Công Thương Việt Nam ngày đầu lập quốc - Bài 5: Từ tiếp quản Thủ đô đến ngày toàn thắng

Giai đoạn 1954-1975 ngành Công Thương bước vào chặng đường dựng lại sản xuất, mở rộng thương nghiệp, xây dựng nền tảng công nghiệp và bảo vệ hậu phương kinh tế cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

Đêm 9/10/1954, trong buồng biến thế điện của Nhà máy đèn Bờ Hồ, máy vẫn chạy ầm ầm. Người công nhân say sưa làm việc mặc những giọt dầu máy bắn lấm tấm vào áo quần, mặt mũi. Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 25/10/1954 ghi lại:

"Anh sung sướng trong giờ phút lịch sử chung của dân tộc và riêng của đời anh: là chủ nhân của nhà máy, là ngọn đèn sáng rực lòng Hà Nội, của đêm giao thừa đón ngày mai bước vào thời đại mới, đêm thủ đô giải phóng và hoà bình".

Trong trang báo đương thời, niềm vui giải phóng hiện lên ngay giữa ca làm việc của người thợ điện. Để giữ ánh sáng đó, công nhân đã đấu tranh bảo vệ máy móc, thiết bị và duy trì hoạt động nhà máy qua những ngày chuyển giao. Cùng với dòng điện, thành phố còn cần nguồn hàng, những cơ sở sản xuất tiếp tục hoạt động và người dân yên tâm làm ăn.

Ngày 21/12/1954, 2 tháng sau khi tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ đã đến thăm Nhà máy đèn Bờ Hồ. Ngày 12/10/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1594/QĐ-TTg lấy ngày 21/12 hằng năm trở thành ngày truyền thống ngành Điện lực Việt Nam.

Ngày 21/12/1954, 2 tháng sau khi tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ đã đến thăm Nhà máy đèn Bờ Hồ. Ngày 12/10/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1594/QĐ-TTg lấy ngày 21/12 hằng năm trở thành ngày truyền thống ngành Điện lực Việt Nam.

Chính sách công bố trước ngày về

Ngày 19/7/1954, Hội nghị Genève lúc bấy giờ đang trong những ngày đàm phán cuối cùng, Báo Nhân Dân đăng bài "Chính sách đối với các thành thị mới giải phóng", công bố những nguyên tắc về bảo vệ tài sản, tiếp nhận cơ sở sản xuất và ổn định đời sống đô thị.

Điều thứ nhất quy định bảo hộ tính mệnh, tài sản của toàn thể nhân dân trong thành phố: "Chính phủ quyết bảo hộ tính mệnh, tài sản cho toàn thể nhân dân trong thành phố. Toàn thể nhân dân hãy giữ vững trật tự, ai nấy yên ổn làm ăn".

Bài báo cũng nêu rõ những hành vi phá rối trật tự, phá hoại của công, cướp bóc hoặc xâm phạm tính mệnh, tài sản của người khác đều sẽ bị nghiêm trị.

Điều thứ hai mang tên Bảo hộ công thương nghiệp, quy định: "Tất cả các nhà máy, cửa hiệu, ngân hàng, kho tàng của tư nhân đều được bảo hộ". Người sản xuất, người buôn bán có cơ sở để yên tâm về tài sản và công việc làm ăn trước ngày chuyển giao chính quyền.

Cùng số báo ngày 19/7/1954, Báo Nhân Dân đăng bài "Mười điều kỷ luật của bộ đội, cán bộ và nhân viên công tác khi vào thành phố mới giải phóng" xác định trách nhiệm của lực lượng tiếp quản. Điều 2 quy định: "Bộ đội, cán bộ và nhân viên công tác vào thành phố mới giải phóng, đối với tất cả những tài sản và kiến trúc công cộng như công sở, xí nghiệp, kho tàng, phương tiện giao thông vận tải, những di tích lịch sử, văn hóa và những nơi danh thắng, đều phải coi là tài sản của Nhà nước và của nhân dân, cần phải bảo vệ".

Trừ những vị trí phòng ngự nguy hiểm mà Ủy ban quân chính ra lệnh phá, không ai được tự ý phá hoại. Các xí nghiệp, kho tàng, công sở, phương tiện giao thông và di tích lịch sử đều phải được bảo vệ. Những cơ sở vật chất còn phục vụ hoạt động của thành phố phải được giữ nguyên để bộ máy mới tiếp nhận, tổ chức lại sản xuất, đời sống sau ngày giải phóng.

Ngày 9/8/1954, Báo Nhân Dân đăng bài "Thực hiện chính sách đối với những thành thị mới giải phóng, kiên quyết bảo hộ công thương nghiệp" nhận định các thành thị ở đồng bằng Bắc Bộ có dân cư đông đúc, hoạt động công thương nghiệp tương đối phát triển.

Bài báo nêu một số cơ sở:

Công Thương Việt Nam ngày đầu lập quốc - Bài 5: Từ tiếp quản Thủ đô đến ngày toàn thắng - 2

Những địa phương giải phóng trước Hà Nội đã bắt tay vào phục hồi sản xuất. Theo Báo Nhân Dân ngày 18/8/1954, tại Phát Diệm, ngày 18/7 có 642 công nhân thuộc các xí nghiệp và ngành nghề họp để nghiên cứu chính sách của Chính phủ, bàn nhiệm vụ phục hồi sản xuất, xây dựng lại địa phương.

Trong số người dự họp có công nhân nhà máy điện, thợ làm giày, làm mũ, người làm vận tải ô tô và khuân vác. Chủ tịch Ủy ban quân chính cùng đại biểu các cơ quan, đoàn thể cũng tham dự. Cuộc họp đặt những người trực tiếp sản xuất, vận chuyển hàng hóa vào công việc tổ chức lại đời sống kinh tế sau giải phóng.

Báo Nhân Dân ngày 31/8/1954 tiếp tục phản ánh tình hình phục hồi công thương nghiệp ở Liên khu 3 và khu vực Tả ngạn. Theo đó, cuối tháng 6 và đầu tháng 7, quân Pháp rút khỏi nhiều địa phương ở nam đồng bằng Bắc Bộ. Sau ngày giải phóng, hoạt động sản xuất, buôn bán tại một số nơi bị đình đốn, hàng hóa và giá cả xáo trộn.

Thực tế đó đặt ra nhiều yêu cầu đối với công tác tiếp quản, bảo về tài sản, từng bước khôi phục tài sản, duy trì nguồn hàng và sớm ổn định thị trường. Đây cũng là những phần việc gắn trực tiếp với ngành Công Thương trong quá trình chuẩn bị tiếp quản Hà Nội.

Nhà máy chạy, hàng hóa lưu thông

Về sau, năm 2014, trong một dịp chia sẻ nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, ông Trịnh Trọng Thực, người trực tiếp tham gia tiếp quản Nhà máy đèn Bờ Hồ và được phân công phụ trách kỹ thuật vẫn nhớ rõ buổi sáng 10/10/1954.

Ông kể, bên phải nhà máy là chiếc xe cam nhông của quân Pháp, không cờ. Phía bên kia, đoàn quân mang cờ đỏ sao vàng đi từ phố Huế qua Tràng Tiền. Người dân đứng kín hai bên đường, tay cầm cờ hoa và hô vang những khẩu hiệu: "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm", "Việt Nam dân chủ cộng hòa muôn năm"…

Sáng 10/10/1954, các cánh quân của Đại đoàn Quân Tiên Phong từ các cửa ô tiến vào tiếp quản Thủ đô được giải phóng trong rừng cờ hoa đón chào của 20 vạn người dân Hà Nội.

Sáng 10/10/1954, các cánh quân của Đại đoàn Quân Tiên Phong từ các cửa ô tiến vào tiếp quản Thủ đô được giải phóng trong rừng cờ hoa đón chào của 20 vạn người dân Hà Nội.

Tại Nhà máy đèn Bờ Hồ, Ban tiếp quản chính thức ra mắt, ông Trịnh Trọng Thực được giao phụ trách kỹ thuật. Yêu cầu trước mắt nằm ngay trong hệ thống điện đang vận hành, nhà máy có nhà chia điện và trạm phát điện một chiều 600V cấp cho xe điện. Trên các tuyến phố Hà Nội có hơn 70 trạm biến áp, thiết bị phần lớn đã cũ, thường xuyên hỏng hóc và trục trặc do bảo trì không đều.
 
Cán bộ và công nhân nhà máy chia nhau từng phần việc, người kéo dây, người treo công tơ, người thay bóng, người sửa chữa thiết bị. Người nhiều kinh nghiệm hướng dẫn người ít kinh nghiệm, công việc kéo dài cả ngày lẫn đêm. Dòng điện phải được duy trì để phục vụ công sở, nhà máy và sinh hoạt của người dân.

Báo Nhân Dân ngày 21/10/1954 đăng bài "Bảo vệ nhà máy điện của chúng ta", nhắc lại cuộc đấu tranh của công nhân để giữ máy móc, giữ than và duy trì hoạt động Nhà máy điện Hà Nội. Giữ được máy mới là bước đầu, sau tiếp quản là công việc vận hành, sửa chữa và tổ chức sản xuất dưới bộ máy quản lý mới.

Cùng số báo ngày 21/10/1945, bài "Mậu dịch quốc doanh" cho biết, Công ty Lương thực Hà Nội đặt tại số 80 phố Mã Mây, bán thóc, gạo, muối và thịt. Bài báo còn ghi lại niềm vui của bà con Hoa kiều khi thấy vải, sợi từ Trung Quốc mới sang.

Người dân đến mua sắm tại các cửa hàng mậu dịch quốc doanh sau khi Thủ đô được giải phóng, năm 1954.

Người dân đến mua sắm tại các cửa hàng mậu dịch quốc doanh sau khi Thủ đô được giải phóng, năm 1954.

Địa chỉ 80 Mã Mây xuất hiện 11 ngày sau ngày tiếp quản song mạng lưới mậu dịch đứng phía sau đã được gây dựng trong kháng chiến.

Trước đó, ngày 14/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 22/SL thành lập Sở Mậu dịch thuộc Bộ Công Thương, thay Cục Ngoại thương và Sở Nội thương. Giao Sở tổ chức buôn bán trong nước, trao đổi với nước ngoài và đấu tranh mậu dịch với địch. Sau khi thành lập, hệ thống mậu dịch quốc doanh từng bước hình thành tại các liên khu và tỉnh.

Phương thức hoạt động thời kỳ đầu cũng khác với hình ảnh những cửa hàng mậu dịch phổ biến về sau. Theo "Lịch sử Công Thương Việt Nam 1945-2010", phương châm khi đó là "nắm hàng chính, nắm thị trường chính, nắm bán buôn là chính". Ngoài gạo, muối và chất đốt, Sở Mậu dịch chủ yếu cung ứng cho các đơn vị nhà nước và bán buôn qua thương nhân để đưa hàng tới người tiêu dùng.

Bởi vậy, 80 Mã Mây không phải một cửa hàng xuất hiện đột ngột sau ngày giải phóng. Địa chỉ này nằm trong mạng lưới thu mua, phân phối đã hình thành trong kháng chiến và đang chuyển sang phục vụ những đô thị vừa được tiếp quản. Một phần của mạng lưới ấy hiện rõ ở Tuyên Quang.

Một mắt xích của mạng lưới này có thể nhìn thấy ở Tuyên Quang. Báo Nhân Dân ngày 24/10/1954 đưa tin về hoạt động thu mua trong tháng 9, mậu dịch tỉnh đã thu mua ngót 10.000 kg sa nhân, trị giá 70 triệu đồng ngân hàng. Riêng 2 huyện Chiêm Hóa và Na Hang thu trên 7.500 kg, trị giá tương đương 300 tấn thóc. Khối lượng củi thu mua gần 8.200 thước khối, giá trị tương đương 300 tấn thóc.

Công Thương Việt Nam ngày đầu lập quốc - Bài 5: Từ tiếp quản Thủ đô đến ngày toàn thắng - 5

Mỗi ngày, hàng chục bè tre, nứa, gỗ, củi, củ nâu và lá gồi xuôi sông Lô về bán tại thị trường Khu 3 và Hà Nội. Những chuyến bè nối miền núi với đồng bằng, đưa hàng từ các điểm thu mua theo đường sông, đường bộ về Hà Nội và các địa phương. Đồng ngân hàng đã được dùng trong giao dịch, còn thóc vẫn là đơn vị quen thuộc để quy đổi giá trị hàng hóa.

Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 1/4/1952.

Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 1/4/1952.

Mạng lưới còn nối ra ngoài biên giới. Năm 1952, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định thương mại với Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Việt Nam xuất chè, gỗ, hồi, quế, tre, gia súc cùng nhiều mặt hàng nông lâm sản, ngược lại nhập khẩu là máy móc, vải sợi, giấy in, sắt thép, hóa chất, dược phẩm và hàng tiêu dùng. Năm 1953, hai bên ký Nghị định thư về mậu dịch tiểu ngạch. 

Hà Nội bước vào ngày tiếp quản với những tuyến lưu thông đã được gây dựng trong kháng chiến. Hàng từ Việt Bắc vẫn theo sông, đường bộ về đồng bằng và Hà Nội; trao đổi qua biên giới đưa thêm hàng hóa, vật tư vào trong nước. 

Những vấn đề của một thị trường đô thị nhanh chóng hiện ra sau ngày tiếp quản. Ngày 21/10, Báo Nhân Dân đăng bài "Đóng thuế công thương nghiệp hiện nay là vì lợi nhà, ích nước". 2 ngày sau tiếp tục đăng bài "Bà con ta nên vì quyền lợi lâu dài mà buôn bán bằng tiền ngân hàng".

Nhà máy phải tiếp tục sản xuất, hàng hóa phải về chợ và cửa hiệu, tiền ngân hàng phải được sử dụng trong mua bán, hoạt động kinh doanh phải đi cùng nghĩa vụ thuế. Những công việc đó đều gắn với hoạt động của ngành Công Thương trong những ngày đầu Hà Nội chuyển sang bộ máy quản lý mới.

Cuối năm 1954, hệ thống mậu dịch bắt đầu được tổ chức lại để bước sang thời kỳ khôi phục kinh tế. Ngày 4/12/1954, Phủ Thủ tướng ban hành Nghị định số 419-TTg về thành lập các tổng công ty chuyên nghiệp mậu dịch quốc doanh. 3 tháng sau, ngày 15/3/1955, Bộ Công Thương ban hành Chỉ thị số 454-BCT/KB tổ chức lại ngành mậu dịch quốc doanh. Hệ thống được sắp xếp theo 3 cấp, ở Trung ương có các tổng công ty, tại các liên khu có phân công ty khu, ở tỉnh có công ty tỉnh.

Quy mô mạng lưới tăng nhanh trong những năm khôi phục kinh tế. Thời kỳ kháng chiến mới có 1 Sở Mậu dịch Trung ương, đến năm 1957 thương nghiệp quốc doanh đã có 10 tổng công ty ngành hàng và hơn 900 cửa hàng tại các địa phương miền Bắc.

Nhiều cơ sở tiểu thủ công nghiệp sau giải phóng rơi vào cảnh đình đốn do thiếu vốn, nguyên liệu, máy móc, phụ tùng và khó tìm đầu ra cho sản phẩm. Mậu dịch quốc doanh hỗ trợ bằng cách đặt gia công, thu mua và bao tiêu hàng hóa, qua đó giúp các cơ sở nối lại sản xuất, từng bước phục hồi hoạt động.

Qua chiến tranh tới ngày toàn thắng

Việc mở rộng mạng lưới mậu dịch diễn ra cùng quá trình phục hồi sản xuất ở miền Bắc. Trong 3 năm 1955-1957, nhiều nhà máy, hầm mỏ từng đình đốn hoặc sản xuất cầm chừng vì thiếu nguyên liệu, phụ tùng được khôi phục và mở rộng. Các cơ sở quan trọng gồm Nhà máy Dệt Nam Định, Nhà máy Len Hải Phòng, các nhà máy bia, rượu ở Hà Nội cùng các mỏ than Hòn Gai và Cẩm Phả. Nhiều cơ sở mới cũng bắt đầu được xây dựng.

Những phụ nữ tiêu biểu trong phong trào "Ba đảm đang" của ngành dệt.

Những phụ nữ tiêu biểu trong phong trào "Ba đảm đang" của ngành dệt.

Năm 1956, khu vực tiểu thủ công nghiệp có gần 67.000 cơ sở với khoảng 188.000 lao động. 1 năm sau, số cơ sở tăng lên gần 150.000, thu hút 474.000 lao động. Năm 1958, Bộ Nội thương tổ chức triển lãm "Bàn tay Vàng" tại Nhà Đấu Xảo, Hà Nội với hơn 100 gian hàng và hàng nghìn mặt hàng tiểu thủ công nghiệp.

Sau hơn 2 năm hòa bình lập lại, sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã phục hồi, vượt mức năm 1939, thời điểm được coi là có sản lượng cao nhất trước chiến tranh; đời sống nông dân và người lao động từng bước ổn định.

Cùng với mậu dịch quốc doanh, hệ thống hợp tác xã mua bán được mở rộng tại nhiều tỉnh, thành phố, nhất là khu vực nông thôn và miền núi. Ngày 26/12/1955, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 641-TTg, thành lập cơ quan quản lý hợp tác xã ở Trung ương, khu, tỉnh và thành phố.

Đến cuối năm 1957, cả 28 tỉnh, thành phố miền Bắc đã tổ chức được 207 hợp tác xã mua bán cơ sở. Cấp huyện khi đó là đơn vị cơ sở của hệ thống với khoảng 1,5 triệu xã viên tại 4.000 xã.

Giai đoạn 1958-1960, miền Bắc thực hiện kế hoạch 3 năm phát triển và cải tạo kinh tế, trong đó có cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, phát triển công nghiệp quốc doanh và xây dựng thêm cơ sở sản xuất.

Báo cáo "The Economic Policy of North Vietnam" của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ, ký hiệu CIA/RR ER 61-5, tháng 2/1961 ghi lại giá trị sản lượng nông nghiệp và công nghiệp trong những năm đầu khôi phục, phát triển kinh tế (đơn vị tính: triệu đồng):

Công Thương Việt Nam ngày đầu lập quốc - Bài 5: Từ tiếp quản Thủ đô đến ngày toàn thắng - 8

Theo báo cáo, giá trị sản lượng công nghiệp năm 1959 gấp hơn 4,1 lần mức năm 1955, đồng thời nhận định nông nghiệp được miền Bắc dành mức ưu tiên cao hơn so với vị trí của lĩnh vực này trong kế hoạch kinh tế của các nước khác thuộc khối Xô viết và Trung Quốc. Riêng kế hoạch nhà nước năm 1956 dành khoảng 20% tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp.

Toàn cảnh khu phố công nghiệp mới tập trung 3 nhà máy xà phòng, thuốc lá và cao su, năm 1959.

Toàn cảnh khu phố công nghiệp mới tập trung 3 nhà máy xà phòng, thuốc lá và cao su, năm 1959.

Bước sang kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961-1965, miền Bắc tiếp tục xây dựng các cơ sở điện lực, gang thép, cơ khí, khai thác than, vật liệu xây dựng, hóa chất và công nghiệp nhẹ. Gang thép Thái Nguyên, Nhiệt điện Uông Bí, Phân đạm Hà Bắc cùng các cơ sở công nghiệp Việt Trì lần lượt hiện diện trên bản đồ công nghiệp. Thủy điện Thác Bà được khởi công trong giai đoạn này và tiếp tục xây dựng những năm sau.

Năm 1965, chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ mở rộng ra miền Bắc. Bom đạn tập trung vào các thành phố lớn, cơ sở công nghiệp, kho tàng và những đầu mối kinh tế quan trọng. Ngành Công Thương phải phân tán lực lượng sản xuất về các địa phương, lấy tỉnh làm địa bàn tổ chức công nghiệp và thương mại, vừa bảo vệ cơ sở vật chất vừa duy trì sản xuất.

Công nhân đúc thép ở Nhà máy cơ khí Hà Nội.

Công nhân đúc thép ở Nhà máy cơ khí Hà Nội.

Tháng 6/1966, Nhà máy Cơ khí Hà Nội bắt đầu di chuyển gần 1.500 tấn phương tiện, thiết bị tới 16 địa điểm ở Hà Bắc. Nhà máy Dệt 8-3 với hơn 7.000 công nhân phân tán ra nhiều nơi nhưng vẫn duy trì sản xuất. Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, Nhà máy Gỗ Cầu Đuống, Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Xí nghiệp Dược phẩm 1 và 2, Nhà máy In Tiến Bộ cùng nhiều cơ sở khác cũng tổ chức sơ tán.

Công nhân các nhà máy vừa làm việc vừa sẵn sàng chiến đấu. Khẩu hiệu "chắc tay búa, vững tay súng" gắn với các cơ sở công nghiệp; ngành Điện nêu khẩu hiệu "giữ vững dòng điện như mạch máu", ngành Xăng dầu có khẩu hiệu "quý xăng như máu"

Chấp hành lời kêu gọi của Đảng: "Sản xuất phải được coi là một nhiệm vụ chiến đấu, dù có phải đổ máu hy sinh", ngành Công Thương tiếp tục duy trì và mở rộng sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất cho quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Công ty Bách hóa Hà Nội đưa hàng đến tận trận địa pháo cao xạ phục vụ chiến đấu.

Công ty Bách hóa Hà Nội đưa hàng đến tận trận địa pháo cao xạ phục vụ chiến đấu.

Bán hàng lưu động trong 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm 1972.

Bán hàng lưu động trong 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm 1972.

Đến năm 1975, tài sản cố định trong khu vực sản xuất vật chất tăng gấp 5,1 lần so với năm 1960; số xí nghiệp công nghiệp gấp 16,5 lần năm 1955. Sau hai thập niên xây dựng, cơ sở vật chất kỹ thuật của công nghiệp miền Bắc đã được mở rộng rõ rệt, nhiều khu công nghiệp lớn hình thành hoặc đang tiếp tục xây dựng.

Cơ cấu công nghiệp cũng từng bước được hoàn thiện, các ngành công nghiệp nặng như điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất mở rộng cả về số lượng cơ sở và quy mô sản xuất; công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm tiếp tục tăng năng lực. Đến năm 1975, miền Bắc đã xây dựng được nền tảng công nghiệp tương đối toàn diện, tạo cơ sở vật chất cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Người của Bộ năm 1945 đi tới ngày toàn thắng

11h30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn. Đại thắng Mùa xuân năm 1975 là trang sử vàng chói lọi, là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Từ đây non sông thu về một mối, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, thống nhất và cùng nhau xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa - dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, trưa ngày 30/4/1975.

Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, trưa ngày 30/4/1975.

Đặc biệt, 30 năm sau ngày Chính phủ lâm thời thành lập Bộ Quốc dân Kinh tế, một người từng làm việc trong bộ máy đầu tiên đó lại có mặt ở Sài Gòn vào những giờ cuối của cuộc chiến. 

Sáng 29/4/1975, ông cùng 3 người khác là ông Nguyễn Văn Diệp, Nguyễn Văn Hạnh và Tô Văn Cang vào Trại Davis, tìm cách tiếp xúc với phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để đề nghị xem xét việc ngừng bắn. Phái đoàn quân sự tại Trại Davis trả lời không có chức năng đàm phán, điều đình và yêu cầu chính quyền Sài Gòn chấp nhận bản tuyên bố ngày 26/4/1975 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Rời Trại Davis, ông cùng ông Nguyễn Văn Diệp cùng soạn thảo bản tuyên bố chấp nhận các điều kiện ngừng bắn. Khoảng 16h30 phút, văn bản hoàn thành, ông mang tới cho ông Nguyễn Văn Huyền, Phó Tổng thống đặc trách hòa đàm. Ông Huyền trình Tổng thống Dương Văn Minh thông qua, sau đó bản tuyên bố được phát trên Đài Phát thanh Sài Gòn lúc 17h ngày 29/4.

Nhà báo Nguyễn Văn Minh - Tổng Biên tập Báo Công Thương (thời điểm đó là Phó Tổng Biên tập phụ trách Báo) và học giả Nguyễn Đình Đầu, tháng 10/2023.

Nhà báo Nguyễn Văn Minh - Tổng Biên tập Báo Công Thương (thời điểm đó là Phó Tổng Biên tập phụ trách Báo) và học giả Nguyễn Đình Đầu, tháng 10/2023.

Nhiều năm sau, trong cuộc trả lời phỏng vấn về ngày thống nhất, học giả Nguyễn Đình Đầu chỉ nhận phần đóng góp của mình rất khiêm nhường, nói mình chỉ tham gia một nỗ lực kêu gọi ngừng tiếng súng trong những giờ cuối cùng của cuộc chiến. Ông bày tỏ niềm vui vì thương vong được hạn chế và đất nước bước vào hòa bình, thống nhất. 

Học giả Nguyễn Đình Đầu qua đời ngày 20/9/2024, thọ 104 tuổi. Ông là một trong những nhân chứng hiếm hoi còn lại của Bộ Quốc dân Kinh tế những ngày đầu lập nước.

Ít tháng trước khi mất, trong cuộc gặp với Báo Công Thương tháng 4/2024, ông kể rằng sau lần làm việc trước đó với lãnh đạo Báo, những ký ức về thời gian ở Bộ Quốc dân Kinh tế dần trở lại. Ông lục tìm thư từ, văn tự, gom tài liệu và viết lại một số câu chuyện "cho đúng", tránh để thế hệ sau hiểu sai.

Ông dự định sẽ bàn giao số tư liệu ấy cho Báo Công Thương, song cuộc bàn giao chưa kịp thực hiện...

81 năm đã đi qua kể từ những ngày đầu lập quốc, trên chặng đường đó, ngành Công Thương luôn gắn với những nhiệm vụ lớn của đất nước. Lịch sử trao cho những người làm Công Thương hôm nay điểm tựa để bước tiếp, niềm tự hào để gìn giữ và hơn hết là trách nhiệm tiếp nối những gì các thế hệ đi trước đã gây dựng, góp sức đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới...

Lâm Vỹ Sơn

Có thể bạn quan tâm