Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10/2026 và chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 11/2026

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí một số văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10/2026 và chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 11/2026.

MỘT SỐ VĂN BẢN CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ TRONG THÁNG 10/2026

Phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hóa dược Việt Nam đến năm 2045

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1954/QĐ-TTg ngày 8/10/2026 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hóa dược đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chương trình).

Chương trình đặt mục tiêu phát triển công nghiệp hóa dược nước ta trở thành ngành công nghiệp công nghệ cao, hiện đại, có giá trị gia tăng cao và năng lực cạnh tranh; nâng cao năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, tiếp nhận, chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ sản xuất nguyên liệu làm thuốc; từng bước hình thành năng lực sản xuất công nghiệp đối với các nguyên liệu làm thuốc thiết yếu và chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ, giảm phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu, góp phần bảo đảm an ninh thuốc quốc gia và thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển ngành hóa chất Việt Nam, Chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu sản xuất trong nước và Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Công nghiệp hóa dược Việt Nam phấn đấu đáp ứng khoảng 20% nhu cầu nguyên liệu làm thuốc phục vụ sản xuất thuốc trong nước.

Tiêu chí, điều kiện thành lập khu thương mại tự do

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Nghị định số 378/2026/NĐ-CP ngày 1/10/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phát triển đô thị. Trong đó, Nghị định quy định rõ về tiêu chí, điều kiện thành lập khu thương mại tự do:

1. Có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển thương mại quốc tế, logistics, sản xuất và dịch vụ gồm:

a) Gắn liền hoặc kết nối giao thông trực tiếp với hệ thống cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế, trung tâm tài chính quốc tế, cửa khẩu quốc tế quan trọng hoặc hạ tầng logistics chiến lược khác;

b) Có khả năng kết nối vận tải đa phương thức bằng ít nhất 02 phương thức vận tải trong số đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng hải và hàng không. Trường hợp công trình kết nối chưa hoàn thành thì công trình phải thuộc quy hoạch, kế hoạch đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt và có tiến độ hoàn thành phù hợp với giai đoạn đưa khu vào hoạt động.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10/2026 và chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 11/2026 - 1

2. Có quy mô tối thiểu 1.000 ha. Trường hợp tổ chức thành các khu vực không liền kề thì phải đảm bảo khả năng kết nối hạ tầng, vận hành và quản lý thống nhất.

3. Có hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả sử dụng đất; có tính bổ trợ, liên kết với khu kinh tế, khu công nghiệp, trung tâm logistics và khu chức năng hiện có.

4. Có kết cấu hạ tầng và phương án tổ chức các khu chức năng phù hợp với định hướng phát triển của khu thương mại tự do theo quy định.

5. Có phương án quản lý, vận hành khả thi, cơ chế phối hợp liên ngành, một cửa liên thông và hệ thống quản lý dựa trên dữ liệu số.

6. Có phương án bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, an toàn tài chính, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu; phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp, rửa tiền và tội phạm công nghệ cao; có phương án quản lý rủi ro và bảo vệ môi trường.

Tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá trong những tháng cuối năm 2026

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Công điện số 70/CĐ-TTg ngày 15/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá trong những tháng cuối năm 2026, góp phần kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra.

Công điện yêu cầu Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá; tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như: Chủ động theo dõi, phân tích, dự báo diễn biến giá cả thị trường và xây dựng phương án điều hành phù hợp với tình hình thực tế; bảo đảm cân đối cung cầu và ổn định giá hàng hóa, dịch vụ thiết yếu; điều hành thận trọng giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; tăng cường trách nhiệm quản lý, điều hành giá tại địa phương; tăng cường kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm; đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông, ổn định tâm lý thị trường...

Từ 1/11/2026, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu là 0%

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã ký Nghị quyết số 45/2026/NQ-CP ngày 31/10/2026 quy định thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu các loại là 0%. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/11/2026 đến hết ngày 31/3/2027.

Hướng dẫn chi tiết giảm 30% số thuế TNCN, thuế TNDN phải nộp từ kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỉ đồng

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Nghị định số 398/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Nghị quyết số 43/2026/QH16 về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp.

Nghị định này quy định chi tiết về việc giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng và việc giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng.

Cơ chế phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị

Nghị định số 387/2026/NĐ-CP ngày 12/10/2026 quy định dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị phải đáp ứng các điều kiện cụ thể:

a) Dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị phải xác định được kết quả về chỉ số tạo việc làm, mức tăng thu nhập, đóng góp phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương theo kế hoạch năm và thời điểm kết thúc dự án;

b) Chủ trì liên kết và các đối tượng liên kết phải có hợp đồng hoặc biên bản hợp tác về đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến, thu mua, tiêu thụ sản phẩm;

c) Bảo đảm điều kiện kỹ thuật cho từng loại dự án phát triển sản xuất của từng ngành nghề, lĩnh vực quản lý theo quy định chuyên ngành;

d) Bảo đảm tỷ lệ tham gia của người dân thuộc đối tượng hỗ trợ của Chương trình theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định này;

đ) Điều kiện khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

Về phương thức hỗ trợ thực hiện dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, Nghị định quy định ba phương thức:

a) Hỗ trợ bằng hiện vật, cung ứng dịch vụ cho chủ trì liên kết, các bên liên kết thông qua chủ trì liên kết. Việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Nghị định này;

b) Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền cho chủ trì liên kết tự triển khai thực hiện các hoạt động của dự án theo Quyết định phê duyệt dự án. Cơ quan quản lý dự án thanh toán kinh phí hỗ trợ cho chủ trì liên kết theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Nghị định này;

c) Phương thức kết hợp hỗ trợ trực tiếp bằng tiền và hỗ trợ bằng hiện vật, cung ứng dịch vụ.

Quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Nghị định số 384/2026/NĐ-CP ngày 9/10/2026 quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước.

Nghị định này quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước, bao gồm: hàng hóa có xuất xứ, hàng hóa có xuất xứ thuần túy, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, công đoạn gia công, chế biến đơn giản; yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số bị phạt tới 200 triệu đồng

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký ban hành Nghị định số 389/2026/NĐ-CP ngày 14/10/2026 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số.

Nghị định này quy định hành vi vi phạm hành chính, hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số.

Nghị định quy định mức phạt tiền đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số tối đa là 100.000.000 đồng, đối với tổ chức tối đa là 200.000.000 đồng.

Từ 16/10/2026, mua, bán vàng trong ngày từ 5 triệu đồng phải thanh toán không dùng tiền mặt

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Nghị định số 390/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 232/2025/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định số 24/2012/NĐ-CP).

Nghị định số 390/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP quy định về nguyên tắc quản lý. Trong đó, đáng chú ý là nội dung sửa đổi tại khoản 10 Điều 4 quy định về việc thanh toán mua, bán vàng không dùng tiền mặt.

Theo đó, khi thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 05 triệu đồng trong ngày trở lên, khách hàng phải thực hiện bằng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật về thanh toán không dùng tiền mặt.

Vi phạm về đặt cược, trò chơi có thưởng bị phạt đến 200 triệu đồng

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã ký Nghị định số 391/2026/NĐ-CP ngày 20/10/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh đặt cược và trò chơi có thưởng.

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính; việc thi hành các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực kinh doanh đặt cược, casino và trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài (lĩnh vực đặt cược và trò chơi có thưởng).

Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đặt cược và trò chơi có thưởng đối với tổ chức là 200.000.000 đồng và đối với cá nhân là 100.000.000 đồng.

Nghị định quy định hình thức xử phạt bổ sung gồm: Đình chỉ hoạt động kinh doanh đặt cược, casino, trò chơi điện tử có thưởng có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Cơ sở kinh doanh ngành, nghề nào phải có phương án bảo đảm an ninh, trật tự?

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Nghị định số 392/2026/NĐ-CP ngày 20/10/2026 sửa đổi, bổ sung các Nghị định có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực an ninh, trật tự.

Trong đó, Nghị định số 392/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 8 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP quy định cơ sở kinh doanh các ngành, nghề sau đây phải có phương án bảo đảm an ninh, trật tự, gồm:

1. Kinh doanh công cụ hỗ trợ (bao gồm cả sửa chữa);

2. Kinh doanh các loại pháo, trừ pháo nổ;

3. Kinh doanh trò chơi có thưởng (bao gồm trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài, casino và đặt cược);

4. Kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp;

5. Kinh doanh tiền chất thuốc nổ;

6. Kinh doanh ngành, nghề có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ;

7. Kinh doanh dịch vụ nổ mìn;

8. Kinh doanh dịch vụ vũ trường;

9. Kinh doanh dịch vụ lưu trú (đối với cơ sở kinh doanh là doanh nghiệp);

10. Kinh doanh súng cầm tay, súng vác vai, đạn sử dụng cho các loại vũ khí này trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Xây dựng ngành lâm nghiệp đa giá trị, phát triển bền vững

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 2018/QĐ-TTg ngày 21/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Mục tiêu tổng quát của điều chỉnh Quy hoạch nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng; bảo đảm phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch sử dụng đất quốc gia và các quy hoạch có liên quan; xác định mục tiêu, định hướng phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Xây dựng ngành lâm nghiệp hiện đại, hiệu quả, đa giá trị, phát triển bền vững; phát huy các tiềm năng, vai trò và tác dụng của rừng, nâng cao chất lượng và khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số", bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giữ vững quốc phòng, an ninh và thực hiện các cam kết quốc tế.

Phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026 - 2030

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 2054/QĐ-TTg ngày 27/10/2026 phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026 - 2030 đối với doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 5 Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg ngày 05/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước theo các hình thức: tiếp tục giữ nguyên tỷ lệ vốn nhà nước đang nắm giữ tại doanh nghiệp; thực hiện các hình thức cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/02/2026 của Chính phủ về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp hoặc các hình thức khác làm thay đổi tỷ lệ sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Chi phí đặc thù đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Nghị định số 394/2026/NĐ-CP ngày 23/10/2026 quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số.

Trong đó, Nghị định quy định chi phí đặc thù đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số gồm: chi phí trả thưởng; chi hoa hồng đại lý cho các đại lý xổ số; chi phí ủy quyền trả thưởng; chi phí quay số mở thưởng và chi cho công tác giám sát xổ số; chi phí hỗ trợ công tác phòng chống số đề và làm giả vé xổ số; chi phí trích lập quỹ dự phòng rủi ro trả thưởng; chi phí về vé xổ số; chi phí thông tin vé xổ số, quay số mở thưởng và kết quả mở thưởng; chi phí đóng góp hoạt động của Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực.

Quy định mới về điều kiện đầu tư kinh doanh vũ khí quân dụng phục vụ quốc phòng, an ninh

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phan Văn Giang vừa ký Nghị định số 397/2026/NĐ-CP ngày 26/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2022/NĐ-CP ngày 08/12/2022 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh quân trang, quân dụng, vũ khí quân dụng, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh.

Trong đó, Nghị định 397/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7 về điều kiện đầu tư kinh doanh vũ khí quân dụng phục vụ quốc phòng, an ninh như sau:

Việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, xuất khẩu, nhập khẩu vũ khí phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh thực hiện theo quy định tại Điều 17 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Tổ chức, doanh nghiệp được đầu tư kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu vũ khí khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 9 Nghị định số 149/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Phê duyệt Chương trình “Hàng Việt vì người Việt” giai đoạn 2026 - 2030

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 2069/QĐ-TTg ngày 29/10/2026 phê duyệt Chương trình “Hàng Việt vì người Việt” giai đoạn 2026 - 2030 (Chương trình).

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là xây dựng và phát triển hệ sinh thái hàng Việt Nam đảm bảo chất lượng, có sức cạnh tranh thực chất, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường và người tiêu dùng trong nước; hình thành các thương hiệu hàng Việt mạnh được người tiêu dùng tin tưởng và sẵn sàng lựa chọn; đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng "02 con số" của nền kinh tế.

Cán bộ, công chức cấp xã được hưởng phụ cấp công vụ 55%

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 381/2026/NĐ-CP quy định phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở xã, phường, đặc khu.

Nghị định số 381/2026/NĐ-CP quy định mức phụ cấp công vụ như sau:

1- Mức phụ cấp công vụ bằng 55% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) được áp dụng đối với cán bộ, công chức cấp xã không được hưởng tiền lương, thu nhập tăng thêm theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố về chi tiền lương, thu nhập tăng thêm.

2- Mức phụ cấp công vụ bằng 25% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) được áp dụng đối với cán bộ, công chức cấp xã được hưởng tiền lương, thu nhập tăng thêm theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố về chi tiền lương, thu nhập tăng thêm.

3- Trường hợp cán bộ, công chức cấp xã tại khoản 2 ở trên được hưởng mức tiền lương, thu nhập tăng thêm thấp hơn mức phụ cấp công vụ 55% thì được hưởng chênh lệch cho bằng mức phụ cấp công vụ 55%.

Tăng trợ cấp đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị định số 388/2026/NĐ-CP ngày 13/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2017/NĐ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ quy định về chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975.

Nghị định 388/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 112/2017/NĐ-CP với nhiều điểm mới đáng chú ý như: Điều chỉnh mức trợ cấp hằng tháng, đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục hành chính, bổ sung hình thức nộp trực tuyến, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975.

Về chế độ trợ cấp hằng tháng, Điều 5 Nghị định 112/2017/NĐ-CP quy định thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam không còn khả năng lao động và sống cô đơn, không nơi nương tựa thì được xét trợ cấp hằng tháng mức 540.000 đồng.

Mức trợ cấp trên được điều chỉnh tại Nghị định 388/2026/NĐ-CP như sau: Thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam không còn khả năng lao động và sống cô đơn, không nơi nương tựa thì được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 02 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội theo quy định hiện hành.

Theo Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội, mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 1/7/2026 là 540.000 đồng/tháng.

Mở rộng phương thức gửi hồ sơ đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký ban hành Nghị định số 382/2026/NĐ-CP ngày 6/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng.

Nghị định số 382/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 7 theo hướng mở rộng phương thức gửi hồ sơ để đăng ký tham gia Cơ chế thử nghiệm, điều chỉnh giải pháp thử nghiệm, dừng thử nghiệm, gia hạn thời gian thử nghiệm và đề nghị cấp Giấy chứng nhận hoàn thành thử nghiệm.

Theo quy định mới, hồ sơ được gửi qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật hoặc nộp trực tiếp tới Bộ phận Một cửa Ngân hàng Nhà nước hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Trước, Nghị định số 94/2025/NĐ-CP quy định hồ sơ chỉ được gửi qua đường bưu điện (dịch vụ bưu chính) hoặc nộp trực tiếp tới Bộ phận Một cửa Ngân hàng Nhà nước hoặc trực tuyến tại Cổng dịch vụ công Ngân hàng Nhà nước hoặc Cổng dịch vụ công quốc gia.

Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 phê duyệt Đề án "Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035".

Mục tiêu chung của Đề án là tái cấu trúc hệ thống các chương trình thuộc phạm vi Đề án thành 06 nhóm theo hướng tinh gọn, đồng bộ, phân định rõ mục tiêu, phạm vi và định hướng kết quả; bảo đảm liên thông từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ đến ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm...

1- Nhóm chương trình phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia;

2- Nhóm chương trình nghiên cứu cơ bản;

3- Nhóm chương trình trọng điểm quốc gia;

4- Nhóm chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia;

5- Nhóm chương trình quốc gia đặc biệt;

6- Nhóm chương trình chuyển đổi số quốc gia.

Phê duyệt Đề án "Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật"

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1949/QĐ-TTg ngày 8/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật".

Mục tiêu tổng quát của Đề án là xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật trở thành hạ tầng dữ liệu pháp luật quốc gia nhằm phục vụ tích hợp, chuẩn hóa, liên kết, phân tích và cung cấp dịch vụ dữ liệu pháp luật dùng chung, bảo đảm tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung", áp dụng công nghệ hiện đại, làm nền tảng để xây dựng, phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo chính xác, hiệu quả, góp phần đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, hướng tới xây dựng nền quản trị pháp luật thông minh. Thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, góp phần đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Cơ chế thu hút chuyên gia, tài năng trẻ trong hoạt động đổi mới sáng tạo, khai thác dữ liệu

Nghị định số 386/2026/NĐ-CP ngày 12/10/2026 của Chính phủ quy định rõ cơ chế thu hút chuyên gia, tài năng trẻ trong hoạt động đổi mới sáng tạo, khai thác dữ liệu.

Theo đó, chuyên gia, tài năng trẻ đáp ứng điều kiện theo quy định tại Nghị định này được hưởng một hoặc một số cơ chế ưu đãi sau đây:

a) Tuyển dụng, tiếp nhận, ký hợp đồng đối với chuyên gia, tài năng trẻ từ đủ 18 tuổi tại đơn vị theo quy định trên cơ sở năng lực, sản phẩm, bằng chứng về kết quả công trình nghiên cứu, sản phẩm công nghệ, bài báo khoa học hoặc giải pháp đã được ứng dụng thực tiễn; số năm kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực dữ liệu, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ số; kết quả đánh giá hồ sơ theo tiêu chí công khai trước khi tiến hành tuyển dụng và kết quả đầu ra;

b) Hưởng thù lao, tiền thưởng, mức hỗ trợ tăng thêm, quyền lợi vật chất và phi vật chất khác tương xứng với trình độ, năng lực, giá trị đóng góp và hiệu quả công việc theo quy định;

c) Được giao quyền chủ trì hoặc tham gia thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dự án dữ liệu quan trọng;

d) Áp dụng cơ chế phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, ươm tạo, hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm, phát triển tài năng và quy định tại điểm b, điểm c ở trên đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Nghị định cũng nêu rõ, chuyên gia, tài năng trẻ được hưởng các ưu đãi tốt nhất về thuế thu nhập cá nhân theo quy định pháp luật về thuế; được áp dụng quy định về miễn thuế thu nhập cá nhân tương tự như quy định của pháp luật về chính sách tài chính trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam...

Quy định mới về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký ban hành Nghị định số 379/2026/NĐ-CP ngày 2/10/2026 quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô.

Nghị định 379/2026/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô gồm: Xe ô tô phục vụ công tác các chức danh; xe ô tô phục vụ công tác chung; xe ô tô chuyên dùng; xe ô tô phục vụ lễ tân nhà nước.

Nghị định quy định mức giá mua xe ô tô phục vụ công tác chung tối đa 950 triệu đồng/xe. Trường hợp cần thiết trang bị xe ô tô từ 12 đến 16 chỗ ngồi, mức giá tối đa là 1,3 tỷ đồng/xe; xe ô tô 2 cầu loại 7 hoặc 8 chỗ ngồi, mức giá tối đa 1,6 tỷ đồng/xe.

Đối với một số nhiệm vụ đặc thù cần sử dụng xe có công suất lớn, mức giá được quy định cao hơn.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 16/11/2026.

Phê duyệt Đề án "Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông"

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1965/QĐ-TTg ngày 12/10/2026 phê duyệt Đề án "Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông".

Mục đích của Đề án là xây dựng Hệ thống đồng bộ, hiện đại, liên thông và dùng chung, phục vụ đổi mới giáo dục phổ thông; bảo đảm học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được tiếp cận, khai thác học liệu số có chất lượng, phù hợp với nhu cầu dạy và học.

Phân cấp thẩm quyền cấp tài khoản Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ cacbon

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Nghị định số 396/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, Nghị định số 83/2026/NĐ-CP và Nghị định số 112/2026/NĐ-CP.

Nghị định 396/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 18 về đăng ký tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ cacbon theo hướng quy định rõ cơ quan cấp tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia theo từng nhóm đối tượng.

Cụ thể, Nghị định quy định đối với cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính, cơ quan, tổ chức tham gia chương trình, dự án được đăng ký theo các cơ chế tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 20a Nghị định này, cơ quan, tổ chức tham gia dự án carbon rừng có diện tích rừng thuộc phạm vi hành chính trên địa bàn 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia và gửi thông tin cho cơ sở, cơ quan, tổ chức.

Đối với cơ quan, tổ chức tham gia dự án được đăng ký theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự án cấp tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia và gửi thông tin cho tổ chức sau khi phê duyệt đăng ký dự án.

Đối với cơ quan, tổ chức tham gia chương trình, dự án đăng ký theo cơ chế tại điểm c khoản 1 Điều 20a Nghị định này, cơ quan, tổ chức gửi hồ sơ đăng ký tài khoản theo một trong các hình thức: trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính tới Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh trong trường hợp dự án đăng ký trên địa bàn 01 đơn vị hành chính cấp tỉnh hoặc tới Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh của một trong các khu vực thực hiện dự án trong trường hợp dự án đăng ký trên địa bàn 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên hoặc trực tuyến tại Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia.

Phòng ngừa, xử lý nguy cơ xâm hại, lừa đảo trẻ em từ công nghệ số

Chiến lược quốc gia về phát triển trẻ em giai đoạn 2026 - 2035 và tầm nhìn đến năm 2045 vừa được phê duyệt tại Quyết định số 2033/QĐ-TTg. Một trong những nhiệm vụ của Chiến lược là triển khai các biện pháp bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; phối hợp phòng ngừa, phát hiện, xử lý nguy cơ xâm hại, lừa đảo, bắt nạt, dụ dỗ, bóc lột và các nguy cơ mới phát sinh từ công nghệ số; kết nối các cơ quan có thẩm quyền, gia đình, nhà trường và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ số để hỗ trợ kịp thời trẻ em...

Kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay từ khi đề xuất chính sách

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị định số 385/2026/NĐ-CP ngày 09/10/2026 quy định về kiểm soát thủ tục hành chính.

Theo Nghị định, kiểm soát thủ tục hành chính phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, cải cách hành chính; bảo đảm sự tham gia của cá nhân, tổ chức và các bên có liên quan trong quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá thủ tục hành chính.

Kịp thời phát hiện để bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà; kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay từ khi đề xuất chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính…

Các trường hợp người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động

Tại Nghị định số 393/2026/NĐ-CP ngày 20/10/2026, Chính phủ quy định cụ thể các trường hợp người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Cụ thể, các trường hợp người lao động nước ngoài sau không thuộc diện cấp giấy phép lao động:

1. Người lao động nước ngoài thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 154 của Bộ luật Lao động.

2. Người lao động nước ngoài là chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn có giá trị góp vốn từ 03 tỷ đồng trở lên của công ty trách nhiệm hữu hạn.

3. Người lao động nước ngoài là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị có giá trị góp vốn từ 03 tỷ đồng trở lên của công ty cổ phần.

4. Người lao động nước ngoài vào Việt Nam để cung cấp dịch vụ tư vấn về chuyên môn và kỹ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng, thẩm định, theo dõi đánh giá, quản lý và thực hiện chương trình, dự án sử dụng viện trợ không hoàn lại, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi theo quy định trong các văn kiện dự án, phi dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc thỏa thuận quốc tế về vốn hỗ trợ phát triển chính thức hoặc trong các điều ước quốc tế về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi đã ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài.

5. Người lao động nước ngoài là phóng viên hoạt động thông tin báo chí được Bộ Ngoại giao xác nhận.

6. Người lao động nước ngoài được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cử sang Việt Nam giảng dạy, làm nhà quản lý, giám đốc điều hành tại cơ sở giáo dục do cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, tổ chức liên chính phủ đề nghị thành lập tại Việt Nam hoặc các cơ sở, tổ chức được thành lập theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia.

7. Học sinh, sinh viên, học viên nước ngoài đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo tại Việt Nam hoặc nước ngoài có thỏa thuận thực tập hoặc thư mời làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam; học viên thực tập, tập sự trên tàu biển Việt Nam.

8. Người lao động nước ngoài là thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam được phép làm việc tại Việt Nam theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

9. Người lao động nước ngoài có hộ chiếu công vụ vào làm việc cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.

10. Người lao động nước ngoài chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại.

11. Người lao động nước ngoài là tình nguyện viên.

12. Người lao động nước ngoài vào Việt Nam thực hiện thỏa thuận quốc tế mà cơ quan, tổ chức ở trung ương, cấp tỉnh ký kết theo quy định của pháp luật.

13. Người lao động nước ngoài thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Vào Việt Nam làm việc ngắn hạn. Trường hợp có phát sinh quan hệ thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương phải thực hiện đề nghị cấp giấy phép lao động theo hình thức hợp đồng lao động quy định tại Điều 19 Nghị định này;

b) Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ theo biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới theo Phụ lục II kèm theo Nghị định này.

14. Người nước ngoài làm việc tại các cơ sở giáo dục, gồm:

a) Tham gia giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao chương trình giáo dục quốc tế, gồm: giảng dạy trong các chương trình liên kết giáo dục, liên kết đào tạo đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phê duyệt; tham gia các dự án, đề tài, chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo hoặc các dự án hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc ký kết;

b) Tham gia các chương trình, dự án hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa cơ sở giáo dục nước ngoài và cơ sở giáo dục tại Việt Nam thông qua văn bản hợp tác, chương trình liên kết đào tạo;

c) Có trình độ thạc sĩ trở lên trong các lĩnh vực STEM, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tài chính, kinh tế, quản trị kinh doanh tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục;

d) Có trình độ tiến sĩ tham gia công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học;

đ) Có chức danh giáo sư, phó giáo sư tham gia giảng dạy, nghiên cứu, trao đổi học thuật tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.

15. Người lao động nước ngoài được các bộ, cơ quan ngang bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận.

16. Các đối tượng vào Việt Nam làm việc được cấp thẻ miễn thị thực đặc biệt theo quy định tại Nghị định số 221/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc miễn thị thực có thời hạn cho người nước ngoài thuộc diện đối tượng đặc biệt cần ưu đãi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

17. Người lao động nước ngoài là chuyên gia làm việc trong lĩnh vực thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và thân nhân.

18. Người lao động nước ngoài được thu hút theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo.

Kế hoạch thực hiện Kết luận số 107-KL/TW về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định 2034/QĐ-TTg ngày 23/10/2026 ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 107-KL/TW ngày 17/10/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế.

Một trong những nhiệm vụ, giải pháp của Kế hoạch là xác định vị trí việc làm. Cụ thể, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm thuộc phạm vi quản lý trên cơ sở kết quả rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức thực hiện công việc; kế thừa các danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc, khung năng lực đã được phê duyệt, xác nhận và còn phù hợp; cập nhật những nội dung thay đổi, còn thiếu hoặc chưa được kiểm chứng.

Việc hoàn thiện vị trí việc làm phải phản ánh đúng nhiệm vụ, công việc chủ yếu, sản phẩm đầu ra, trách nhiệm, quan hệ công tác và yêu cầu năng lực; phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của công việc, đặc thù ngành, lĩnh vực, địa bàn và mô hình tổ chức. Đối với nhiệm vụ được chuyển giao, phân cấp, phân quyền hoặc thay đổi phương thức thực hiện, phải xác định rõ phần việc còn lại, phần việc phát sinh và trách nhiệm thực hiện ở từng cấp, từng cơ quan, đơn vị...

Xây dựng Khung tiêu chí quốc gia về nhân tài theo hướng mở

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị quyết số 336/NQ-CP ngày 23/10/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 105-KL/TW, ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Trong đó, Chính phủ giao Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng, trình Chính phủ hồ sơ Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc biệt về công tác nhân tài.

Xây dựng Khung tiêu chí quốc gia về nhân tài theo hướng mở, linh hoạt, gồm tiêu chí chung và tiêu chí đặc thù theo nhóm đối tượng, ngành, lĩnh vực, loại nhiệm vụ; rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các quy định về thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài trong hệ thống chính trị, trong đó có Nghị định số 179/2024/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ quy định chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, bảo đảm thống nhất với cơ chế, chính sách đặc biệt được cấp có thẩm quyền quyết định; nghiên cứu hoàn thiện chính sách về tiền lương, nhà ở, đất đai và phân cấp, phân quyền trong công tác nhân tài, ưu tiên địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo...

Chức năng và nhiệm vụ của cơ sở trợ giúp xã hội

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị định số 395/2026/NĐ-CP ngày 23/10/2026 quy định về hoạt động và quản lý cơ sở trợ giúp xã hội.

Nghị định quy định cơ sở trợ giúp xã hội có chức năng phòng ngừa, chăm sóc, nuôi dưỡng, can thiệp, trị liệu hỗ trợ phục hồi, phát triển và hòa nhập cộng đồng cho đối tượng.

Cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện một số hoặc đầy đủ các nhiệm vụ sau đây phù hợp với chức năng, loại hình cơ sở, đối tượng phục vụ, yêu cầu hoạt động theo quy định của pháp luật, cụ thể: Cung cấp các dịch vụ chăm sóc, trợ giúp khẩn cấp; tham vấn, trị liệu rối nhiễu tâm trí, khủng hoảng tâm lý và phục hồi thể chất cho đối tượng; tư vấn và trợ giúp đối tượng thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội; kết nối, phối hợp và giới thiệu đến Trung tâm trợ giúp pháp lý để thực hiện cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý có nhu cầu; phối hợp với các cơ quan, tổ chức phù hợp khác để bảo vệ, trợ giúp đối tượng; tìm kiếm, sắp xếp các hình thức chăm sóc; tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống và không có điều kiện sinh sống tại gia đình, cộng đồng; tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, trợ giúp các đối tượng trong các hoạt động tự quản, văn hóa, thể thao, các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe của từng nhóm đối tượng lao động sản xuất theo quy định của pháp luật...

Tăng cường phòng, chống gian lận thi cử, kiểm tra, đánh giá trong giáo dục đào tạo

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Chỉ thị số 37/CT-TTg ngày 20/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng, chống gian lận thi cử, kiểm tra, đánh giá trong giáo dục và đào tạo.

Chỉ thị yêu cầu các các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, người đứng đầu cơ sở giáo dục, cơ sở đào tạo, các đơn vị liên quan phải rà soát tổng thể, hoàn thiện các quy định, quy chế thi, hướng dẫn, quy trình tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá, tăng cường ứng dụng công nghệ và các biện pháp kỹ thuật để phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm; đồng thời coi ý thức tuân thủ quy chế, pháp luật, trách nhiệm và liêm chính của mỗi tổ chức, cá nhân là yếu tố nền tảng, quan trọng nhất.

Kiên quyết phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng quy định các hành vi học thay, thi hộ, đạo văn, sửa điểm, làm lộ, lọt đề thi, sử dụng công nghệ cao để gian lận; hành vi bao che, tiếp tay hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tác động đến kết quả học tập, kiểm tra, đánh giá và thi; xử lý nghiêm minh tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định, không có vùng cấm, không có ngoại lệ....

Xây dựng y học cổ truyền thành bộ phận quan trọng của hệ thống y tế quốc gia

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 13/10/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược).

Mục tiêu của Chiến lược nhằm phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam toàn diện, hiện đại, khoa học và hội nhập quốc tế; xây dựng y học cổ truyền trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống y tế quốc gia.

Đồng thời, phát triển đồng bộ hệ thống khám bệnh, chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ, dược liệu và công nghiệp dược liệu; từng bước hình thành ngành kinh tế y dược cổ truyền có giá trị gia tăng cao, góp phần phát triển kinh tế sức khỏe, du lịch y tế và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia; xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam...

Phát động Phong trào "Mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký ban hành Công điện số 69/CĐ-TTg ngày 7/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức Lễ phát động Phong trào "Mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên".

Công điện yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, các cơ quan liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức Lễ phát động Phong trào "Mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên" theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến toàn quốc vào ngày 10 tháng 10 năm 2026; điểm cầu trực tiếp tại Thủ đô Hà Nội, kết nối trực tuyến đồng thời tới 33 điểm cầu tại các tỉnh, thành phố; chuyển tải thông điệp sức khỏe Nhân dân là nền tảng của chất lượng cuộc sống và sức mạnh quốc gia; tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, cơ sở vật chất để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động xây dựng môi trường làm việc năng động, văn minh và hiệu quả; tích cực rèn luyện thân thể, tạo chuyển biến rõ nét về nhận thức và hành động trong từng gia đình, cộng đồng và toàn xã hội...

Tháng 12/2026, phát động Phong trào "Toàn dân xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, hiện đại" trên cả nước

Phó Thủ tướng Phan Văn Giang vừa ký Chỉ thị số 38/CT-TTg ngày 30/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Phong trào "Toàn dân xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, hiện đại" (Phong trào).

Chỉ thị nêu rõ, tháng 12 năm 2026 tổ chức phát động Phong trào trên phạm vi cả nước. Mục tiêu nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp, các ngành và toàn dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vai trò chủ thể của Nhân dân và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; đột phá phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng vững mạnh, thích ứng với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển nhanh và bền vững.

MỘT SỐ CHÍNH SÁCH MỚI CỦA CHÍNH PHỦ CÓ HIỆU LỰC TỪ THÁNG 11/2026

Quy định nhóm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự

Theo Nghị định số 392/2026/NĐ-CP ngày 20/10/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2026, Chính phủ quy định 10 ngành, nghề phải có phương án bảo đảm an ninh, trật tự gồm:

1. Kinh doanh công cụ hỗ trợ (bao gồm cả sửa chữa);

2. Kinh doanh các loại pháo, trừ pháo nổ;

3. Kinh doanh trò chơi có thưởng (bao gồm trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài, casino và đặt cược);

4. Kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp;

5. Kinh doanh tiền chất thuốc nổ;

6. Kinh doanh ngành, nghề có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ;

7. Kinh doanh dịch vụ nổ mìn;

8. Kinh doanh dịch vụ vũ trường;

9. Kinh doanh dịch vụ lưu trú (đối với cơ sở kinh doanh là doanh nghiệp);

10. Kinh doanh súng cầm tay, súng vác vai, đạn sử dụng cho các loại vũ khí này trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số bị phạt tới 200 triệu đồng

Chính phủ ban hành Nghị định số 389/2026/NĐ-CP ngày 14/10/2026, có hiệu lực từ ngày 30/11/2026, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số.

Nghị định này quy định hành vi vi phạm hành chính, hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số.

Nghị định quy định mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 lần mức phạt tiền đối với tổ chức cho cùng hành vi vi phạm. Cụ thể, mức phạt tiền đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số tối đa là 100.000.000 đồng, đối với tổ chức tối đa là 200.000.000 đồng.

Quy định về giáo dục bắt buộc

Nghị định 353/2026/NĐ-CP ngày 11/9/2026 của Chính phủ quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ, có hiệu lực từ ngày 1/11/2026.

Theo đó, đối tượng giáo dục tiểu học bắt buộc là trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 chưa hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học. Đối tượng giáo dục trung học cơ sở bắt buộc là thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi từ 11 đến 18 đã hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học nhưng chưa hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở.

Chương trình giáo dục tiểu học, trung học cơ sở bắt buộc là chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học, trung học cơ sở do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Từ ngày 15/11/2026, tổ chức nước ngoài tuyển lao động Việt Nam phải đăng tin tuyển dụng trên Sàn giao dịch việc làm quốc gia

Chính phủ ban hành Nghị định số 371/2026/NĐ-CP ngày 25/09/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2026, quy định chi tiết việc tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Nghị định quy định rõ về tuyển dụng người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Theo đó, khi có nhu cầu tuyển dụng người lao động Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài phải thông báo bằng văn bản trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến, qua địa chỉ thư điện tử chính thức của cơ quan, tổ chức quản lý quy định tại Điều 5 Nghị định này, trong đó nêu rõ vị trí việc làm, số lượng cần tuyển dụng.

Đồng thời, tổ chức, cá nhân nước ngoài phải thực hiện đăng tải công khai thông tin tuyển dụng người lao động Việt Nam trên Sàn giao dịch việc làm quốc gia (địa chỉ: https://www.vieclam.gov.vn) hoặc cổng thông tin việc làm hợp pháp khác hoặc trang thông tin điện tử chính thức của tổ chức.

Tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tuyển dụng người lao động Việt Nam hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức quản lý quy định tại Điều 5 Nghị định này hỗ trợ việc tuyển dụng người lao động Việt Nam.

Khi có đề nghị từ tổ chức, cá nhân nước ngoài, cơ quan, tổ chức quản lý quy định tại Điều 5 Nghị định này thực hiện việc tuyển chọn, giới thiệu ứng viên theo mô tả công việc đã được cung cấp.

Phạt đến 40 triệu đồng đối với hành vi thu thập, tạo lập dữ liệu không được chủ sở hữu cho phép

Chính phủ ban hành Nghị định số 363/2026/NĐ-CP ngày 19/9/2026, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/11/2026, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dữ liệu.

Hành vi thu thập, tạo lập dữ liệu làm rò rỉ thông tin nhạy cảm, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc an ninh quốc gia sẽ bị phạt từ 40-60 triệu đồng.

Nghị định 363/2026/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính, đối tượng bị xử phạt, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực dữ liệu.

Nghị định này không điều chỉnh các hành vi vi phạm hành chính thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Sửa đổi nhiều quy định về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực thống kê

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 362/2026/NĐ-CP ngày 18/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 100/2021/NĐ-CP ngày 15/11/2021 của Chính phủ (Nghị định số 95/2016/NĐ-CP).

Trong đó, Nghị định số 362/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về xử lý vi phạm trên môi trường điện tử; biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; thẩm quyền xử phạt của Thanh tra, Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành, lĩnh vực và một số chức danh khác...

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 2/11/2026.

Theo baochinhphu.vn

Có thể bạn quan tâm