Công nghiệp Việt Nam: Hành trình chuyển mình và đóng góp cho quốc gia

Trong hành trình 81 năm đồng hành cùng sự phát triển đất nước, ngành Công Thương đã góp phần đưa công nghiệp Việt Nam trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Năng lực cạnh tranh công nghiệp được nâng cao

Từ khi đất nước giành độc lập, đặc biệt trong gần 40 năm đổi mới, công nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, phản ánh hiệu quả của những chủ trương, định hướng lớn của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trước những thay đổi nhanh chóng của kinh tế và công nghệ thế giới, tư duy phát triển công nghiệp cũng từng bước được đổi mới, thích ứng với yêu cầu của từng giai đoạn.

Việt Nam đã vươn lên thuộc nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp toàn cầu ở mức trung bình cao. Theo xếp hạng của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), trong giai đoạn 2009-2019, năng lực cạnh tranh công nghiệp của Việt Nam tăng 16 bậc, từ vị trí thứ 58 lên thứ 42, thuộc nhóm tăng hạng nhanh trong ASEAN, từng bước thu hẹp khoảng cách với các nền công nghiệp dẫn đầu khu vực.

Công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng khẳng định vai trò động lực tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp. Ảnh: Cấn Dũng

Công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng khẳng định vai trò động lực tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp. Ảnh: Cấn Dũng

Đến nay, Việt Nam đã hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực như khai thác, chế biến dầu khí; điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin; luyện kim, sắt thép; xi măng, vật liệu xây dựng; dệt may, da giày; cơ khí, ô tô, xe máy; công nghiệp chế biến, chế tạo... Đây là nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng các ngành thâm dụng tài nguyên, công nghệ thấp và gia tăng tỷ trọng các ngành công nghệ trung bình, công nghệ cao. Cùng với đó, một số tập đoàn công nghiệp tư nhân lớn đã hình thành, phát triển và từng bước vươn ra thị trường khu vực, quốc tế.

Đặc biệt, công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng khẳng định vai trò động lực chủ yếu của tăng trưởng công nghiệp, tạo giá trị gia tăng lớn cho khu vực sản xuất và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Cụ thể, công nghiệp chế biến, chế tạo luôn là ‘đầu kéo’ quyết định tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp. Minh chứng rõ nét là năm 2025, trong khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) cả nước tăng 9,2%, riêng ngành chế biến, chế tạo tăng tới 10,6%. Đây cũng là ngành tạo ra giá trị gia tăng lớn, đóng góp 31,49% vào tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế, với quy mô tương đương khoảng 25% GDP cả nước.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục định hướng xây dựng nền công nghiệp quốc gia theo hướng tự chủ, hiện đại; chuyển mạnh mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, ưu tiên công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng tái tạo và các ngành công nghiệp công nghệ cao. Đây là định hướng quan trọng để công nghiệp Việt Nam nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Theo các chuyên gia, nhà quản lý, để công nghiệp Việt Nam tiếp tục phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh, cần hệ thống chính sách đồng bộ, tạo điều kiện huy động, phân bổ hiệu quả nguồn lực và phát huy lợi thế của từng ngành.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay là xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm do Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì. Theo định hướng xây dựng Luật, công nghiệp trọng điểm gồm những ngành có tính chất nền tảng, mũi nhọn, được ưu tiên phát triển nhằm tạo sức lan tỏa đối với toàn bộ nền công nghiệp. Các ngành công nghiệp trọng điểm được điều chỉnh tại Luật Công nghiệp trọng điểm bao gồm: Công nghiệp hỗ trợ cho các ngành: dệt may, da - giày, cơ khí, điện tử, ô tô, công nghiệp công nghệ cao; Công nghiệp vật liệu, luyện kim; Công nghiệp điện tử; Công nghiệp cơ khí chế tạo; Công nghiệp thực phẩm và sinh học; Công nghiệp dệt may, da - giày…

Nâng sức cạnh tranh, mở đường cho công nghiệp Việt Nam bứt phá. Ảnh: Cấn Dũng

Nâng sức cạnh tranh, mở đường cho công nghiệp Việt Nam bứt phá. Ảnh: Cấn Dũng

Trong bối cảnh nguồn lực quốc gia có hạn, việc xác định đúng những ngành cần ưu tiên và có cơ chế phân bổ nguồn lực phù hợp được kỳ vọng sẽ tạo động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm vì vậy là bước cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp, đồng thời góp phần hoàn thiện chính sách công nghiệp quốc gia trong giai đoạn mới.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, chuyên gia kinh tế, TS. Lê Đăng Doanh cho rằng, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đặc biệt, đa số doanh nghiệp trong ngành công nghiệp hiện nay là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế về nhân lực, nguồn lực tài chính, năng lực nghiên cứu, phát triển sản phẩm... Trong khi đó, xu hướng phát triển hiện đại của thế giới đặt ra yêu cầu doanh nghiệp công nghiệp phải bứt tốc trong kỷ nguyên mới”, TS. Lê Đăng Doanh nói.

Đánh giá về sự phát triển của ngành công nghiệp, TS. Trịnh Thị Thanh Thủy, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cho rằng, trong bối cảnh thế giới đang bước sâu vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hướng tới kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững và chuyển đổi số, công nghiệp Việt Nam vẫn còn dư địa lớn để nâng cao giá trị gia tăng và trình độ khoa học, công nghệ. Đặc biệt, một số lĩnh vực chế biến, chế tạo còn phụ thuộc vào linh kiện, nguyên liệu và đầu vào từ nước ngoài.

 “Việc sớm cho ra đời Luật Công nghiệp trọng điểm sẽ tạo hành lang pháp lý, giúp doanh nghiệp công nghiệp tiếp cận nguồn vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu”, TS. Trịnh Thị Thanh Thủy nhận định.

Với kỳ vọng tạo đột phá về thể chế, việc xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm không chỉ nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý mà còn hướng tới việc tạo động lực chiến lược cho công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới, góp phần hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại, có thu nhập cao.

TS. Trịnh Thị Thanh Thủy nhấn mạnh: “Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cũng đặt mục tiêu tái cơ cấu ngành Công Thương nhằm thực hiện chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh; tạo lập các động lực tăng trưởng mới gắn với chuyển biến về chất của mô hình tăng trưởng ngành Công Thương. Theo đó, cần thiết phải có Luật Công nghiệp trọng điểm với các chính sách định hướng liên kết doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, hình thành mạng lưới liên kết vùng, các cụm và chuỗi công nghiệp...”.

Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô sản xuất mà quan trọng hơn là nâng cao năng suất, trình độ công nghệ, khả năng tự chủ và sức cạnh tranh của nền công nghiệp. Điều đó đòi hỏi sự đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế, phát triển doanh nghiệp, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, việc xây dựng, hoàn thiện Luật Công nghiệp trọng điểm được kỳ vọng sẽ tạo thêm hành lang pháp lý và động lực phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn; thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhanh và bền vững, từng bước nâng cao vị thế công nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Duy Anh

Có thể bạn quan tâm