Longform
25/09/2026 17:34
Dữ liệu Công Thương

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm

Thứ Sáu, 25/09/2026 17:34:38 +07:00

(Công Thương) - Nhiệm kỳ 2025 - 2030 gắn liền hai mốc trăm năm: 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030 và 100 năm thành lập nước vào năm 2045, ngành đang dựng cùng lúc ba đạo luật, bốn chiến lược và một khung quản trị mới. Bốn năm tới mốc 2030 và mười chín năm tới mốc 2045, những chỉ tiêu nào cần làm gì ngay từ bây giờ để phát triển bền vững?

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 1

Thành phố Hồ Chí Minh về đêm.

Trong hai ngày 15 và 16/7/2025, Đảng bộ Bộ Công Thương tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ I nhiệm kỳ 2025-2030, với 250 đại biểu đại diện cho 2.671 đảng viên của 38 tổ chức đảng trực thuộc. Đại hội đặt quyết tâm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, lập thành tích kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030, đồng thời hướng tới hiện thực hóa tầm nhìn năm 2045, tức 100 năm thành lập nước.

Nghĩa là ngay từ đại hội đầu nhiệm kỳ, ngành đã tự đặt mình vào đúng hai mốc trăm năm. Một nhiệm kỳ 5 năm được đặt trong tầm nhìn 20 năm. Đó là một lựa chọn về tầm nhìn hoạch định và giải thích vì sao các văn bản chiến lược của ngành trong năm 2026 đều viết cho mốc năm 2030 kèm tầm nhìn năm 2045 chứ không dừng ở nhiệm kỳ.

Đại hội xác định phương châm: Đoàn kết, Dân chủ, Kỷ cương, Đổi mới, Phát triển. Trong các nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ mới, Đảng bộ Bộ Công Thương đặt phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cùng đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo vào nhóm ưu tiên, kèm mục tiêu tạo đột phá trong công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cấp ủy cùng cán bộ kế cận có bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, khát vọng cống hiến, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 2

 

Hai chữ "khát vọng" trong một văn kiện tổ chức đảng của một bộ kinh tế cho thấy cách đặt vấn đề của nhiệm kỳ này không dừng ở chỗ hoàn thành chỉ tiêu được giao. Nghị quyết chỉ có giá trị bằng những gì nó sinh ra. Tám tháng đầu năm 2026 là quãng đầu tiên ngành vận hành trọn vẹn theo khung ấy, dưới sự điều hành của Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng. Bảng dưới đây gom các đầu việc lớn theo nhóm, mỗi việc đều có mốc thời gian cùng nguồn.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 3

 

Ba đạo luật, bốn chiến lược cùng một khung quản trị mới được đặt song song trong cùng tám tháng, điều này có nghĩa ngành sửa đồng thời cả phần luật, phần chiến lược lẫn phần phương pháp điều hành. Đây là công việc mà kết quả không hiện ra trong quý sau, nhưng nếu không làm trong 4 năm tới, mốc năm 2045 sẽ không có đường chiến lược.

Đó cũng là lý do bản Dự thảo Chiến lược được đọc theo hướng góp thêm chứ không theo hướng bắt lỗi. Một bản dự thảo đang trong quá trình lấy ý kiến, chỗ chưa khớp là chuyện bình thường của quy trình. Việc chỉ ra chúng chính là phần việc mà quy trình ấy chờ đợi ở các cơ quan được hỏi ý kiến, trong đó có Báo Công Thương.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 4

 

Mục 3.2.2.2 của Dự thảo đặt 14 chỉ tiêu cụ thể cho giai đoạn đến năm 2030. Nhóm công nghiệp trong Dự thảo Chiến lược ngành Công Thương gồm tăng trưởng bình quân công nghiệp 11,8%; chế biến, chế tạo 12,4%; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 11 - 12%; nội địa hóa một số ngành chủ lực 40 - 45%; chỉ số CIP thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN; tỷ trọng chế biến, chế tạo trong GDP 28%; giá trị tăng thêm chế biến, chế tạo bình quân đầu người 2.400 USD. Nhóm năng lượng gồm giảm tiêu hao năng lượng trên GDP 1 - 1,5%/năm và tự chủ năng lượng sơ cấp trên 60%. Nhóm thương mại gồm bán lẻ tăng 14 - 15%/năm; xuất khẩu tăng 15 - 16%/năm; thặng dư cán cân thương mại bằng 8 - 10%; kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu tăng 12 - 13%/năm và thương mại điện tử tăng 15 - 17%/năm.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 5

Cảng Đình Vũ nhộn nhịp tàu hàng, khơi thông dòng chảy logistics

Đặt bên cạnh là bốn con số của 8 tháng năm 2026: IIP tăng 11,6%; xuất khẩu 374,0 tỷ USD, tăng 22,2%; nhập khẩu 396,4 tỷ USD, tăng 35,7%; nhập siêu 22,4 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm 2025 còn xuất siêu.

Hai con số đầu đi cùng chiều với chiến lược, thậm chí đi trước. IIP 8 tháng 11,6% đã nằm trong dải 11 - 12% mà Dự thảo đặt cho bình quân giai đoạn tới 2030, cao hơn mức 9,2% của cả năm 2025 và bình quân 6,17% mỗi năm giai đoạn 2021 - 2025 mà chính Dự thảo dẫn (dòng 563). Xuất khẩu tăng 22,2%, vượt hẳn dải 15 - 16%.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 6

 

Một chiến lược nhìn tới năm 2045 phải đọc được cả nhịp bên ngoài. Theo Tổng quan Điện lực Toàn cầu 2026 của tổ chức nghiên cứu năng lượng Ember, công bố tháng 4/2026 trên dữ liệu 215 quốc gia, năm 2025 đánh dấu một ngưỡng của hệ thống điện thế giới: các nguồn tái tạo gồm mặt trời, gió, thuỷ điện và nguồn khác lần đầu tiên đóng góp hơn một phần ba tổng sản lượng điện toàn cầu, trong khi tỷ trọng điện than lần đầu tiên trong lịch sử rơi xuống dưới một phần ba. Cũng theo báo cáo này, chi phí pin lưu trữ giảm 20% trong năm 2024, giảm tiếp 45% trong năm 2025; lượng lắp đặt tăng 46% lên khoảng 250 GWh.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 7

Đường dây 500 kV Bắc - Nam, “xương sống” của hệ thống điện thống nhất

Một lưu ý về phương pháp: số của Ember là tổng sản lượng phát điện toàn cầu năm 2025, khác với chỉ tiêu điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống mà Việt Nam dùng, nên hai vế chỉ đặt cạnh nhau để thấy hướng đi chứ không trừ nhau được. Điều đáng chú ý với một hệ chỉ tiêu tới năm 2045 nằm ở chỗ khác: khi chi phí lưu trữ giảm gần một nửa chỉ trong một năm, những giả định về cơ cấu nguồn điện đặt ra hôm nay có thể lạc hậu trước cả mốc 2030. Đó là lý do một chiến lược dài hạn cần cơ chế rà lại định kỳ, chứ không chỉ cần một bảng chỉ tiêu đẹp.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 8

 

Đo lại chỉ tiêu không phải để hạ tham vọng. Ba dữ kiện của năm 2026 cho thấy dư địa nâng chuẩn còn rất rộng.

Về vốn, số đăng ký của đầu tư nước ngoài tính tới 31/7/2026 là 38,06 tỷ USD (theo số liệu 7 tháng năm 2026 của Cục Thống kê), con số mà Bài 1 đã tách riêng phần đăng ký với phần đã giải ngân. Đây là số nền mà Dự thảo thiếu hẳn: hồ sơ trinh sát của Báo ghi nhận toàn văn Dự thảo không có một con số FDI đăng ký hoặc giải ngân nào.

Về năng lượng, chuỗi dự án khí điện Lô B Ô Môn có tổng quy mô đầu tư gần 12 tỷ USD, trữ lượng khí thu hồi dự kiến khoảng 112 tỷ m3, cung cấp khoảng 5,06 tỷ m3 khí mỗi năm trong giai đoạn bình ổn. Ngày 24/7/2026, Petrovietnam ký hợp đồng tín dụng 7.300 tỷ đồng với BIDV và VietinBank cho Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn IV công suất 1.155 MW, dự kiến hoàn thành năm 2028. Dự án gắn thẳng với chỉ tiêu tự chủ năng lượng sơ cấp trên 60% năm 2030 mà Dự thảo đặt ra nhưng không cho biết mức nền 2025.

Về mục tiêu tăng trưởng, Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 gắn với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số. GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, cao hơn mức 7,63% cùng kỳ năm 2025 (Cục Thống kê). Với nền tăng trưởng ấy, một chiến lược ngành đặt xuất khẩu tăng 15 - 16% mỗi năm nhưng dự báo 10,6% mỗi năm, đặt IIP 11 - 12% khi 8 tháng đã 11,6%, đang tự làm hẹp không gian của chính mình.

Cơ hội đi kèm rủi ro. Rủi ro ấy đã được giới nghiên cứu gọi tên. TS Nguyễn Quốc Việt, Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), trao đổi với phóng viên Báo Công Thương ngày 16/4/2026, cho rằng rủi ro về năng lượng trong năm 2026 “nghiêm trọng hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng bốn năm trước”. Năm 2022, cú sốc chủ yếu nằm ở giá, còn lần này, Việt Nam chịu tác động “kép” cả về giá lẫn chuỗi cung ứng. TS Võ Trí Thành đặt lời giải ở phía đầu tư: “Cần thiết phải đẩy nhanh đầu tư công vào hạ tầng giao thông và năng lượng nhằm tạo ra hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy tăng trưởng cao” (Báo Công Thương, 20/4/2026).

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 9

 

Ngành đã tự đặt cho mình ba bài toán lớn, công bố ngày 10/7/2026, lần lượt thuộc ba lĩnh vực: năng lượng, công nghiệp và thương mại. Bài 8 đã dẫn đủ tên ba bài toán ấy cùng phương pháp điều hành đứng sau chúng, nên phần này chỉ đối chiếu chúng với hệ chỉ tiêu của Dự thảo Chiến lược. Trước đó, ngày 11/3/2026, trên cương vị Quyền Bộ trưởng, đồng chí chỉ đạo hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp hướng tới tăng trưởng hai con số. Bài 8 của tuyến đã phân tích chuyển động ấy ở tầng thể chế.

Ba bài toán đối chiếu thẳng vào ba khoảng chênh của Dự thảo. An ninh năng lượng đòi hỏi chỉ tiêu nguồn điện khớp với Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Tự chủ công nghiệp và nội địa hóa đòi hỏi một chỉ tiêu đo phần của doanh nghiệp trong nước trong xuất khẩu, không chỉ tổng kim ngạch. Hiện đại hóa thương mại bằng dữ liệu đòi hỏi hệ chỉ tiêu có số nền, có phép kiểm tra chéo và có người theo dõi hằng năm.

Lập luận chung của cả hai tổ chức quốc tế gần đây giống nhau ở một điểm: nước thu nhập thấp tăng nhanh được vì thay công nghệ cũ bằng phương thức sản xuất hiện đại nhập từ bên ngoài, còn nước thu nhập trung bình thì cơ hội kiểu ấy ít dần. Nhìn sang Indonesia, Malaysia và Thái Lan thì thấy tốc độ tăng trưởng của họ đều chậm lại từ thập niên 1990.

Đặt cạnh hệ chỉ tiêu đang bàn ở trên, ý nghĩa rất rõ. Bốn năm tới mốc năm 2030 là quãng mà mô hình cũ còn chạy được. Mười chín năm tới mốc năm 2045 là quãng phải chạy bằng mô hình khác. Phần lớn việc chuyển mô hình ấy nằm trong công nghiệp, thương mại cùng năng lượng.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 10

 

Khoảng cách ấy hiện rõ nhất khi đặt ba thước đo của cùng năm 2026 cạnh nhau.

Thước thứ nhất, mức tối thiểu để tới đích. Theo tính toán của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc đã dẫn, Việt Nam cần duy trì tăng trưởng từ 6% trở lên liên tục trong hai mươi năm thì mới đạt thu nhập cao vào năm 2045.

Thước thứ hai, mức mà bên ngoài tin Việt Nam sẽ đạt. Bài 1 của tuyến này đã phân tích bốn dự báo quốc tế cho năm 2026 cùng ý nghĩa của từng mốc công bố. Kết quả gom lại là một khoảng từ 7,2 - 7,5% theo hai bản mới nhất, tức cao hơn mức tối thiểu nêu trên khoảng một điểm rưỡi phần trăm.

Thước thứ ba, mức mà Việt Nam tự đặt ra cho mình. Nghị quyết Đại hội XIV đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân từ 10% mỗi năm.

Ba thước ấy xếp thành một hình bậc thang: 6% để không lỡ hẹn, 7,2 - 7,5% là điều bên ngoài cho là khả thi, 10% là điều Việt Nam tự yêu cầu. Khoảng chênh giữa thước thứ hai và thước thứ ba, quanh 2,5 - 2,8 điểm phần trăm, chính là phần mà các giải pháp của Dự thảo Chiến lược phải lấp. Tăng trưởng 8,18% của 6 tháng đầu năm 2026 nằm giữa hai thước sau, gần thước thứ ba hơn mọi dự báo quốc tế đã đưa ra.

Phép tính tốc độ cần thiết để tới mốc năm 2045 ở mục trên trả lời câu hỏi cần bao nhiêu phần trăm. Câu hỏi tiếp theo khó hơn: những phần trăm ấy lấy từ đâu ra. Một công trình học thuật quốc tế về chính kinh tế Việt Nam đã bóc tách câu trả lời bằng phương pháp hạch toán tăng trưởng.

Cuốn Vietnam: Navigating a Rapidly Changing Economy, do Dwight H. Perkins và Börje Ljunggren chủ biên, Trung tâm châu Á Đại học Harvard xuất bản năm 2023, dành riêng một chương giải thích trải nghiệm tăng trưởng của Việt Nam rồi dùng chính khung ấy để soi khả năng duy trì tốc độ trong hai thập niên tới. Khung hạch toán tăng trưởng tách tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước thành bốn phần: tăng vốn, tăng lực lượng lao động, tăng chất lượng lao động qua giáo dục, cùng phần còn lại gọi là năng suất nhân tố tổng hợp.

Kết quả cho cả giai đoạn 24 năm trước đại dịch, từ 1996 - 2019: tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước bình quân 6,8%/năm; trong đó, năng suất - nhân tố tổng hợp chỉ đóng góp 0,96 điểm phần trăm. Các tác giả đặt con số ấy cạnh nhóm so sánh. Ở Hàn Quốc và Trung Quốc trong những giai đoạn tăng trưởng nhanh, năng suất nhân tố tổng hợp tăng trên 2%/năm trong thời gian dài. Chính phần ấy làm nên mức tăng trưởng bình quân 8 - 9% suốt phần lớn giai đoạn đuổi kịp.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 11

Dòng dầu từ Bạch Hổ năm 1986 mở ra một chương mới của công nghiệp dầu khí Việt Nam, tạo nguồn lực quan trọng cho công cuộc Đổi mới và phát triển đất nước.

Nhóm tác giả cũng ghi nhận diễn biến theo thập niên. Trong thập niên 2000, vốn cùng tỷ lệ đầu tư tiếp tục tăng, lao động và vốn con người cũng tăng nhanh, nhưng năng suất nhân tố tổng hợp giảm sâu sau khủng hoảng 2008 tới 2009 và đóng góp rất ít vào tăng trưởng. Sang thập niên 2010, tỷ lệ đầu tư cùng tốc độ tăng vốn và tăng việc làm chậm lại rõ rệt, tăng trưởng cũng giảm theo, nhưng được đỡ một phần nhờ năng suất nhân tố tổng hợp hồi lên từ mức rất thấp của giai đoạn trước.

Ý nghĩa của phép bóc tách này với ba khoảng chênh nêu ở các mục trên là ý nghĩa về cơ cấu. Nếu năng suất nhân tố tổng hợp vẫn quanh mức dưới 1 điểm phần trăm, thì phần còn lại của tốc độ mục tiêu buộc phải lấy từ vốn và từ lao động. Mục dưới đây cho thấy một trong hai nguồn ấy đang khép lại theo lịch dân số, không theo lịch chính sách.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 12

 

Trong bốn nguồn của tăng trưởng, nguồn dễ dự báo nhất là lao động, vì phần lớn lực lượng lao động của năm 2040 đã sinh ra rồi. Nhóm tác giả cuốn sách của Đại học Harvard nêu trên đã dựng dãy số ấy.

Tốc độ tăng dân số nhóm tuổi 15 - 64 đã chậm lại từ 1,4%/năm trong thập niên 1998 - 2007 xuống 0,4%/năm trong thập niên 2007 - 2017. Dự báo cho giai đoạn 2018 - 2030 là khoảng 0,6%/năm, rồi xuống dưới 0,2%/năm cho giai đoạn 2030 - 2040. Cần lưu ý một chỗ trong chính bản gốc: mức dự báo cho giai đoạn 2018 - 2030 cao hơn mức đo được của thập niên liền trước, các tác giả không giải thích chỗ chênh ấy. Nhưng con số dân số trong tuổi lao động chưa phải con số lực lượng lao động. Vì tỷ lệ nhóm 15 - 22 tuổi còn đi học tiếp tục tăng, nhóm tác giả dự báo lực lượng lao động sẽ thôi tăng từ nay tới năm 2030, rồi có thể giảm nhẹ hoặc giảm đáng kể trong giai đoạn 2030 - 2040. Kết luận họ rút ra: đóng góp của lao động vào tăng trưởng từ đây chủ yếu đến từ chất lượng vốn con người tăng lên nhờ trình độ giáo dục, chứ không đến từ số người.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 13

Đại lộ Thăng Long với không gian rộng mở và hạ tầng hiện đại là một trong những trục giao thông tạo dấu ấn rõ nét cho diện mạo đô thị Hà Nội.

Đặt dãy số ấy cạnh hai mốc trăm năm thì bức tranh rõ hẳn. Từ nay tới năm 2030 là bốn năm cuối của giai đoạn lao động còn tăng chút ít. Từ 2030 - 2045 là 15 năm mà số người làm việc không còn là nguồn tăng trưởng, thậm chí có thể là số trừ. Trong khung hạch toán bốn phần, hai phần còn lại phải gánh: đầu tư và năng suất. Đầu tư thì có trần, vì tỷ lệ đầu tư trên tổng sản phẩm trong nước không thể tăng mãi mà không sinh nợ cùng hiệu quả vốn giảm. Còn lại năng suất nhân tố tổng hợp cùng chất lượng nguồn nhân lực. Trong hai thứ ấy, phần đo được ở mục trên là năng suất nhân tố tổng hợp với 0,96 điểm phần trăm. Chất lượng nguồn nhân lực là một cấu phần riêng trong khung hạch toán bốn phần, không nằm trong con số 0,96 và chưa được tách riêng.

Bộ dự báo này có ba giới hạn. Thứ nhất, đây là dự báo công bố năm 2023, các tác giả nói rõ họ đặt riêng ba năm đại dịch 2020 tới 2022 ra ngoài và giả định nền kinh tế trở lại đường xu thế dài hạn. Thứ hai, dãy số dân số là dự báo nhân khẩu học, có sai số, có thể đổi nếu tỷ lệ sinh hoặc dòng di cư đổi. Thứ ba, đây là công trình của học giả nước ngoài, không phải bộ số chính thức của Việt Nam, nên nó dùng để đối chiếu chứ không dùng thay số liệu của cơ quan thống kê.

Với cả ba giới hạn ấy, hướng của dãy số vẫn là hướng một chiều, trùng với điều Nghị quyết Trung ương 3 đặt ra khi yêu cầu chuyển mô hình tăng trưởng không dựa chủ yếu vào vốn, lao động cùng tài nguyên. Điểm khác là ở chỗ, dãy số này cho biết thời hạn. Cửa sổ để chuyển mô hình bằng cách tăng thêm người làm việc sẽ khép lại quanh năm 2030, tức trước mốc 2045 mười lăm năm.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 14

 

Nhà sử học kinh tế Đặng Phong dựng lại quá trình phát triển một thời trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989, xuất bản năm 2009. Ông mô tả giai đoạn trước Đổi mới bằng một hình ảnh: thực tiễn kinh tế “cứng đầu cứng cổ như con ngựa bất kham, không ngoan ngoãn theo ý người cầm cương nữa”. Ông viết tiếp rằng phải qua nhiều giằng co thì thực tiễn ấy mới từng bước thuyết phục được tư duy kinh tế chấp nhận thay đổi. Ở một chỗ khác ông viết gọn hơn: “chỉ có sức ép của cuộc sống mới từng bước hé mở ra những lối thoát”.

Bối cảnh ông Đặng Phong mô tả đã lùi xa gần bốn mươi năm. Việt Nam năm 2026 không còn ở trong cơ chế ấy. Điều còn nguyên giá trị là quan hệ về thứ tự giữa hai vế. Một chỉ tiêu chiến lược chỉ có sức nặng khi nó đo được bằng số liệu đang có và khi chỗ chưa đạt được công bố chứ không bị che.

Ba chỉ tiêu đề nghị bổ sung ở trên đều thoả điều kiện ấy. Cả ba đều có nguồn số hiện hành để đo hằng năm, đều gắn với ba khoảng chênh mà chính Dự thảo đang để hở và đều có thể sai. Một chỉ tiêu không thể sai thì cũng không thể dùng để điều hành.

Đọc theo hướng ấy thì mục “tự công bố chỗ chưa đạt” nêu ở phần trên không phải là một đề xuất về hình thức báo cáo. Nó là điều kiện để hai mốc 2030 và 2045 giữ được tính kiểm chứng suốt mười chín năm còn lại, thay vì chỉ còn là hai con số đẹp trong văn bản.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 15

 

Mốc 2045 mà tuyến bài này đang đo cách một mốc khác đúng một trăm năm. Ngày 13/10/1945, sáu tuần sau ngày Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho giới Công Thương Việt Nam. Trong thư có một câu đặt nền cho cách hiểu về quan hệ giữa Nhà nước với doanh nghiệp: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng”.

Tám mươi mốt năm sau, câu ấy vẫn là thước đo cho chính các con số vừa nêu. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký 38,06 tỷ USD là tín hiệu tốt, nhưng phần “các nhà công nghiệp, thương nghiệp” của Việt Nam mới là chỗ quyết định mốc 2045. Doanh nghiệp trong nước hiện chiếm 19,8% kim ngạch xuất khẩu, nhập siêu 31,6 tỷ USD, tỷ lệ nội địa hoá ngành điện tử mới ở mức 5 - 10%.

Ở tầm quốc tế, cùng câu hỏi ấy được đặt theo cách khác. Cặp hình ảnh chiếc Lexus với cây ô liu của Thomas L. Friedman, cùng cái tên ông đặt cho bộ luật chơi mà toàn cầu hoá áp lên các nền kinh tế, đã được Bài 7 dẫn đủ theo nguyên tác The Lexus and the Olive Tree năm 1999. Trong nguyên tác, cây ô liu là bản sắc, cội nguồn cùng cộng đồng, không phải là năng lực kinh tế. Nhưng đọc cặp hình ảnh ấy cho trường hợp Việt Nam năm 2026 thì thấy một vế thứ ba mà Friedman không bàn tới. Đây là cách vận dụng của bài chứ không phải ý của tác giả: giữ được bản sắc trong một nền kinh tế mở còn phụ thuộc vào việc giữ được phần chủ động về kinh tế, đo bằng tỷ lệ nội địa hóa, phần giá trị ở lại trong nước và quyền quyết định trong chuỗi cung ứng... 

Chủ đề tham luận mà Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng trình bày tại Đại hội XIV của Đảng đã gộp cả hai vế ấy vào một câu, dẫn trọn ở Bài 9: sáu định ngữ của chủ đề mở bằng tự chủ rồi khép lại bằng vế hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tự chủ đứng trước, hội nhập đứng sau. Trật tự ấy không phải ngẫu nhiên. Bốn năm tới mốc 2030, sẽ cho biết nó được giữ tới đâu.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 16

 

Bức thư năm 1945 ở mục trên không đứng một mình. Nó mở đầu một mạch mong mỏi kéo dài suốt 81 năm, mà những người trong mạch ấy đều làm đúng công việc hôm nay ngành Công Thương đang làm.

Trước đó mười bảy năm. Năm 1928, tại Huế, Quan Hải tùng thư của nhà Đào Duy Anh in quyển thứ nhất cuốn Kinh tế học tiểu sử, do Lê Ngôn dịch bản luận về lịch sử kinh tế học của Ẩm Băng, tức Lương Khải Siêu. Lời dịch giả mở đầu quyển một viết: “Những phong trào cải cách xã hội rung động cả thế giới hiện thời đều là ở kinh tế mà ra cả. Khoa học kinh tế là một khoa tối thịnh ở đời nay, thế mà nước ta hình như không mấy ai biết tới". Dịch giả nói rõ việc mình làm chỉ là phiên dịch để giới thiệu cùng độc giả, mong rồi đây sẽ nhiều người để tâm nghiên cứu khoa học ấy. 

Chín mươi tám năm sau câu ấy, nước ta có 17 hiệp định thương mại tự do đang hiệu lực, thương mại hai chiều 770,4 tỷ USD sau tám tháng cùng một dự thảo chiến lược ngành đang được đo từng chỉ tiêu. Quãng đường giữa hai mốc là khẩu hiệu không đo được, còn câu năm 1928 thì đo được, vì nó ghi rõ điểm xuất phát.

Người đầu tiên. Ngày 2/9/1945, cùng ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cử ông Nguyễn Mạnh Hà, khi ấy 32 tuổi, giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế Quốc dân. Đầu tháng 1/1946, ông chuyển sang làm Thứ trưởng cùng Bộ. Chi tiết đáng nhớ là ngành kinh tế của nước Việt Nam mới có bộ trưởng ngay từ ngày đầu tiên, cùng ngày với ngày lập nước, chứ không phải sau đó.

Người giữ ngành qua ba mươi năm. Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, luật sư Phan Anh, người vừa rời cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế rồi Bộ trưởng Bộ Công Thương. Từ năm 1947 - 1976, ông lần lượt đứng đầu Bộ Kinh tế, Bộ Công Thương, Bộ Thương nghiệp cùng Bộ Ngoại thương. Ba mươi năm ấy trùng đúng với quãng đất nước vừa kháng chiến vừa dựng nền kinh tế từ con số gần như không có gì.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 17

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 18

 

Bộ áo dứa nói trong thư là áo dệt từ sợi dứa, thứ nguyên liệu tìm được tại chỗ khi không còn nguồn bông nhập. Nghĩa là câu chuyện của bức thư chính là câu chuyện nội địa hoá nguyên liệu đầu vào, đúng bài toán được đo suốt mười kỳ, chỉ khác quy mô.

Ba chữ cho mau, cho tốt, cho nhiều trong thư là ba tiêu chí đặt cạnh nhau chứ không thay nhau. Đọc bằng ngôn ngữ hôm nay thì đó là tốc độ, chất lượng cùng sản lượng, ba thứ mà mọi hệ chỉ tiêu công nghiệp đều phải cân. Còn vế để giải quyết vấn đề mặc cho đồng bào đặt mục đích cuối cùng ở người dùng, không ở con số ngành.

Mục lục số ấy cho biết tờ báo kinh tế đầu tiên của ngành quan tâm những gì: Tiến mạnh trên chiến tuyến sản xuất; Đồng bào Nam bộ thi đua sản xuất và tự túc; Vài ý kiến về vấn đề tiểu công nghệ hoá; Vì đâu Mỹ đẻ ra kế hoạch Mác-son; Đâu đã bài trừ xa xỉ phẩm trước; Giảm kim lượng; cùng ba mục thường kỳ là Kinh tế đó đây, Nói chuyện kinh tế và Luật lệ kinh tế hiện hành.

Đọc danh mục ấy năm 2026 thì thấy một điều đáng nói. Giữa kháng chiến, in trên giấy dó, tờ báo của ngành đã đặt cạnh nhau ba thứ: sản xuất trong nước, công nghiệp hoá ở quy mô nhỏ, nhất là tiểu công nghệ, cùng một phân tích về chính sách kinh tế của nước lớn. Ba trục ấy đúng là ba trục của tuyến bài này. Cách đặt vấn đề không đổi, chỉ có quy mô đổi.

Sau Đại hội III năm 1960, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo công tác khoa học kỹ thuật của đất nước trên cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước, về sau là Phó Thủ tướng phụ trách lĩnh vực này. Trong tác phẩm Thanh niên với cách mạng khoa học kỹ thuật, Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 1981, ông viết một câu được dẫn lại qua công trình nghiên cứu của Trường Chính trị Lê Duẩn, chưa đối chiếu được với bản in gốc: “Với vị trí then chốt của mình, cách mạng khoa học - kỹ thuật ở nước ta có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là tạo nên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và công cuộc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”.

Đại tướng gọi việc ấy là làm biến đổi tận gốc rễ toàn bộ lực lượng sản xuất. Ông đặt đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật vào vị trí nhân tố quyết định. Bốn mươi lăm năm sau, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cùng chuyển đổi số làm động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Hai văn bản cách nhau bốn thập kỷ cùng đặt khoa học và công nghệ vào vị trí động lực của lực lượng sản xuất.

Năm 1945, nước ta chưa có công nghiệp, thư gửi giới Công Thương đã nói tới nền kinh tế quốc dân thịnh vượng. Năm 1948 chưa có nhà máy dệt, thư gửi ngành Tơ sợi đã đòi cho mau, cho tốt, cho nhiều. Năm 1981 chưa có máy tính, tác phẩm về khoa học kỹ thuật đã bàn chuyện biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất. Tính đến ngày 15/7/2026, tổng công suất đặt của hệ thống điện là 93,4 GW; sau tám tháng năm 2026 thương mại hai chiều đạt 770,4 tỷ USD; số hiệp định thương mại tự do đang hiệu lực là 17. Điều kiện đã khác hẳn. Nếu có gì phải giữ lại từ những người đi trước thì đó là cách đặt mục tiêu cao hơn điều kiện, chứ không phải ngược lại.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 19

 

Mười chín năm tới mốc năm 2045 dễ nói mà khó đo. Riêng ngành năng lượng có một đường cong đã được ghi thành số trong văn bản quy hoạch, nên kiểm chứng được từng chặng.

Chính bản Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia mà Bài 9 đã dẫn, tức Quyết định số 363/QĐ-BCT ngày 28/02/2026, còn cho một đường cong dài hơn. Theo số dẫn lại trong báo cáo Nghị quyết số 70 tháng 8/2026, Việt Nam cần nhập khẩu khoảng 73 tới 84 triệu tấn than vào năm 2030, khoảng 71 tới 74 triệu tấn vào năm 2035, sau đó giảm dần và còn khoảng 10 tới 13 triệu tấn vào năm 2045. Đến năm 2050, dự kiến Việt Nam không nhập khẩu than.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 20

Nguồn: dự báo tại Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia, Quyết định số 363/QĐ-BCT ngày 28/02/2026, số dẫn lại trong báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW tháng 8/2026. Cột so sánh do toà soạn tính, lấy cận dưới so với cận dưới và cận trên so với cận trên, làm tròn tới phần trăm.

Đường cong ấy đáng đọc kỹ vì ba lẽ. Thứ nhất, nó không đi lên rồi dừng, mà lên tới đỉnh quanh mốc 2030 rồi rơi hơn 8/10 trong mười lăm năm. Thứ hai, mức giảm ấy không đến từ việc giảm dùng năng lượng, vì nhu cầu điện vẫn tăng theo kịch bản của Quy hoạch điện, mà đến từ việc thay nguồn. Thứ ba, đây là một trong ít chỉ tiêu của mốc 2045 có thể đối chiếu hằng năm bằng số liệu hải quan, không cần chờ tổng kết.

Chi phí của đoạn đường ấy cũng đã có con số. Cùng báo cáo ghi trong quá trình hoàn thiện Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, nhu cầu vốn đầu tư điện lực cho giai đoạn 2026 tới 2030 từng được ước tính khoảng 136 tỷ USD, tương đương bình quân khoảng 27 tỷ USD một năm. Đặt cạnh mức vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký 7 tháng đầu năm 2026 mà mục trên đã dẫn thì thấy quy mô của việc phải làm: riêng một ngành điện, trong một năm, cần lượng vốn khoảng 7/10 tổng vốn ngoại đăng ký vào cả nền kinh tế trong 8 tháng.

Rủi ro của đoạn đường ấy thì báo cáo nêu bằng số. Tổng công suất các nguồn điện chưa bao gồm nguồn năng lượng tái tạo có khả năng chậm tiến độ giai đoạn đến năm 2030 là khoảng 44.900 MW, gồm điện khí, thủy điện lớn, thủy điện tích năng cùng nhập khẩu điện. Con số ấy lớn hơn một nửa công suất đặt của toàn hệ thống hiện nay. Báo cáo cũng ghi tiến độ các nguồn năng lượng tái tạo còn nhiều bất định và tiềm ẩn rủi ro chậm.

Đây là chỗ mà cách điều hành nêu ở mục trên, tức tự công bố chỗ chưa đạt, cho thấy giá trị thực. Một khoảng chậm 44.900 MW được ghi vào báo cáo gửi cơ quan tham mưu của Trung ương thì nó trở thành việc phải xử lý, chứ không còn là rủi ro ẩn. Bài học mà chính báo cáo rút ra cũng đi đúng hướng ấy: phải gắn tiến độ nguồn điện với tiến độ lưới điện và hạ tầng nhiên liệu, hoàn thiện thể chế phải đồng bộ với quy hoạch cùng cơ chế thị trường.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 21

 

Nghị quyết Đại hội XIV đặt mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước bình quân từ 10% mỗi năm trong giai đoạn 2026 tới 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 28% GDP và kinh tế số khoảng 30% vào năm 2030. Hai mốc trăm năm mà những con số ấy hướng tới không phải là hai câu khẩu hiệu, mà là hai hạn nộp bài có ngày tháng cụ thể: năm 2030 còn cách hôm nay 4 năm, năm 2045 còn 19 năm.

Đặt cái thước ấy lên số thật thì thấy ngay khoảng cách phải bù. GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, mức cao nhất kể từ năm 2011, nhưng hụt 1,52 điểm phần trăm so với chỉ tiêu đặt cho 6 tháng; để cả năm chạm hai con số, 6 tháng cuối năm phải đạt 11,7%. Chính con số 11,7% ấy được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gọi là “thách thức rất lớn”, kèm theo là một chỉ đạo không lùi mục tiêu, đòi “tháo gỡ ngay các điểm nghẽn” để giữ mức tăng trưởng tối thiểu 10% cùng với ổn định vĩ mô. Bài 1 của tuyến đã dẫn nguyên văn chỉ đạo ấy. Nhịp ấy không phải là chuyện của riêng năm 2026: nếu 10% mỗi năm là mức bình quân của cả giai đoạn, thì mỗi năm hụt một điểm là một điểm phải gánh sang những năm sau. Bốn năm là quỹ thời gian rất mỏng để gánh.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 22

 

Đó là lý do vì sao một bảng chỉ tiêu chính xác không phải là chuyện kỹ thuật. Ngành Công Thương giữ ba trong số những đòn bẩy nặng nhất của nhịp tăng trưởng ấy là công nghiệp, năng lượng và thương mại. Tám tháng vừa qua cho thấy cả ba đòn bẩy đều đang chuyển động: công nghiệp trở lại vai đầu tàu với chỉ số sản xuất tăng 11,6%, sản lượng điện đạt 235,9 tỷ kWh và tăng 9,4%, kim ngạch xuất khẩu 374,0 tỷ USD chạy trên dải chỉ tiêu được giao. Cũng tám tháng ấy cho thấy phần khó nhất chưa được giải: cán cân thương mại đã đổi dấu, tỷ trọng của doanh nghiệp trong nước trong xuất khẩu tiếp tục co lại, còn một phần đáng kể mức tăng bán lẻ đến từ giá chứ không từ lượng.

Tăng tốc thì đã tăng được. Việc còn lại, cũng là việc khó hơn, là làm cho tốc độ ấy có cơ cấu đỡ phía dưới.

Cách trình bày này là một phương pháp hoạch định chứ không phải một cách kể chuyện. Mỗi thời được xác định bằng ba yếu tố: điều kiện bên trong, điều kiện bên ngoài và cách bố trí lực lượng phù hợp với hai điều kiện kia. Không thời nào lặp lại cách của thời trước, nhưng cả ba đều theo cùng một quy tắc là đọc thế rồi mới định kế.

Đặt vào một chiến lược tới năm 2045, quy tắc ấy có một hệ quả thực tế đối với cách viết chỉ tiêu. Chỉ tiêu về kết quả, thí dụ mức thu nhập bình quân hay tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo, thì đặt cho cả chặng được, vì chúng đo cái đích. Chỉ tiêu về cách làm, thí dụ tỷ lệ vốn đầu tư từ một nguồn cụ thể hay công nghệ cụ thể phải chiếm bao nhiêu phần, thì đặt cứng cho mười chín năm là tự trói, vì thế của năm 2040 chưa ai biết. Mục về ba khoảng chênh của Dự thảo ở trên đã chạm vào đúng ranh giới này.

Cách đọc dưới đây không phải điều Nguyễn Trãi bàn tới khi viết bài cáo sau chiến thắng. Hai chữ “đổi mới” đứng cạnh hai chữ “vững bền” trong cùng một cặp câu là điều đáng chú ý. Chúng không đối nhau mà nối nhau: giữ được là điều kiện để đổi, còn đổi được mới giữ được lâu. Đó cũng là quan hệ giữa hai mốc 2030 và 2045. Mốc 2030 là mốc của việc giữ nhịp, mốc 2045 là mốc của việc đổi mô hình. Đặt riêng từng mốc thì mỗi mốc chỉ là một con số. Đặt cạnh nhau theo cách Nguyễn Trãi đặt thì mốc trước là điều kiện của mốc sau.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 23

 

Khoảng chênh công suất nguồn điện bàn ở trên được đo trên hai văn bản quy hoạch. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Công Thương gửi Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tháng 8/2026, bổ sung mốc thực địa gần nhất để đối chiếu.

Tính đến ngày 15/7/2026 tổng công suất đặt của hệ thống là 93.435 MW, tức 93,4 GW. Đặt cạnh chỉ tiêu 130 GW năm 2030 của Dự thảo Chiến lược thì phần còn phải dựng trong bốn năm rưỡi là khoảng 36,6 GW, bình quân hơn 8 GW mỗi năm. Đặt cạnh dải 183,3 tới 236,4 GW của Quy hoạch điện VIII điều chỉnh thì phần còn phải dựng là 89,9 tới 143,0 GW, tức mỗi năm phải thêm 20 tới 32 GW. Hai yêu cầu ấy khác nhau tới gần bốn lần. Một lưu ý về phạm vi đo: mốc 93.435 MW đã tính cả điện mặt trời áp mái, còn hai chỉ tiêu quy hoạch thì bài chưa xác minh được có tính phần ấy hay không, nên các hiệu số trên là phép trừ thô để thấy độ lớn chứ chưa phải phép đo chuẩn hoá. Đó là cách đo trực tiếp nhất cho khoảng chênh vừa nêu.

Báo cáo cũng cung cấp bộ số nền cho các chỉ tiêu năng lượng của Dự thảo. Năm 2025 tổng cung năng lượng sơ cấp ước đạt 118,6 triệu tấn quy dầu, tăng 10,4% so với năm 2024. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp năm 2026 ước khoảng 18,5%. Đây chính là loại cột giá trị nền mà công văn góp ý của Báo Công Thương đề nghị bổ sung vào hệ chỉ tiêu, nay đã có nguồn để điền.

Một dãy số nữa của báo cáo nói về hướng đi dài hạn. Tỷ trọng điện trong tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng tăng liên tục, từ 18,3% năm 2010 lên 28,1% năm 2020 và 30,5% năm 2024. Cùng kỳ, tỷ trọng than trong tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng tăng từ 18,9% năm 2010 lên 24,7% năm 2020 rồi giảm còn 23,3% năm 2024. Hai dãy ấy cho thấy quá trình điện hoá nền kinh tế đi đều và không đảo chiều, nên mọi chỉ tiêu đặt cho mốc 2045 đều phải giả định nhu cầu điện tiếp tục tăng nhanh hơn nhu cầu năng lượng nói chung.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 24

 

Hai mốc 2030 và 2045 có thêm một mốc ở giữa. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV chia đường đi thành ba chặng: đến năm 2030 “hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới”; đến năm 2035 “hoàn thành cơ bản quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập”; đến năm 2045 “Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Mốc 2035 là mốc mới so với cách chia hai chặng quen thuộc. Nó làm đổi phép tính của bài. Bốn năm tới mốc 2030 không phải để về đích mà để dựng xong nền; năm năm tiếp theo mới là chặng chuyển đổi mô hình; mười năm cuối là chặng thu hoạch. Với ngành Công Thương, điều đó có nghĩa các chỉ tiêu sản lượng của hôm nay phải sớm được bổ sung bằng chỉ tiêu chất lượng, vì chặng 2030 tới 2035 đo bằng mô hình chứ không đo bằng lượng.

Chương trình số 33-Ctr/TW của Bộ Chính trị xác định 40 chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả đổi mới mô hình phát triển đúng theo ba mốc 2030, 2035 và 2045.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 25

 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm xác định mục tiêu chiến lược của cả chặng bằng một câu gộp cả đích lẫn động lực tinh thần: đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; đồng thời “khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”.

Năm chữ tự trong một vế câu là điều đáng chú ý với một tuyến bài về công nghiệp và thương mại. Tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào. Chúng không phải năm cách nói một điều, mà là năm điều kiện khác nhau: có năng lực thật, tin vào năng lực ấy, không trông chờ bên ngoài, chịu được sức ép, thấy đáng để làm.

Về con đường, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ phương tiện: với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030 cùng nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, “chúng ta phải coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ chốt”. Đây chính là chỗ mà 45 năm trước Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi là làm biến đổi tận gốc rễ lực lượng sản xuất, nay được đặt thành đường lối có nguồn lực đi kèm.

Câu hỏi thoát bẫy thu nhập trung bình không phải câu hỏi trừu tượng. Nó có tiền lệ đo được.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 26

 

Bảng này nói một điều mà không nên né: phần lớn các nước ở vị trí Việt Nam đang đứng đã dừng lại ở đó. Đó là lý do vì sao chín mục trên của bài đo kỹ từng khoảng chênh, chứ không phải vì bài muốn bắt lỗi một bản dự thảo.

Nhưng bảng ấy cũng nói điều thứ hai. Các nước dừng lại đều dừng vì một nguyên nhân chung là năng suất không lên trong khi lao động cùng vốn cạn dần. Nguyên nhân ấy đã được nhận diện, đã có tên. Việt Nam bước vào chặng này với nhận diện ấy trong tay chứ không phải bước vào trong bóng tối. Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW cùng Nghị quyết Đại hội XIV đều nhắm đúng vào biến số năng suất. Đó là khác biệt về điều kiện, không phải khác biệt về lời hứa.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 27

 

Một, tổ chức quốc tế đánh giá mục tiêu nằm trong tầm. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tính rằng để đạt thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần duy trì tăng trưởng từ 6% trở lên liên tục trong hai mươi năm, đồng thời nhận định rằng căn cứ vào thành tích quá khứ thì điều đó nằm trong tầm với. Đây là một tổ chức không có nghĩa vụ phải nói điều dễ nghe. Mức 8,18% của 6 tháng đầu năm 2026 nằm trên ngưỡng 6% ấy. Nhưng phải đọc con số này bằng hai thước cùng lúc, đúng như mục trên đã nêu: so với ngưỡng dài hạn của UNDP thì nó dư, còn so với mục tiêu 6 tháng của chính năm 2026 thì nó vẫn hụt 1,52 điểm phần trăm. Ngưỡng 6% nói khả năng đi hết chặng hai mươi năm, không nói năm nay đã đạt kế hoạch.

Hai, ba mặt Việt Nam đang dẫn đầu khu vực đều là ba mặt cần cho chặng tới. Ba mặt ấy đã dẫn ở mục về mốc 2045 phía trên, gồm sản lượng thực bình quân đầu người, tốc độ tăng năng suất lao động cùng tốc độ tăng xuất khẩu hàng chế tạo, đều do UNDP đo trên nhóm nước khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Điều đáng nói ở đây là cả ba đều đo tốc độ, tức đo đà chứ không đo mức. Một nền kinh tế còn giữ được đà ở cả ba mặt thì chưa phải nền kinh tế đã hết dư địa.

Ba, phần hạ tầng nặng nhất đã dựng xong hoặc đã khởi động. Cần tách rõ hai mức. Thứ đã dựng xong là hệ thống điện 93,4 GW tính tới ngày 15/7/2026, đứng đầu Đông Nam Á. Thứ mới khởi động là chuỗi dự án khí điện Lô B Ô Môn gần 12 tỷ USD với trữ lượng khí thu hồi khoảng 112 tỷ m3, hiện mới ký hợp đồng tín dụng cho Nhà máy Ô Môn IV dự kiến hoàn thành năm 2028, chưa phát điện. Thứ đang vào là vốn đầu tư nước ngoài đăng ký 38,06 tỷ USD tính tới ngày 31/7/2026, tăng 58,0%, mà vốn đăng ký khác vốn giải ngân, phần thực hiện mới 15,20 tỷ USD. Ba mức ấy khác nhau về độ chắc, nhưng cùng nói một điều: những thứ phải mất mười năm để dựng đều đã bắt đầu từ đầu chặng chứ không phải cuối chặng.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 28

 

Giới nghiên cứu chính sách công nghiệp đương đại có một khái niệm khớp với cách đặt hai mốc trăm năm. Bài 2 của tuyến này đã dẫn quan niệm của Mariana Mazzucato về chính sách định hướng theo sứ mệnh. Ở đây chỉ bổ sung một vế mà mốc 2045 làm nổi bật.

Trong ấn phẩm chính sách số 2 của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc tháng 3/2023, Mariana Mazzucato cùng Rainer Kattel thuộc Viện Đổi mới và Mục đích công, Đại học College London, lưu ý rằng chiến lược công nghiệp hiệu quả không thể dựng lên trong một sớm một chiều, vì nó đòi hỏi những năng lực dài hạn như xây dựng đồng thuận quanh sứ mệnh, phát triển kỹ năng của đội ngũ công chức, đầu tư vào hệ thống sản xuất có sức chống chịu (tạm dịch).

Vế ấy giải thích vì sao khoảng cách 19 năm là một điều kiện chứ không phải một sự chậm trễ. Hướng đủ rõ để doanh nghiệp đặt kỳ vọng đầu tư dài hạn. Chỉ tiêu đủ cụ thể để đo từng năm, như mười kỳ vừa qua đã đo. Và quãng thời gian đủ dài để ba năng lực kể trên kịp hình thành.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 29

 

Mười kỳ của tuyến bài này đo một ngành ở một năm bản lề. Kết quả đo cho một bức tranh hai lớp mà cả hai lớp đều thật.

Lớp thứ nhất là quy mô cùng tốc độ. Ở lớp này ngành Công Thương đã làm được điều mà 30 năm trước chưa ai dám đặt lên giấy. Lớp thứ hai là cơ cấu. Ở lớp này còn nguyên phần việc khó. Hai lớp ấy không phủ định nhau. Lớp thứ nhất chính là thứ tạo ra dư địa để làm lớp thứ hai.

Bốn năm tới mốc 2030 là quãng dựng nền. Năm năm tiếp theo tới mốc 2035 là quãng chuyển mô hình. Mười năm cuối tới mốc 2045 là quãng thu hoạch. Ba chặng ấy do Nghị quyết Trung ương 3 chia. Cách chia ấy cho thấy người hoạch định đã tính tới việc mô hình cũ không chạy hết đường.

Ngành Công Thương giữ ba đòn bẩy nặng nhất của cả ba chặng là công nghiệp, năng lượng cùng thương mại. Tám tháng đầu năm 2026 cho thấy cả ba đòn bẩy đều đang chuyển động, đồng thời cho thấy ngành biết rõ chỗ nào chưa đạt, vì chính ngành công bố những chỗ ấy trước khi ai đó chỉ ra.

Năm 1948, trên tờ tập san in thạch bản giữa rừng, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong ngành làm được ba điều cho mau, cho tốt, cho nhiều khi trong tay ngành chưa có một nhà máy dệt nào. Bảy mươi tám năm sau, ngành có 93,4 GW điện, 770,4 tỷ USD kim ngạch hai chiều cùng 17 hiệp định thương mại tự do đang hiệu lực. Ba chữ ấy vẫn còn nguyên giá trị, chỉ khác là lần này có đủ điều kiện để làm cả ba cùng lúc.

Đó là lý do để tin. Không phải vì con đường dễ, mà vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử ngành, mục tiêu đặt ra và điều kiện có trong tay đứng gần nhau đến thế.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 10: Từ hôm nay tới hai mốc trăm năm - 30

Chi phí quy dẫn của điện theo công suất tích luỹ, so sánh nguồn tái tạo với than và hạt nhân. Nguồn: Wikimedia Commons

Có thể bạn quan tâm

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 8: Cắt giảm để chạy nhanh hơn

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026 - Bài 8: Cắt giảm để chạy nhanh hơn

491,3 tỷ đồng chi phí tuân thủ, theo ước tính của chính cơ quan quản lý, đã được cắt khỏi vai doanh nghiệp chỉ trong nửa đầu năm 2026, cùng với 367/658 điều kiện kinh doanh bị bãi bỏ, 111 thủ tục hành chính bị xoá và 177 thủ tục được đơn giản hoá. Nhưng con số cắt giảm chỉ là nửa đầu của câu chuyện: khi Bộ trưởng yêu cầu chuyển từ tư duy “quản lý” hành chính sang “quản trị” hiện đại, thước đo nào sẽ cho biết bộ máy đã thực sự thay đổi cách vận hành?