Chủ động triển khai đồng bộ giải pháp cung ứng điện
Là tập đoàn năng lượng quốc gia, cung cấp khoảng 35% tổng sản lượng điện cho nền kinh tế và giữ vai trò nòng cốt trong bảo đảm an ninh năng lượng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang phải đối mặt với nhiều áp lực trong năm 2026. Chia sẻ tại Toạ đàm ''Đảm bảo điện 2026: Đẩy mạnh điện mặt trời mái nhà và thực hành tiết kiệm" ngày 10/4 do Báo Công Thương tổ chức, ông Nguyễn Mạnh Quang, Phó Trưởng ban Kinh doanh và Mua bán điện, EVN cho biết, thay vì chỉ tập trung vào khó khăn, điều quan trọng là cách thức ứng phó và triển khai giải pháp.

Ông Nguyễn Mạnh Quang, Phó Trưởng ban Kinh doanh và Mua bán điện EVN.
Ngay từ đầu năm, EVN đã xây dựng các kịch bản cung ứng điện cho mùa khô năm 2026, đồng thời thành lập Ban Chỉ đạo cung ứng điện nhằm điều hành thống nhất, bám sát thực tế vận hành hệ thống. Đây là bước đi mang tính chủ động, thể hiện tinh thần triển khai sớm, từ xa, từ cơ sở.
Đối với nguồn điện, EVN tập trung bảo đảm cung ứng đầy đủ nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện; vận hành linh hoạt các nhà máy thủy điện theo diễn biến thủy văn. Đồng thời, tăng cường khả năng nhập khẩu điện, song song với đó là hạn chế tối đa việc sửa chữa các tổ máy trong giai đoạn cao điểm và đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm nhằm bảo đảm cung cấp điện ổn định.
Ở khâu lưới điện, tập đoàn yêu cầu các đơn vị truyền tải khẩn trương hoàn thành lắp đặt tụ bù ngang trước tháng 5/2026, để tăng cường khả năng vận hành an toàn hệ thống. Việc nâng cao chất lượng lưới điện không chỉ giúp giảm tổn thất, mà còn tăng tính linh hoạt trong điều tiết phụ tải.
Đáng chú ý, để đáp ứng nhu cầu phụ tải đỉnh, EVN đã triển khai các giải pháp tăng cường năng lực hệ thống, thông qua đầu tư hệ thống lưu trữ năng lượng. Tổng công ty Điện lực miền Bắc dự kiến lắp đặt khoảng 530 MW hệ thống lưu trữ; Tổng công ty Điện lực Hà Nội khoảng 275 MW; Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia khoảng 300 MW, với thời gian lưu trữ tối thiểu 2 giờ. Đây là bước chuyển quan trọng, từng bước đưa hệ thống điện tiếp cận với mô hình vận hành hiện đại.
Trên cơ sở đó, bám sát định hướng của Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường tiết kiệm điện, EVN tiếp tục chủ động triển khai các giải pháp đồng bộ.
Theo đó, EVN đặt mục tiêu tiết kiệm khoảng 3% điện năng trong năm 2026. Riêng giai đoạn cao điểm từ tháng 4 đến tháng 7, tập đoàn phấn đấu tiết kiệm khoảng 10%. Tập đoàn cũng đẩy mạnh vận động các khách hàng sử dụng điện lớn, đặc biệt là nhóm tiêu thụ từ 500.000 kWh/năm trở lên. Đồng thời, tham gia chương trình điều chỉnh phụ tải (DR), coi đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm áp lực cho hệ thống.
Cùng với đó, công tác tuyên truyền được triển khai đồng bộ trên nhiều kênh như báo chí, website, mạng xã hội và các nền tảng số. Đồng thời, tăng cường làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp và khối doanh nghiệp FDI nhằm nâng cao nhận thức, thúc đẩy sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả.
Đối với điện mặt trời mái nhà, EVN đã công khai đầy đủ quy trình, thủ tục và đầu mối tiếp nhận, hỗ trợ khách hàng đăng ký theo hình thức trực tuyến. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp tham gia đầu tư, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định và an toàn trong quá trình triển khai.
EVN xác định đồng hành cùng khách hàng trong triển khai các giải pháp từ phía phụ tải như tiết kiệm điện, điều chỉnh phụ tải, điện mặt trời mái nhà và hệ thống lưu trữ năng lượng. Qua đó, góp phần bảo đảm cung ứng điện ổn định.
Hoàn thiện chính sách cho cả hệ thống điện hiện đại
Đánh giá về các chính sách hiện hành, ông Nguyễn Mạnh Quang cho rằng khuôn khổ pháp lý về tiết kiệm điện, điều chỉnh phụ tải và phát triển điện mặt trời mái nhà đã được định hình khá rõ và bước đầu mang lại hiệu quả tích cực.
Tuy nhiên, để tạo chuyển biến mạnh mẽ và bền vững hơn, theo ông Quang, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng đồng bộ hơn.
Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế tài chính đủ hấp dẫn và ổn định cho các chương trình tiết kiệm điện và điều chỉnh phụ tải. Việc coi điều chỉnh phụ tải như một “nguồn điện dự phòng” từ phía khách hàng đòi hỏi phải có cơ chế khuyến khích tương xứng, bảo đảm lợi ích kinh tế rõ ràng.
Hệ thống pin lưu trữ của Công ty CP Prime Phổ Yên. Ảnh: Thu Hường
Thứ hai, cần cập nhật lại khung giờ cao điểm cho phù hợp với thực tế vận hành hệ thống. Trong bối cảnh điện mặt trời mái nhà phát triển nhanh, đặc điểm phụ tải đã thay đổi so với trước đây. Dự kiến, khung giờ cao điểm có thể điều chỉnh vào khoảng từ 18 giờ 30 đến 22 giờ 30, phản ánh đúng thời điểm hệ thống chịu áp lực lớn nhất.
Thứ ba, cần có các cơ chế hỗ trợ đầu tư đủ mạnh, bao gồm tín dụng xanh, hỗ trợ lãi suất, phát triển mô hình ESCO và xây dựng quỹ đổi mới thiết bị nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng. Đây là những công cụ quan trọng để thúc đẩy doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các giải pháp tiết kiệm điện và năng lượng tái tạo.
Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa thủ tục đầu tư, đặc biệt đối với điện mặt trời mái nhà theo cơ chế một cửa, là yêu cầu cấp thiết nhằm giảm chi phí giao dịch và rút ngắn thời gian triển khai. Đồng thời, cần sửa đổi các quy định về giấy phép hoạt động điện lực theo hướng phù hợp hơn với đặc thù của các hệ thống tự sản xuất, tự tiêu thụ, nhất là trong khu công nghiệp; hoàn thiện khung pháp lý cho mô hình bên thứ ba đầu tư và vận hành hệ thống.
Liên quan đến phát triển bền vững điện mặt trời mái nhà, ông Quang nhấn mạnh vai trò then chốt của hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS). Trong các quy hoạch và định hướng chính sách, điện mặt trời được xác định cần đạt tỷ lệ tối thiểu khoảng 10%. Tuy nhiên, để nguồn điện này phát huy hiệu quả và không gây áp lực cho hệ thống, cần đi kèm giải pháp lưu trữ.
Với mỗi mức công suất điện mặt trời mái nhà, cần gắn với tỷ lệ công suất lưu trữ tối thiểu tương ứng. Việc đầu tư BESS không chỉ giúp tận dụng tối đa sản lượng điện phát ra mà còn hỗ trợ điều tiết phụ tải, giảm áp lực giờ cao điểm và nâng cao độ ổn định của hệ thống.




