Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 được triển khai trên toàn quốc, mở ra bước chuyển mới trong sử dụng nhiên liệu xanh tại Việt Nam. Không dừng ở câu chuyện năng lượng và môi trường, E10 còn tạo thêm không gian phát triển cho nông nghiệp thông qua nhu cầu ethanol sinh học từ sắn, mía, ngô và phụ phẩm nông nghiệp.
Xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy.
Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy
Đầu ra mới cho nông sản
- Thưa ông, xăng E10 thường được tiếp cận từ góc độ năng lượng, môi trường, song phía sau đó là một thị trường nguyên liệu rất lớn cho ethanol sinh học. Từ góc nhìn nông nghiệp, ông đánh giá thế nào về cơ hội gia tăng giá trị cho các cây trồng như sắn, mía, ngô và phụ phẩm nông nghiệp khi E10 được triển khai rộng rãi?
Chuyên gia Hoàng Trọng Thủy: Đẩy mạnh tiêu thụ xăng E10 sẽ tạo ra cơ hội rất lớn, những cơ hội đó có thể trở thành động lực cho phát triển nông nghiệp trên 3 phương diện. Cơ hội thứ nhất về nguồn nguyên liệu: cây trồng có đường, cây trồng có tinh bột và phụ phẩm nông nghiệp có thể thu gom, chế biến để sản xuất ethanol.
Hiện nay, diện tích ngô của chúng ta khoảng 700.000 - 720.000 ha, tương đối ổn định, diện tích mía khoảng 72.000 ha, diện tích sắn khoảng 180.000 ha. Với sản lượng như vậy, có thể nói phát triển nông nghiệp ở các vùng trung du, miền núi, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và vùng mía ở đồng bằng sông Cửu Long đang có cơ hội lớn để mở rộng sản xuất, tổ chức lại sản xuất và hình thành thị trường ổn định.
Cơ hội thứ hai là chúng ta tiêu thụ ngay trong nội địa nên khâu vận chuyển sẽ được giảm bớt. Cơ hội thứ ba là vận chuyển, logistics, kho bãi đối với nguồn nguyên liệu này không đòi hỏi quá cao như nhiều mặt hàng xuất khẩu. Đây là những điều kiện thuận lợi rất lớn cho phát triển nông nghiệp.
Tôi đặc biệt đánh giá cao khả năng sử dụng phụ phẩm nông nghiệp như rơm, rạ, trấu, trái cây hư hỏng. Nếu tận dụng được các nguồn nguyên liệu này, lợi ích sẽ còn lớn hơn vì vừa tạo thêm giá trị cho nông nghiệp vừa góp phần bảo vệ môi trường và thúc đẩy tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn.
Chuyển sang tiêu thụ xăng E10 sẽ tạo điều kiện để nông nghiệp Việt Nam phát triển tốt hơn, đồng thời phù hợp với trình độ sản xuất hiện nay của người nông dân. Tuy nhiên, yêu cầu lớn hơn đặt ra là phải tổ chức lại sản xuất, cần liên thông giữa doanh nghiệp, nông dân và hợp tác xã, đưa các chủ thể này vào một chuỗi cung ứng ổn định, không bị đứt gãy. Khi đó, chắc chắn giá trị sản xuất nông nghiệp sẽ được nâng lên.
Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương - Ảnh: Quốc Chuyển
Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp
- Theo ông, cần quy hoạch vùng nguyên liệu cho nhiên liệu sinh học như thế nào để vừa bảo đảm nguồn cung ổn định vừa tránh được rủi ro cho nông dân và an ninh lương thực?
Chuyên gia Hoàng Trọng Thủy: Về quy hoạch vùng nguyên liệu, chúng ta có thể tính đến 2 kịch bản. Kịch bản thứ nhất là tập trung phát triển các vùng nguyên liệu lớn của quốc gia. Ví dụ, ngô có thể tập trung ở Sơn La, sắn ở Tây Ninh, mía ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Thanh Hóa. Cách đầu tư này sẽ tạo được khối lượng nguyên liệu lớn, chất lượng cao và giảm chi phí vận tải.
Kịch bản thứ hai là tổ chức lại các vùng sản xuất hiện có. Hiện nay, các loại cây như mía, sắn, ngô và một số cây nguyên liệu sinh khối khác vẫn nằm rải rác ở nhiều vùng sản xuất. Vì vậy, chính quyền địa phương cần quy hoạch lại để bảo đảm có diện tích đủ lớn. Ít nhất mỗi khu sản xuất phải đạt khoảng 10 - 15 ha thì doanh nghiệp mới thấy có lợi nhuận, thuận lợi trong giao dịch, ký hợp đồng và đầu tư đầu vào. Khi đó, bản thân người sản xuất là nông dân cũng thấy họ được hỗ trợ, nếu giá trị tăng thêm người dân sẽ tham gia.
Tuy nhiên có điểm cần đặc biệt chú ý, nếu cây ngô, sắn, mía được tập trung quá mạnh cho sản xuất ethanol và giá nguyên liệu bị đẩy lên cao rất dễ dẫn đến tình trạng tranh chấp với an ninh lương thực, manh mún sản xuất, phá rừng, thu hẹp diện tích lúa hoặc chặt bỏ các cây trồng khác để chuyển sang trồng mía, sắn, ngô. Về lâu dài, nếu không được quản lý thật chặt những hệ lụy này sẽ rất đáng lo ngại.
Vì vậy, đã nói đến quy hoạch vùng nguyên liệu thì diện tích tối thiểu phải bảo đảm khoảng 10 ha. Đồng thời, các vùng này cần có nền tảng canh tác tương đồng, trình độ sản xuất tương đối đồng đều để thuận lợi cho tổ chức sản xuất.
Sắn là nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ethanol tại Việt Nam - Ảnh: Thanh Quân
Cú hích cho nông nghiệp xanh
- Từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, theo ông, để xăng E10 thực sự trở thành động lực cho nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phụ thuộc xuất khẩu thô cần ưu tiên những chính sách gì?
Chuyên gia Hoàng Trọng Thủy: Cần có 4 nhóm chính sách lớn. Thứ nhất là chính sách đầu vào, gồm đất đai và vốn. Nếu đã xác định đây là mặt hàng chiến lược, có vòng đời dài thì phải có chính sách đầu tư phù hợp cho doanh nghiệp và các hộ sản xuất ở vùng nguyên liệu. Họ cần được tiếp cận vốn trung hạn và dài hạn thay vì chỉ có thể vay vốn ngắn hạn, nếu chỉ có vốn ngắn hạn thì rất khó đầu tư bài bản cho xây dựng vùng nguyên liệu.
Như vậy, cấu trúc cho vay của ngành ngân hàng cũng cần đổi mới về tư duy, chính sách tín dụng phải đáp ứng yêu cầu trung hạn và dài hạn cho phát triển vùng nguyên liệu.
Thứ hai là tổ chức lại sản xuất. Trong tổ chức sản xuất, dứt khoát phải phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã và các câu lạc bộ nghề nghiệp trên cùng một sản phẩm. Khi các tổ chức này mạnh lên thì mới có điều kiện kết nối với doanh nghiệp, giảm chi phí đầu vào và được pháp luật bảo vệ trong quá trình phát sinh tranh chấp dân sự. Chính sách này phải rất cụ thể, phải đi theo chuỗi để không bị đứt gãy.
Thứ ba là đào tạo người nông dân trở thành người nông dân chuyên nghiệp. Người nông dân cần được hỗ trợ về kỹ năng sản xuất, quản trị chất lượng và tiếp cận thị trường. Cùng đó là chính sách về thiết bị số, khoa học công nghệ, đặc biệt là hệ thống kiểm nghiệm. Các thiết bị này cần được bố trí ngay tại địa bàn vùng nguyên liệu để quá trình kiểm tra, đánh giá chất lượng được thực hiện nhanh chóng, giảm bớt các thủ tục rườm rà cho người nông dân.
Ví dụ, hàm lượng nguyên liệu để sản xuất ethanol cũng khác nhau theo từng điều kiện đất đai, canh tác. Vì vậy, phải có công cụ đo đếm, kiểm soát và kết luận chất lượng ngay tại vùng nguyên liệu, ngay trên cánh đồng. Cách làm này một số nước như Thái Lan đã triển khai đối với cây sầu riêng.
Thứ tư là minh bạch hóa lợi ích trong chuỗi. Muốn vùng quy hoạch và sức sản xuất tăng lên phải minh bạch lợi ích của nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp, kênh phân phối... Trong đó, nông dân và hợp tác xã là lực lượng tạo ra nguồn cung trực tiếp nên phải có lợi ích tương xứng, thậm chí ở mức đủ hấp dẫn để họ thấy có lãi và có động lực gắn bó lâu dài. Người nông dân, hợp tác xã nhìn thấy lợi ích rõ ràng, họ mới yên tâm đầu tư, duy trì sản xuất và bảo đảm nguồn cung ổn định. Các chính sách này cần được số hóa, công khai và minh bạch để tạo niềm tin giữa các chủ thể trong chuỗi.
Trong quá trình chuyển đổi này nguồn cung là yếu tố then chốt. Nguồn cung quyết định sản lượng, chất lượng và sự vận hành thông suốt của cả chuỗi nhiên liệu sinh học. Việt Nam có lợi thế nhất định về nguyên liệu: ngô có thể trồng 3 vụ mỗi năm, mía có thể tổ chức sản xuất quanh năm, sắn cũng là cây trồng có tiềm năng. Bên cạnh đó, phụ phẩm và chất thải nông nghiệp nếu được thu gom, xử lý và tận dụng hiệu quả sẽ trở thành nguồn tài nguyên lớn cho kinh tế tuần hoàn.
Vì vậy, phát triển E10 không nên chỉ nhìn ở câu chuyện nhiên liệu, đây còn là cơ hội tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, nâng giá trị vùng nguyên liệu, giảm xuất khẩu thô và tạo thêm động lực cho nông nghiệp xanh.
Xin cảm ơn ông!
Gia tăng sử dụng xăng E10 giúp giảm áp lực nguồn cung và chi phí nhập khẩu. Khi một phần nhiên liệu được thay thế bằng ethanol, trong đó có nguồn cung nội địa, Việt Nam có thể chủ động hơn trong bảo đảm an ninh năng lượng.