5.227 nghìn tỷ đồng là tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tám tháng năm 2026, tăng 13,3% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 9,2% của cả năm 2025 và đã vượt ngưỡng dưới của mục tiêu 13 tới 15% mà Chính phủ giao cho thị trường trong nước, vượt kế hoạch 0,7 điểm. Nhưng con số ấy có một vế phải đọc kèm: ở mốc bảy tháng, mốc gần nhất có công bố phần loại trừ yếu tố giá, mức tăng thực chỉ là 7,5%. Gần 1/3 đà tăng danh nghĩa đến từ giá chứ không từ lượng hàng bán ra. Bốn tháng cuối năm, thị trường gần 100 triệu dân cần tăng bao nhiêu để cả năm về đích và tăng bằng cách nào để không chỉ dựa vào giá?
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng năm 2026
Theo báo cáo tình hình tháng 8 và 8 tháng năm 2026 của Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng ước đạt 5.227 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ, vượt kế hoạch 0,7 điểm và nằm trong dải mục tiêu cả năm 13 tới 15%; riêng tháng 8 tăng 14,7%. Ở mốc 7 tháng liền trước, Cục Thống kê ghi tổng mức đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước; nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 7,5%, cao hơn mức 7,4% của năm 2025. Riêng tháng 7 đạt 669,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ (Cục Thống kê, báo cáo tháng 7/ 2026, dòng 695 tệp NSO).
Cả năm 2025, tổng mức bán lẻ đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2%, loại trừ giá tăng 6,7% (Cục Thống kê, báo cáo quý IV và năm 2025, dòng 52 tệp NSO). Ở các mốc trung gian, 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.889,5 nghìn tỷ đồng, riêng quý II đạt 1.977,6 nghìn tỷ đồng và tháng 6 đạt 665,6 nghìn tỷ đồng, theo báo cáo tháng 6/2026 của Viện Chiến lược Chính sách Công Thương. Bảy tháng đầu năm 2026 vì thế đã tăng nhanh hơn cả năm 2025 gần 4 điểm phần trăm về danh nghĩa và gần 1 điểm về thực.
Đường đi theo tháng còn nói rõ hơn: hai tháng đầu năm tăng lần lượt 9,3% và 8,5%, hai tháng sau đó cùng tăng 12,1%, tháng 5 tăng 11,8%, rồi bật lên 14,8% trong tháng 6 và 14,5% trong tháng 7 (Cục Thống kê, các báo cáo tháng 1 tới tháng 7/2026). Luỹ kế leo dần: hai tháng 7,9%, quý I 10,9%, bốn tháng 11,1%, sáu tháng 12,9%, bảy tháng 13,1% và tám tháng 13,3%. Cùng lúc, chỉ số giá tiêu dùng bình quân bảy tháng tăng 4,39% (Cục Thống kê, dòng 705 tệp NSO), cao hơn mức 4,38% của sáu tháng, tức phần “giá” trong tăng trưởng bán lẻ danh nghĩa vẫn chiếm quá một phần ba.
Mục tiêu và thực hiện của thị trường trong nước năm 2026
Con số 13 tới 15% không xuất hiện một lần. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2/2026, Bộ Công Thương được giao đẩy mạnh khuyến mại, kích cầu, phấn đấu tổng mức bán lẻ tăng 13 tới 15%, mức cao hơn đáng kể so với 10,5 tới 11,5% của Quyết định 2326/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển thị trường bán lẻ. Đến phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 ngày 4/4/2026, Thủ tướng giao Bộ Công Thương “phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2026 tăng 13-15%” (bản tin VGP do vda.org.vn đăng lại ngày 5/4/2026). Một ngày sau, Chính phủ ban hành Nghị quyết 88/NQ-CP ngày 5/4/2026 về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng.
Mốc gần nhất là Thông báo 281/TB-VPCP ngày 1/6/2026 về kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc: thị trường trong nước là “điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng”; mục tiêu bán lẻ giai đoạn 2026 tới 2030 đạt 14 tới 15%, thương mại điện tử tăng 23 tới 25%, chi phí logistics còn 12 tới 15% GDP; Bộ phải trình Chiến lược phát triển thị trường trong nước trong tháng 12/2026. Tại họp báo thường kỳ quý II ngày 9/7/2026, Bộ Công Thương đánh giá mức tăng 12,9% của sáu tháng là “tiệm cận mục tiêu của cả năm”. Bảy tháng, con số đã là 13,1%; tám tháng lên 13,3%, tức đã vượt ngưỡng dưới của dải mục tiêu.
Ba chỉ tiêu, một số hiệu văn bản
Chuỗi mục tiêu nói trên có địa chỉ pháp lý gốc: Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 giao ngành Công Thương ba chỉ tiêu cho thị trường trong nước năm 2026, gồm tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13 tới 15%, thương mại điện tử bán lẻ tăng 20 tới 22%, tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử đạt 60 tới 62%. Kết luận 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV còn đặt thị trường trong nước ở một vị trí cao hơn nữa, xác định đây là điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng. Ba chỉ tiêu ấy vì thế không đứng riêng: chúng là phần định lượng của một chủ trương.
Địa phương tăng thấp hơn mặt bằng
Người đứng đầu ngành không nói về thành tích. Tại Hội nghị Chính phủ với địa phương đầu tháng 7/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nêu rõ thương mại trong nước tăng 12,9% nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu và có 14 trong 34 địa phương tăng thấp hơn mặt bằng chung (tinnhanhchungkhoan.vn, 8/7/2026). Trước đó, tại buổi làm việc của Bộ trưởng với Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước hồi tháng 5/2026, Cục trưởng Trần Hữu Linh cho biết phát triển thị trường trong nước “không chỉ là giải pháp trước mắt mà còn là chiến lược dài hạn”; Cục đang xây dựng chiến lược phát triển thị trường thương mại trong nước giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045 và đề xuất Đề án phát triển hệ thống logistics vì chi phí logistics vẫn khoảng 19% GDP; từ 15/12/2025 tới 10/5/2026, lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra 17.407 vụ, xử lý 14.923 vụ vi phạm, xử phạt 250,5 tỷ đồng.
Ở tầm chiến lược, ngành đặt “hiện đại hoá thương mại bằng dữ liệu và logistics thông minh” là một trong ba bài toán lớn, công bố tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chỉ đạo của Bộ ngày 10/7/2026 (toàn văn trên baotuyenquang.com.vn ngày 23/7/2026). Bài 8 của tuyến này bàn riêng phương pháp điều hành đứng sau bài toán ấy, nên ở đây chỉ đọc nó dưới góc độ thị trường trong nước.
Đọc như vậy thì thấy một khoảng trống về đo lường. Chi phí logistics của Việt Nam hiện được nêu ở mức khoảng 19% GDP, trong khi mục tiêu tại Thông báo 281/TB-VPCP là kéo về 12 tới 15% GDP giai đoạn 2026 - 2030. Khoảng cách bốn tới bảy điểm phần trăm ấy lớn hơn toàn bộ phần tăng thêm của bán lẻ trong một năm, nên nó không phải chuyện kỹ thuật của riêng ngành vận tải. Điều đáng lưu ý là chỉ số này đo bằng tỷ lệ trên GDP, tức mẫu số càng lớn thì tỷ lệ càng đẹp mà chi phí tuyệt đối có thể không giảm. Muốn biết doanh nghiệp bán lẻ có thật sự nhẹ gánh hay không thì phải đo thêm chi phí logistics trên một đơn vị hàng hoá luân chuyển, một con số hiện chưa được công bố định kỳ. Đặt trong khung ấy, con số 14/34 địa phương không phải chuyện thống kê, mà là địa chỉ để “quản trị” theo từng thị trường.
Báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2026 của Đảng uỷ Bộ Công Thương (ngày 24/6/2026, trạng thái dự thảo) còn chỉ ra một điểm cơ cấu: bán lẻ hàng hoá chiếm khoảng 76% quy mô thị trường nhưng năm tháng chỉ tăng khoảng 11,3%, mức tăng chung được hỗ trợ nhiều bởi lưu trú, ăn uống, du lịch; và trong 8 chỉ tiêu Chính phủ giao ngành, tổng mức bán lẻ nằm trong nhóm 4 chỉ tiêu chưa đạt tính đến hết tháng 5/2026.
Thương mại điện tử B2C 6 tháng 2026
So với đích đến năm 2030 của Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia (Quyết định 1568/QĐ-BCT ngày 3/6/2025: bán lẻ thương mại điện tử tăng 20 - 30% mỗi năm, chiếm 20% tổng mức bán lẻ, 70% dân số trưởng thành mua sắm trực tuyến) và với yêu cầu tăng bình quân 23 - 25% trong Thông báo 281/TB-VPCP, mức 18% là khoảng cách phải bù trong bốn năm rưỡi còn lại.
Khung pháp lý đã đổi. Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 gồm 7 chương 41 điều, thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ 1/7/2026; tài liệu họp báo quý I/2026 của Bộ cho biết đang hoàn thiện Nghị định hướng dẫn Luật và trong quý I các sàn đã gỡ bỏ gần 3.000 sản phẩm vi phạm. Ngày 28/5/2026, Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia thông tin đã làm việc với Shopee về chương trình “Duy trì hiển thị” trích tự động 1% doanh thu đơn hàng thành công của người bán, dự kiến áp dụng từ 29/5/2026; ngày 27/5 Shopee báo cáo hoãn triển khai và Uỷ ban tiếp tục yêu cầu Shopee, TikTok Shop giải trình các loại phí.
Thương mại điện tử là mảng tưởng dễ so sánh quốc tế nhất trong ba chỉ tiêu, nhưng lại chính là chỗ lộ ra khoảng trống dữ liệu rõ nhất.
Tháng 5/2026, Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển công bố cơ sở dữ liệu toàn cầu đầu tiên về giá trị thương mại điện tử, hợp nhất các ước tính quốc gia sẵn có. Theo cơ quan này, doanh số thương mại điện tử của doanh nghiệp đang tăng nhanh hơn hẳn tổng sản phẩm trong nước. Trong giai đoạn 2016 - 2024, tốc độ tăng bình quân năm ở các nền kinh tế đang phát triển gần gấp đôi các nền kinh tế phát triển. Ghi chú kỹ thuật của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển, mốc số liệu năm 2021, cho biết tỷ trọng bán lẻ trực tuyến trong tổng bán lẻ có khoảng cách rất rộng giữa các nước: Trung Quốc, Anh và Hàn Quốc ở mức khoảng 25 - 30%, Hoa Kỳ khoảng 15%, còn phần lớn các nền kinh tế nằm trong dải 5 - 10%.
Điểm đáng nói nằm ở danh sách. Cơ sở dữ liệu ấy dựa trên số liệu của 36 nền kinh tế chiếm 2/3 tổng sản phẩm toàn cầu, trong đó có 8 nền kinh tế đang phát triển là Trung Quốc; Hồng Kông (Trung Quốc); Colombia; Indonesia; Malaysia; Philippines; Singapore và Thái Lan. Việt Nam không nằm trong danh sách này, dù bốn nước ASEAN khác đã có mặt. Chính cơ quan công bố cũng thừa nhận số liệu giá trị thương mại điện tử còn hạn chế, đặc biệt với các nền kinh tế đang phát triển.
Có hai điều phải đặt lên trước khi rút ra kết luận. Thứ nhất, việc chưa có tên trong một cơ sở dữ liệu quốc tế không có nghĩa là Việt Nam không thống kê thương mại điện tử; nó có nghĩa là số liệu của ta chưa được đưa vào hệ thống ấy theo chuẩn mà cơ quan này dùng. Thứ hai, chuẩn ấy khá chặt: theo định nghĩa được dùng, một giao dịch thương mại điện tử là việc mua hoặc bán hàng hoá, dịch vụ qua mạng máy tính bằng những phương thức được thiết kế riêng để nhận hoặc đặt đơn hàng, không tính các đơn hàng đặt qua tin nhắn gõ tay hay thư điện tử thông thường. Đây chính là chỗ dễ lệch nhất khi so số của Việt Nam với số quốc tế, vì một phần đáng kể giao dịch trực tuyến trong nước diễn ra qua tin nhắn trên mạng xã hội.
Đọc như vậy thì con số tăng khoảng 18% của Việt Nam có hai lớp ý nghĩa. Lớp thứ nhất: mức tăng ấy nằm trong xu hướng chung mà cơ quan này ghi nhận, rằng thương mại điện tử ở các nền kinh tế đang phát triển tăng nhanh hơn hẳn nhóm phát triển. Lớp thứ hai, cũng là phần việc cụ thể hơn: muốn biết mình đang ở đâu trên bản đồ, trước hết phải có mặt trên bản đồ ấy. Chuẩn hoá thống kê thương mại điện tử theo định nghĩa quốc tế là một việc kỹ thuật, nhưng nó quyết định việc mọi phép so sánh sau này có đứng vững hay không.
Mức tăng khoảng 18% của thương mại điện tử bán lẻ trong nửa đầu năm không chỉ là một con số ngành. Nó là dấu hiệu của một chuyển động mà báo chí kinh tế thế giới đã gọi tên từ hai thập kỷ trước.
Năm 2005, trong cuốn The World Is Flat, nhà báo Thomas L. Friedman của The New York Times mô tả sự hình thành một nền tảng toàn cầu cho nhiều hình thức cộng tác. Ông lập luận rằng những nhân tố san phẳng tiếp theo đều dựa trên chính nền tảng ấy. Hai mươi năm sau, nền tảng ấy đã đi tới tận quầy hàng ở một huyện của Việt Nam, dưới dạng sàn thương mại điện tử và ví điện tử.
Nhưng Friedman viết một cuốn khác trước đó, chính cuốn ấy nêu vế còn lại. Trong The Lexus and the Olive Tree năm 1999, ông dựng hình ảnh hai cuộc giằng co diễn ra cùng lúc: một bên là khát vọng thịnh vượng cùng phát triển, tượng trưng bằng chiếc Lexus; một bên là mong muốn giữ bản sắc cùng truyền thống, tượng trưng bằng cây ô liu. Ông gọi bộ luật chơi mà toàn cầu hoá áp lên các nền kinh tế là “chiếc áo nịt vàng”, tên chương 6 của cuốn sách, mô tả nó là “bộ y phục chính trị kinh tế đặc trưng của toàn cầu hoá”.
Hai hình ảnh ấy soi khá sát vào con số 5.227 nghìn tỷ đồng của 8 tháng. Phần “Lexus” là sức mua đang tăng 13,3%, là thương mại điện tử chạy nhanh hơn bán lẻ truyền thống, là hạ tầng thanh toán số phủ tới vùng sâu. Phần “cây ô liu” là hệ thống chợ truyền thống, là cửa hàng tạp hoá, là mạng lưới phân phối mà hàng Việt vẫn dựa vào để giữ chỗ đứng trên kệ.
Bài toán của 4 tháng còn lại nằm đúng ở chỗ giữ được cả hai. Một mức tăng bán lẻ hai con số mà phần lớn đến từ giá thì chưa phải là sức mua thật; một sàn thương mại điện tử tăng nhanh mà hàng trên sàn phần lớn là hàng nhập thì phần giá trị ở lại trong nước cũng mỏng đi.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đạt 5.227 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3%. Đó là con số về lượng. Nó chưa nói người Việt mua gì và mua vì lý do gì, mà chính hai câu hỏi ấy mới cho biết sức mua có bền hay không.
Thorstein Veblen đặt vấn đề ấy từ năm 1899 trong Lý thuyết giai cấp nhàn hạ. Ông đưa ra khái niệm tiêu dùng phô trương rồi viết rằng “tiêu dùng phô trương những hàng hoá có giá trị là một phương tiện tạo danh tiếng”. Luận điểm của Veblen là một phần chi tiêu của xã hội không phục vụ nhu cầu sử dụng mà phục vụ việc phát tín hiệu về địa vị.
Veblen viết về giới thượng lưu nước Mỹ cuối thế kỷ 19, một xã hội khác hẳn Việt Nam năm 2026, nên không thể bê nguyên kết luận. Nhưng cách đặt câu hỏi của ông thì dùng được ngay cho một thị trường mà thương mại điện tử tăng khoảng 18% và livestream chiếm phần lớn chi tiêu trực tuyến. Câu hỏi ấy là: trong phần tăng thêm của bán lẻ, bao nhiêu đến từ nhu cầu thật và bao nhiêu đến từ cơ chế kích thích mua sắm mà nền tảng số tạo ra.
Câu hỏi này không phải chuyện lý thuyết. Nó quyết định cách đọc chỉ tiêu 13 - 15%. Nếu phần tăng thêm đến từ thu nhập và từ nhu cầu tiêu dùng thật thì mức tăng ấy bền. Nếu phần lớn đến từ khuyến mại sâu trên sàn và từ tín dụng tiêu dùng ngắn hạn thì con số đẹp trong năm nay có thể vay của sức mua năm sau.
Có một chỗ trống dữ liệu cần nói thẳng. Bộ số bán lẻ hiện công bố theo nhóm hàng hoá và dịch vụ, chưa tách theo nguồn tài trợ chi tiêu, tức phần trả bằng thu nhập so với phần trả bằng tín dụng. Thiếu lát cắt ấy thì câu hỏi Veblen đặt ra không có cách trả lời bằng số. Đây là kiến nghị cụ thể của bài này với cơ quan thống kê ngành.
Phần trên đã dẫn Thế giới phẳng của Thomas L. Friedman để nói về nền tảng toàn cầu. Chính cuốn ấy còn mô tả vế thứ hai, gần với người bán lẻ Việt Nam hơn.
Friedman dựng lại cách vận hành của trung tâm phân phối Wal-Mart tại Bentonville, bang Arkansas, rộng 1,2 triệu foot vuông, tương đương 111.480 mét vuông, nơi hàng từ cả ngàn nhà cung cấp đổ vào băng tải rồi được phân đi. Ông cũng ghi nhận sức ép mà chuỗi ấy đặt lên nhà sản xuất, khi họ phải “làm bất cứ gì cần để làm hài lòng các nhà bán lẻ lớn”.
Hai mươi năm sau, cơ chế ấy đã tới Việt Nam dưới hình thức khác. Sàn thương mại điện tử thay cho trung tâm phân phối vật lý, thuật toán gợi ý thay cho việc xếp kệ, nhưng vế sức ép thì giữ nguyên: nhà sản xuất trong nước muốn ở lại trên sàn phải chịu điều kiện của nền tảng.
Từ đó rút ra một chỉ tiêu mà bảng số bán lẻ hiện chưa có: tỷ trọng hàng sản xuất trong nước trong tổng giá trị giao dịch trên các sàn. Bán lẻ tăng 13,3% là tin tốt cho tổng cầu. Nhưng nếu phần tăng thêm chủ yếu là hàng nhập bán qua sàn thì phần giá trị ở lại trong nước mỏng đi. Khi ấy một chỉ tiêu đạt lại kéo theo một chỉ tiêu khác hụt.
Trong tổng mức bán lẻ 5.227 nghìn tỷ đồng có những nhóm hàng chuyển động nhanh hơn hẳn mặt bằng. Xe điện là nhóm rõ nhất.
Theo Triển vọng Năng lượng Đông Nam Á 2026 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế, doanh số xe ô tô điện tại Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi giữa năm 2024 và năm 2025, đạt gần 180 nghìn xe. Tính theo tỷ trọng thì mức đổi còn ấn tượng hơn: ước tính năm 2025, xe điện chiếm khoảng 40% doanh số xe mới tại Việt Nam, tăng từ khoảng 10% của năm 2023. Trong khu vực chỉ Singapore có tỷ trọng tương đương, cũng khoảng 40%, nhưng nước này đi lên từ nền 20% chứ không phải 10%.
Nói cách khác, trong 2 năm, cứ 10 xe mới bán ra ở Việt Nam thì số xe điện tăng từ 1 lên 4. Trong nhóm 10 nước Đông Nam Á mà Cơ quan Năng lượng Quốc tế đưa vào so sánh, đây là mức chuyển đổi cơ cấu tiêu dùng thuộc nhóm nhanh nhất ở một mặt hàng giá trị lớn.
Con số ấy có ba hệ quả cho cách đọc thị trường trong nước. Một, phần tăng của bán lẻ không chia đều mà dồn vào một số nhóm hàng đang thay thế công nghệ, nên nhìn số tổng dễ bỏ sót chỗ chuyển động thật. Hai, nhóm hàng này kéo theo nhu cầu điện và hạ tầng sạc, tức là nối trực tiếp sang bài toán nguồn điện. Ba, đây là nhóm hàng mà tỷ lệ nội địa hoá quyết định phần giá trị ở lại trong nước, giống hệt câu hỏi đã đặt ra với điện tử và ô tô ở các kỳ trước.
Sức mua thật phụ thuộc vào giá. Chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy giảm 0,12% so với tháng trước, tăng 4,45% so với cùng kỳ; bình quân bảy tháng tăng 4,39%, lạm phát cơ bản tăng 4,19%; chỉ số giá vàng bình quân bảy tháng tăng 51,86% (Cục Thống kê, dòng 705 và 706 tệp NSO). Hai tháng liền CPI giảm so với tháng trước là điều kiện để phần tăng thực của bán lẻ nhích từ 7,3% của sáu tháng lên 7,5% của bảy tháng (dòng 589 và 695 tệp NSO). Áp lực giá thực ra dồn vào quý II: CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025, còn CPI tháng 6 tăng 3,21% so với tháng 12/2025 và tăng 4,69% so với cùng kỳ (Viện Chiến lược Chính sách Công Thương, báo cáo tháng 6/2026). Mức bình quân bảy tháng 4,39% vì thế là kết quả của việc giá hạ nhiệt trong tháng 6 và tháng 7 sau một quý II căng.
Về thể chế bảo vệ người tiêu dùng, ngày 15/7/2026 Bộ trưởng Bộ Công Thương ký Quyết định 1769/QĐ-BCT ban hành Chương trình hành động của Bộ triển khai Chương trình quốc gia về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng giai đoạn 2026 - 2030. Ngày 5/8/2026, Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia mở hội thảo phổ biến Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 tại miền Bắc, nhấn mạnh bảo vệ cả thông tin phát sinh trong giao dịch và trách nhiệm của Sở Công Thương theo Nghị định 146/2025/NĐ-CP.
Kích cầu vẫn là công cụ trước mắt: hưởng ứng Vietnam GrandSale 2026 do Bộ Công Thương phát động, nhiều siêu thị tại Hà Nội giảm giá tới 50 - 67% trong tháng 7; nhưng Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam Trần Thị Phương Lan lưu ý khuyến mại chỉ là giải pháp ngắn hạn, muốn bền phải nâng chất lượng, xây thương hiệu và giảm chi phí.
Con số CPI bình quân bảy tháng tăng 4,39% ở mục trên là một kết quả đã xảy ra. Câu hỏi khó hơn của điều hành giá là câu hỏi về thời điểm can thiệp. Giáo trình chuẩn quốc tế về tiền tệ trả lời câu hỏi ấy bằng một lập luận đáng đọc lại.
Ông Frederic S. Mishkin, giáo sư Trường Kinh doanh Columbia, nguyên thành viên Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ, viết trong giáo trình Kinh tế học về tiền, ngân hàng và thị trường tài chính, ở chương bàn về thực thi chính sách tiền tệ, rằng độ trễ dài buộc chính sách không thể đợi lạm phát xuất hiện rồi mới phản ứng. Nếu đợi tới khi dấu hiệu lạm phát đã rõ, theo ông, thì hoặc là quá muộn để giữ giá ổn định, hoặc là phải thắt chặt rất mạnh, vì “kỳ vọng lạm phát đã được nhúng vào quá trình thiết lập tiền lương và giá cả, tạo ra một động lực lạm phát khó có thể dừng lại”. Ông viết tiếp rằng lạm phát “trở nên khó kiểm soát hơn nhiều khi nó đã vào đà vì kỳ vọng lạm phát cao hơn đã ăn sâu vào các loại hợp đồng dài hạn và thỏa thuận giá cả”.
Ở phần bàn về cách kỳ vọng hình thành, Mishkin bác quan niệm cho rằng kỳ vọng chỉ là trung bình của lạm phát quá khứ. Ông chỉ ra rằng kỳ vọng của mọi người “gần như chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi những dự đoán của họ về chính sách tiền tệ trong tương lai”. Ông cũng ghi nhận rằng mọi người thường đổi kỳ vọng rất nhanh khi có thông tin mới.
Phạm vi phải đặt đúng: Mishkin bàn về chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, không bàn về các biện pháp quản lý thị trường của một bộ quản lý ngành. Thứ dùng lại được không phải công cụ mà là quan hệ giữa độ trễ và kỳ vọng. Quyết định số 1769/QĐ-BCT về bình ổn thị trường nêu ở mục trên được ban hành trước mùa cao điểm chứ không sau. Chỗ ấy đáng chú ý không kém lượng hàng nó điều phối. Các biện pháp bình ổn ấy được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật về giá, chỉ áp dụng với một số mặt hàng thiết yếu, nên chúng là công cụ điều hành cung cầu chứ không phải công cụ vĩ mô để neo kỳ vọng. Người bán lẻ ký hợp đồng cung ứng cho quý sau, người tiêu dùng quyết định mua sớm hay hoãn lại, cả hai đều hành động theo mức giá họ dự đoán chứ không chỉ theo mức giá họ đang thấy.
Điều ấy nối thẳng vào chỉ tiêu tăng 13 tới 15% của bán lẻ. Nếu sức mua danh nghĩa tăng nhanh trong lúc kỳ vọng giá bị xô lệch, thì phải đặt câu hỏi phần tăng ấy có bao nhiêu là mua sớm và bao nhiêu là sức mua thật dày lên. Câu hỏi ấy chỉ trả lời được bằng khảo sát hành vi người tiêu dùng, mà khảo sát như thế thì chưa có. Đó là một lý do nữa để đọc con số bán lẻ cùng lúc với con số giá, chứ không đọc riêng từng con số.
Từ hai con số của Cục Thống kê (cả năm 2025 đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng; 7 tháng năm 2026 đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1%), toà soạn ước tính: để cả năm 2026 tăng 13%, tổng mức bán lẻ phải đạt khoảng 7.920 nghìn tỷ đồng, tức 5 tháng cuối năm cần khoảng 3.364 nghìn tỷ đồng, bình quân 673 nghìn tỷ đồng mỗi tháng, chỉ cao hơn tháng bảy (669,1 nghìn tỷ) khoảng 0,6%; so với cùng kỳ năm 2025 (ước khoảng 2.981 nghìn tỷ đồng, suy từ số 7 tháng và mức tăng 13,1%), năm tháng cuối cần tăng khoảng 12,9%. Đích 14% đòi hỏi năm tháng cuối tăng khoảng 15,2%; đích 15% đòi hỏi khoảng 17,6%. Phép tính chia đều, làm tròn tới đơn vị nghìn tỷ, chưa tính mùa vụ quý IV vốn cao hơn các quý trước (quý IV/2025 tăng 4,3% so với quý III, dòng 52 tệp NSO). Nói cách khác, ngưỡng dưới 13% đang trong tầm với; ngưỡng trên 15% cần một cú hích không đến từ giá.
Điều đó đưa câu chuyện trở lại ba địa chỉ mà chính ngành đã nêu: 14 địa phương tăng thấp hơn mặt bằng, khoảng hụt 2 tới 4 điểm của thương mại điện tử và chi phí logistics khoảng 19% GDP. Chiến lược phát triển thị trường trong nước phải trình trong tháng 12/2026 sẽ được đo bằng việc có trả lời được ba địa chỉ ấy hay không.
Con số 13,3% nói về tốc độ của chợ. Gốc của chợ lại nằm ở túi tiền người mua. Trong bài “Phóng tay phát động quần chúng”, khi phân tích lợi ích của chủ trương triệt để giảm tô đối với từng tầng lớp, Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt mối quan hệ ấy bằng một câu ngắn: “Vì nông dân sinh hoạt khá, thì sẽ mua nhiều hàng, công nghiệp và thương nghiệp sẽ càng phát triển”. Đó đúng là logic mà mọi chỉ tiêu bán lẻ đều dựa vào: sức mua có thực chỉ lớn lên khi thu nhập thực tế lớn lên, chứ không lớn lên vì mặt bằng giá nhích lên.
Một luận điểm cùng mạch đến từ V.I. Lênin trong bài viết đầu tay “Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường”, hoàn thành mùa thu năm 1893. Ở đó ông chỉ ra rằng nơi nào chỉ có độc canh mà không có những thành phố lớn tập trung công nghiệp chế biến thì nơi ấy không có thị trường trong nước. Đọc ngược lại, thị trường trong nước lớn lên cùng với đô thị hoá và công nghiệp chế biến, đúng hai thứ mà số liệu 8 tháng đang cho thấy: chế biến, chế tạo tăng hai con số, còn tổng mức bán lẻ tăng 13,3%.
Chỉ tiêu tăng 13 tới 15% của bán lẻ là một con số về cầu. Đằng sau nó là một câu hỏi cũ hơn nhiều: cầu ấy lấy từ đâu ra.
Đại Việt sử ký toàn thư chép lời Hưng Đạo Vương trả lời vua Trần Anh Tông. Sau khi bàn hết các phép dụng binh, ông đặt câu quan trọng nhất ở cuối cùng. Đó là một câu về kinh tế chứ không phải về quân sự: “Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”.
Đặt chữ “sức dân” vào ngôn ngữ thống kê hôm nay thì nó chính là thu nhập khả dụng của hộ gia đình, tức phần còn lại sau khi trừ thuế, phí và các khoản phải nộp. Bán lẻ là mặt biểu hiện, sức dân là phần gốc. Một chỉ tiêu bán lẻ đạt được nhờ giá tăng, nhờ vay tiêu dùng nhiều hơn hoặc nhờ hộ gia đình rút tiết kiệm ra tiêu, thì đó là bán lẻ vay từ tương lai chứ không phải bán lẻ dựa trên gốc rễ. Cách phân biệt hai loại tăng ấy không nằm trong con số 13,3%. Nó nằm ở ba dãy số đi kèm: thu nhập bình quân đầu người theo giá so sánh, tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình và dư nợ tín dụng tiêu dùng. Bài này không có cả ba dãy ấy ở mức tháng, nên phải nói rõ đó là giới hạn của bài chứ không phải một kết luận.
Giữa câu nói ấy với phép đo hôm nay có một khoảng cách. Khi Trần Hưng Đạo nói khoan thư sức dân, ông nói về việc giảm sưu dịch cùng thuế khoá để dân không kiệt sức, trong một nền kinh tế chưa tiền tệ hoá như hôm nay. Các khái niệm thu nhập khả dụng, tỷ lệ tiết kiệm hay dư nợ tiêu dùng là công cụ đo của thời sau. Câu nói ấy vì thế là một nguyên tắc về thứ tự ưu tiên, không phải một phương pháp thống kê.
Vế thứ hai là chi phí lưu thông. Phan Huy Chú đã liệt kê rất gọn trong Quốc dụng chí. Bàn về hoá vật của bốn phương, ông viết rằng “những người buôn bán đi lại thì có thuế bến đò, thuế quan, thuế chợ, mà việc tuần xét không thể bỏ được”. Câu ấy nêu đủ hai vế của một vấn đề chưa cũ. Vế thứ nhất, hàng hoá đi từ nơi sản xuất tới người mua thì phải qua nhiều lần thu, mỗi lần thu là một lần đội giá. Vế thứ hai, chính Phan Huy Chú lại nói việc tuần xét không thể bỏ, tức không thể lấy lý do giảm chi phí mà buông quản lý.
Chỗ chưa cũ nằm ở việc cân hai vế ấy. Với thị trường trong nước năm 2026, các lần thu không còn tên gọi bến đò hay chợ, mà là chi phí logistics, phí hạ tầng cảng biển, chi phí kiểm tra chuyên ngành và chi phí tuân thủ của mỗi khâu phân phối. Mỗi khoản đều có lý do tồn tại riêng, cũng như tuần xét thời trước có lý do của nó. Nhưng tổng của chúng thì cộng thẳng vào giá bán lẻ, tức trừ thẳng vào sức mua. Đó là chỗ giao nhau giữa hai câu trích trên: khoan thư sức dân và tuần xét không thể bỏ là hai đòi hỏi kéo về hai phía. Điều hành thị trường trong nước là công việc tìm điểm cân giữa chúng, năm này qua năm khác.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đặt khu vực dịch vụ vào nhóm động lực tăng trưởng mới, yêu cầu “phát triển khu vực dịch vụ hiện đại, chất lượng cao, ưu tiên phát triển dịch vụ có giá trị gia tăng cao, gắn với nâng cấp công nghiệp, nông nghiệp và đô thị”.
Với bán lẻ, vế quan trọng hơn nằm ở tầng chủ thể. Nghị quyết xác định “phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất”. Bán lẻ và thương mại điện tử là nơi khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng lớn bậc nhất trong nền kinh tế, nên câu ấy có hiệu lực trực tiếp với 5.227 nghìn tỷ đồng doanh thu 8 tháng.
Điều bài này đã chỉ ra vẫn còn nguyên: phần thương mại điện tử chưa được đếm đủ trong con số bán lẻ chung. Việt Nam cũng chưa có tên trong cơ sở dữ liệu toàn cầu về giá trị thương mại điện tử. Một động lực được xác định là quan trọng nhất mà chưa được đo đủ thì chưa thể quản trị theo mục tiêu như chính Nghị quyết đòi hỏi.
Vế chủ thể ấy có một văn bản chuyên đề với chỉ tiêu đo được. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đặt mục tiêu đến năm 2030: cả nước có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, tương đương 20 doanh nghiệp trên một nghìn dân, khu vực tư nhân “đóng góp khoảng 55-58% GDP, khoảng 35 - 40% tổng thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho khoảng 84 - 85% tổng số lao động”. Tầm nhìn 2045 nâng lên trên 60% GDP.
Nghị quyết cũng ghi rõ điểm xuất phát: kinh tế tư nhân với hơn 5 triệu hộ kinh doanh hiện “đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động”.
Đọc hai bộ số ấy cạnh nhau thì thấy khoảng cách phải bù trong bốn năm là 5 tới 8 điểm phần trăm GDP. Bán lẻ và thương mại điện tử, nơi tư nhân chiếm tỷ trọng lớn bậc nhất, sẽ gánh một phần đáng kể khoảng cách đó. Nhưng như bài đã chỉ ra, chính phần thương mại điện tử lại là phần chưa được đếm đủ trong con số bán lẻ chung. Một khoảng cách phải bù mà thước đo còn hở thì khó biết đang tiến tới đâu.