ban hành kèm Quyết định 363/QĐ-BCT ngày 28/02/2026, khả năng khai thác than trong nước duy trì ổn định ở mức trung bình khoảng 41 tới 45 triệu tấn một năm, chỉ đạt khoảng 35 tới 37% tổng nhu cầu than trong nước. Nói cách khác, gần hai phần ba lượng than mà nền kinh tế cần phải mua từ bên ngoài, còn phần trong nước không tăng được vì trữ lượng chứ không vì chính sách.

Cần nói cho đủ hai vế. Con số 43,9% không phải một tồn tại trong điều hành. Nó là hệ quả của cơ chế mà chính báo cáo đã nêu ở trên: nhu cầu của một nền kinh tế công nghiệp hoá nhanh tăng vượt khả năng cung cấp của tài nguyên trong nước, trong khi khai thác trong nước đi ngang. Nhưng nó đặt lại định nghĩa của tự chủ năng lượng: tự chủ ở đây không còn là tự cung tự cấp, mà là năng lực bảo đảm nguồn cung qua đa dạng hoá thị trường, qua dự trữ và qua chuyển dịch cơ cấu nguồn.

Vế dự trữ thì báo cáo tự công bố một khoảng cách. Tổng lượng xăng dầu dự trữ quốc gia đến tháng 8/2026 là 362.160 m3, tương đương khoảng 06 ngày nhập ròng. Tính gộp cả ba lớp gồm dự trữ quốc gia, dự trữ thương mại và dự trữ sản xuất thì mức dự trữ xăng dầu đạt 47 tới 50 ngày nhập ròng. Chỉ tiêu mà Bài 6 của tuyến này đã dẫn là 90 ngày. Nghĩa là phần dự trữ do Nhà nước trực tiếp nắm chỉ bằng một phần mười lăm chỉ tiêu, còn phần lớn năng lực dự trữ hiện nằm trong tay doanh nghiệp. Chính báo cáo cũng ghi năng lực dự trữ chiến lược của Việt Nam vẫn còn hạn chế khi chưa hình thành hệ thống dự trữ quốc gia riêng cho dầu thô và quy mô dự trữ xăng dầu quốc gia còn thấp.

Đặt bốn mặt đo cạnh nhau thì thấy phần nền kinh tế tự lo được của từng mặt.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 19

 

Cột phần tự lo được ở hai dòng đầu là phần bù của tỷ lệ phụ thuộc, toà soạn tính từ chính số dẫn trong bài. Nguồn: báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW tháng 8/2026; Quyết định 363/QĐ-BCT ngày 28/02/2026; số xuất khẩu dẫn ở Bài 3.

Ba con số 43,9%, 35 tới 37% và 06 ngày nói cùng một điều với phần đầu vào ở mục trên. Tự chủ không đo bằng lời tuyên bố, mà đo bằng tỷ lệ phần nền kinh tế tự lo được, mà tỷ lệ ấy đang là một bài toán mở.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 20

 

Một nền kinh tế tự chủ cần chủ thể tự chủ. Đây là chỗ mà số liệu nói thẳng nhất.

Cần nói cho công bằng: đó không phải điều xấu tự thân. Khu vực đầu tư nước ngoài mang vào vốn, công nghệ, thị trường và kỷ luật sản xuất, những thứ mà một nền kinh tế đi sau khó tự có trong thời gian ngắn. Vấn đề chỉ xuất hiện khi tỷ trọng ấy giữ nguyên quá lâu, vì khi đó nó không còn là giai đoạn quá độ mà thành cấu trúc ổn định.

Chỉ dấu để phân biệt hai trường hợp không phải tỷ trọng, mà là tốc độ dịch chuyển của tỷ trọng. Một nền kinh tế có 70% xuất khẩu do khu vực ngoại thực hiện nhưng tỷ lệ ấy giảm đều mỗi năm thì đang đi đúng hướng. Một nền kinh tế có tỷ lệ thấp hơn nhưng đứng yên suốt một thập kỷ thì không. Đây là chỗ mà hệ chỉ tiêu hiện hành chưa có phép đo: chưa công bố định kỳ tốc độ thay đổi tỷ trọng doanh nghiệp trong nước trong xuất khẩu theo chuỗi nhiều năm.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 21

 

Bài 4 đã đo mạng lưới hiệp định thương mại tự do, Bài 7 đo thị trường trong nước. Đặt cạnh nhau trong khung tự chủ, hai bài ấy trả lời cùng một câu hỏi: khi một thị trường lớn đóng bớt cửa thì hàng đi đâu?

Mức tập trung 27,3% xuất khẩu vào một thị trường trong năm 2023 nói rằng câu trả lời hiện nay chưa có sẵn. Đa dạng hoá thị trường xuất khẩu là một hướng, nhưng nó phụ thuộc vào bên ngoài và cần nhiều năm. Hướng còn lại nằm hoàn toàn trong tầm quyết định của mình: thị trường trong nước với quy mô bán lẻ 5.227 nghìn tỷ đồng trong 8 tháng.

Thị trường nội địa có một vai mà các bài về xuất khẩu ít nói tới: nó là lớp đệm khi bên ngoài co lại. Vai trò ấy chỉ phát huy nếu hàng sản xuất để xuất khẩu có thể quay về bán trong nước, tức phải cùng tiêu chuẩn, cùng kênh phân phối và cùng khả năng chi trả của người mua. Ba điều kiện ấy hiện chưa đủ. Đó là một hạng mục chính sách cụ thể chứ không phải khẩu hiệu.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 22

 

Bài 8 đã đo việc cắt giảm điều kiện kinh doanh. Ở khung tự chủ, thể chế có một vai riêng: quyết định nguồn lực đi đâu.

Danh mục 16 sản phẩm công nghệ chiến lược là một quyết định về nguồn lực. Bài 2 đã nêu một khoảng trống của danh mục ấy, là chưa công bố tiêu chí cùng thời hạn để một sản phẩm bị đưa ra khỏi danh mục. Ở đây xin nói thêm vế còn lại của cùng vấn đề: một danh mục không có cơ chế rút lui thì theo thời gian sẽ chỉ dài thêm, vì thêm một mục vào danh mục luôn dễ hơn bỏ một mục ra khỏi nó. Khi danh mục dài ra mà nguồn lực không tăng tương ứng, mỗi mục nhận được ít đi, khiến chính sách công nghiệp chuyển dần thành trợ cấp dàn trải.

Đây là chỗ mà thể chế quyết định kết quả của cả năm trụ cột kia. Không có bộ máy dám dừng một chương trình đã cấp tiền thì mọi ưu tiên đều thành vĩnh viễn.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 23

 

Năm trụ cột trên đều giả định một điều: biết hàng của mình đi qua những đâu. Giả định ấy không hiển nhiên. Một doanh nghiệp lắp ráp có thể biết rõ nhà cung ứng trực tiếp của mình mà không biết nhà cung ứng của nhà cung ứng ấy đặt ở nước nào. Khi một mắt xích ở tầng thứ ba đứt, doanh nghiệp chỉ biết mình thiếu hàng chứ không biết vì sao thiếu.

Đây là chỗ mà pháp luật đã bước vào, sớm hơn nhiều người tưởng.

Thông tư số 11/2026/TT-BCT ngày 27/02/2026 của Bộ Công Thương quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ đặt ra một nguyên tắc rất gọn, gọi là “một bước trước, một bước sau”. Theo Điều 3 khoản 5 của thông tư, đó là nguyên tắc mà cơ sở “phải lưu trữ thông tin để bảo đảm khả năng giám sát, nhận diện được công đoạn trước và công đoạn kế tiếp trong quá trình sản xuất, kinh doanh đối với một sản phẩm thực phẩm được truy xuất nguồn gốc”. Điều 4 nâng nguyên tắc ấy thành yêu cầu bắt buộc, kèm việc thông tin sau mỗi công đoạn phải được mã hoá.

Ý tưởng đứng sau nguyên tắc này đáng để ngành công nghiệp chú ý. Không ai bắt một doanh nghiệp phải biết toàn bộ chuỗi, việc ấy bất khả thi. Nhưng nếu mọi mắt xích đều biết một bước trước cùng một bước sau của mình, thì ghép các mảnh ấy lại sẽ ra được toàn chuỗi. Đó là cách dựng bản đồ chuỗi cung ứng bằng nghĩa vụ nhỏ đặt lên từng khâu, thay vì bằng một cuộc điều tra lớn từ trên xuống.

Thông tư còn đặt nền cho phần hạ tầng. Điều 10 giao Bộ Công Thương xây dựng, quản lý và vận hành Hệ thống truy xuất, là hệ thống công nghệ thông tin thu thập, lưu trữ, xử lý cùng cung cấp thông tin phục vụ truy xuất. Điều 12 quy định mã truy xuất nguồn gốc. Điều 14 yêu cầu hệ thống được thiết kế để kết nối, chia sẻ, liên thông dữ liệu với các cơ sở dữ liệu trong nước và quốc tế. Điều 15 đặt lộ trình kết nối theo từng nhóm cơ sở.

Ở tầng vận chuyển và kho bãi, Quyết định số 458/QĐ-BCT ngày 13/3/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam, trong đó đặt hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng gắn với chuyển đổi số cùng chuyển đổi xanh, kèm mục tiêu tham gia sâu vào chuỗi cung ứng cùng chuỗi giá trị toàn cầu.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 24

 

Mục trên đặt yêu cầu nhìn thấy chuỗi trước khi làm chủ chuỗi. Cần đặt thêm một giới hạn ở chiều ngược lại, để chữ tự chủ không bị hiểu thành làm chủ mọi khâu.

Năm 2024, bộ phận nghiên cứu của Công ty Đầu tư Tài chính Quốc tế Trung Quốc cùng Viện Toàn cầu của công ty này công bố cuốn The Reshaping of China’s Industry Chains. Đây là công trình của giới nghiên cứu tài chính Trung Quốc bàn về chính chuỗi công nghiệp nước mình trong bối cảnh rủi ro địa chính trị tăng, nên nó có giá trị đối chiếu với một nền kinh tế đang đặt vấn đề tự chủ.

Điểm đầu tiên nhóm nghiên cứu làm rõ là hai cách hiểu khác nhau về cùng một chữ an ninh chuỗi. Theo họ, doanh nghiệp hiểu an ninh chuỗi là khả năng chống chịu và bền vững của chuỗi cung ứng, tức vận hành trơn tru khâu vận tải, kho bãi cùng sản xuất. Chính phủ hiểu khác: nhóm nghiên cứu viết rằng ở cấp nhà nước, trọng tâm an ninh chuỗi “thường nhắm tới bảo đảm tính kiểm soát được đối với các công nghệ lõi trong những ngành quan trọng”. Hai cách hiểu ấy dẫn tới hai bộ chính sách khác nhau. Lẫn lộn chúng là một nguồn sai lệch.

Điểm thứ hai là cái giá. Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng mục tiêu an ninh có thể mâu thuẫn với nguyên tắc hiệu quả theo hai đường. Một là mâu thuẫn về tầm nhìn thời gian, khi doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận ngắn hạn lại tạo ra rủi ro chuỗi trong dài hạn. Hai là ngộ nhận hợp thành, khi từng quyết định của từng doanh nghiệp đều hiệu quả xét riêng lẻ nhưng cộng lại thì mâu thuẫn với an ninh của cả nền kinh tế. Họ nói thẳng cái giá phải trả: theo đuổi tính kiểm soát được “về cơ bản có nghĩa là giảm bớt giao dịch và phân công lao động, vốn là nguồn gốc của hiệu quả”, nên việc ấy dẫn tới một mức tổn thất hiệu quả nhất định.

Điểm thứ ba là giới hạn thực tế. Đây là ý quan trọng nhất với bài này. Nhóm nghiên cứu viết rằng trong bối cảnh phân công lao động cùng giao dịch phức tạp của chuỗi công nghiệp toàn cầu, ở thời điểm họ viết thì “hầu như mọi nền kinh tế đều chưa đạt được tính kiểm soát được đầy đủ trong tất cả các ngành cùng công nghệ quan trọng”. Họ dẫn một ví dụ cụ thể: ngay cả Hoa Kỳ, đầu đại dịch COVID-19, cũng thiếu nghiêm trọng năng lực sản xuất khẩu trang, máy thở cùng một số thiết bị y tế và phải trông vào nhập khẩu.

Ba điểm ấy siết chặt định nghĩa mà bài này mở đầu bằng phủ định. Tự chủ không phải là làm chủ mọi khâu, vì theo đánh giá của chính giới nghiên cứu Trung Quốc thì hầu như mọi nền kinh tế đều chưa đạt tới mục tiêu ấy. Từ đó rút ra một cách hiểu. Phần rút ra là của bài chứ không phải của nhóm nghiên cứu, vì họ không đặt ra tiêu chí nào như dưới đây. Tự chủ là chọn đúng những khâu mà việc mất quyền tiếp cận sẽ làm dừng cả hệ thống, rồi chấp nhận trả giá hiệu quả ở đúng những khâu ấy chứ không trả giá trên diện rộng. Phép thử vì thế không phải là đếm xem đã nội địa hoá được bao nhiêu phần trăm, mà là hỏi mỗi khâu được chọn có thuộc loại làm dừng hệ thống hay không.

Một điều nữa cần nói rõ để tránh hiểu lệch theo hai chiều. Việt Nam theo đuổi tự chủ chiến lược trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trong tiến trình hội nhập quốc tế, tức tự chủ có trọng tâm chứ không phải tự cung tự cấp. Đó cũng không phải mô hình kiểm soát chuỗi của bất kỳ nước nào khác. Công trình của CICC được dẫn ở đây chỉ để tham chiếu về chi phí cùng giới hạn kỹ thuật của việc kiểm soát chuỗi, không phải để dẫn một mô hình.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 25

 

Năm trụ cột trên đều cần một thứ chung: số liệu đo được, công bố định kỳ, cho phép so sánh giữa các năm.

Hiện có ba khoảng trống. Thứ nhất, chưa công bố định kỳ phần giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu, nên mọi thảo luận về giá trị ở lại trong nước đều phải suy gián tiếp từ cán cân thương mại, một phép suy mà chính bài này vừa nói rõ là không đủ chặt. Thứ hai, chưa có bảng cân đối liên ngành cập nhật, công cụ duy nhất trả lời được câu hỏi mỗi đồng xuất khẩu kéo theo bao nhiêu đồng nhập khẩu đầu vào. Thứ ba, chưa có chuỗi số nhiều năm về mức độ tập trung nguồn cung theo nhóm hàng, nên không biết cấu trúc đang chặt lại hay lỏng ra.

Ba khoảng trống ấy không phải chuyện kỹ thuật của cơ quan thống kê. Chúng quyết định việc năm trụ cột kia được điều hành bằng số đo hay bằng cảm nhận.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 26

 

Hiện tượng mà bài này đo không mới trong lịch sử kinh tế. Khi phân tích tác động của đại công nghiệp trong bộ Tư bản, C. Mác đã mô tả cơ chế hình thành phân công lao động giữa các quốc gia:

“Một sự phân công lao động quốc tế mới phù hợp với việc phân bố các trung tâm chính của nền sản xuất bằng máy móc đã được tạo ra, nó biến một bộ phận của trái đất thành khu vực sản xuất chủ yếu là nông nghiệp để phục vụ cho một bộ phận khác của trái đất là khu vực chủ yếu sản xuất công nghiệp”.

Mác viết về phân công giữa nông nghiệp với công nghiệp ở thế kỷ XIX, trong bối cảnh thuộc địa. Việt Nam hôm nay ở vị thế khác hẳn. Sự phân công mà bài này đo được diễn ra bên trong bản thân công nghiệp, giữa khâu chế tạo lõi với khâu lắp ráp hoàn thiện. Điều còn nguyên giá trị là cách đặt vấn đề: vị trí của một nền kinh tế trong phân công quốc tế do nơi đặt các trung tâm sản xuất quyết định, không do quy mô kim ngạch quyết định.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã nêu đúng hiện tượng ấy thành đánh giá chính thức:

“Năng lực và trình độ công nghệ của nền kinh tế nhìn chung còn thấp. Công nghiệp vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng không cao; công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, tỉ lệ nội địa hoá thấp, hiệu quả tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế”.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đặt yêu cầu chuyển mạnh mô hình tăng trưởng, không còn dựa chủ yếu vào vốn, lao động cùng tài nguyên. Đọc theo sáu trụ cột ở trên thì yêu cầu ấy quy về một việc cụ thể: dịch chuyển vị trí của Việt Nam trong phân công quốc tế lên một nấc, từ nơi lắp ráp sang nơi có ít nhất một vài trung tâm chế tạo lõi.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 27

 

Có một cách hiểu sai cần nói rõ trước khi khép lại. Đặt vấn đề tự chủ không có nghĩa là giảm hội nhập, càng không có nghĩa là hạn chế đầu tư nước ngoài hay thu hẹp thương mại. Toàn bộ tám kỳ trước đều đo những con số của hội nhập, đều cho thấy hội nhập mang lại kết quả rõ ràng.

Quan hệ giữa hai vế ngược với cách hiểu ấy. Một nền kinh tế càng tự chủ về đầu vào, về năng lượng và về năng lực chế tạo thì càng có thể mở cửa sâu hơn mà không phải lo mỗi lần bên ngoài biến động. Ngược lại, một nền kinh tế mở rộng nhưng phụ thuộc ở cả hai đầu thì mỗi vòng hội nhập mới lại thêm một điểm dễ tổn thương.

Tám tháng năm 2026 để lại một bộ số đẹp: công nghiệp tăng 11,6%, kim ngạch hai chiều 770,4 tỷ USD, điện 235,9 tỷ kWh, bán lẻ 5.227 nghìn tỷ đồng. Bộ số ấy đo quy mô. Quy mô đã lớn. Việc còn lại của những năm tới không phải làm cho các con số ấy lớn thêm, vì chúng sẽ tự lớn theo đà. Việc còn lại là đổi thước đo, từ đo bao nhiêu sang đo bao nhiêu phần ở lại.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 28

 

Cách hiểu tự chủ không đồng nghĩa với khép lại cũng là điểm gặp nhau của giới chuyên gia. PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế tài chính, trao đổi với Báo Công Thương: “Tự chủ kinh tế không có nghĩa là đóng cửa hay tách rời khỏi thế giới, mà là xây dựng được một nền tảng đủ vững để nền kinh tế có thể vận hành ổn định và chủ động hơn trong quá trình phát triển”. TS Võ Trí Thành, cũng với Báo Công Thương: “Tự chủ chiến lược cần được hiểu không phải là sự cô lập, mà là khả năng tham gia vào thế giới trên những điều kiện bình đẳng hơn, tự tin hơn và bền vững hơn”.

Từ phía tổ chức quốc tế, TS Dorsata Madani, Chuyên gia kinh tế cấp cao của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, được Báo Công Thương dẫn: “Chính sách công nghiệp cần tập trung nâng cao nội lực của doanh nghiệp trong nước, đồng thời có chính sách tập trung hỗ trợ một số ngành công nghiệp trọng điểm, có tính chất liên ngành”.

Các tiếng nói có chung một thước đo: tự chủ được đo bằng năng lực của doanh nghiệp trong nước, không đo bằng mức độ đóng cửa.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 9: Sáu trụ cột của một nền kinh tế tự chủ - 29

 

Có thể bạn quan tâm

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số

Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9, Báo Công Thương ra mắt chuyên mục báo chí dữ liệu với loạt bài 10 kỳ về vị thế Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026, chuyện về ba bài toán lớn mà Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng đặt ra cho toàn ngành, an ninh năng lượng, tự chủ công nghiệp và hiện đại hoá thương mại bằng dữ liệu.