Do vậy, việc lạm dụng, phô trương đốt vàng mã sẽ khiến cho tín ngưỡng bị thương mại hóa, biến một tập tục giản dị thành một hình thức tiêu dùng tâm linh...
Khi tập tục bị biến thành hình thức tiêu dùng tâm linh

Đốt vàng mã là tập tục gắn với đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người dân Việt Nam nhiều đời nay. Ảnh: Nam Nguyễn
Sau nhiều năm tuyên truyền và vận động thực hành tín ngưỡng văn minh, việc đốt vàng mã tại nhiều cơ sở tôn giáo, đặc biệt là các ngôi chùa, đã có những chuyển biến rõ rệt. Không ít chùa trên cả nước đã chủ động hạn chế hoặc không khuyến khích việc đốt vàng mã, hướng Phật tử tới những nghi lễ giản dị, đề cao việc tu tâm, tích đức thay vì sắm sửa lễ vật tốn kém.
Tuy nhiên, thực tế tại nhiều đền, phủ và cơ sở thờ tự gắn với tín ngưỡng dân gian lại cho thấy một bức tranh khác. Ở không ít nơi, cảnh người dân mang theo những tập tiền âm phủ, ngựa giấy hay các mô hình vàng mã để hóa vàng sau khi hành lễ vẫn diễn ra phổ biến, đặc biệt vào dịp lễ hội đầu năm. Những lò hóa vàng đỏ lửa, những gian hàng vàng mã bày bán dày đặc trước cổng đền vẫn là hình ảnh quen thuộc tại nhiều điểm tín ngưỡng.
Sự khác biệt này đặt ra câu hỏi: Vì sao việc hạn chế đốt vàng mã tại các chùa có thể đạt được những chuyển biến tích cực, trong khi tại nhiều đền, phủ, tập tục này vẫn tồn tại khá phổ biến? Và liệu việc đốt vàng mã có thực sự là biểu hiện của lòng thành kính trong đời sống tín ngưỡng của người Việt?
Theo các chuyên gia văn hóa và tôn giáo, để hiểu đúng bản chất của vấn đề, cần nhìn nhận tập tục đốt vàng mã trong bối cảnh lịch sử, tín ngưỡng tín ngưỡng và những biến đổi của đời sống xã hội hiện đại.
Chia sẻ với Báo Công Thương, PGS. TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội cho hay, trong Phật giáo, quan niệm cốt lõi về sự tưởng nhớ người đã khuất không nằm ở việc “gửi” vật chất sang thế giới bên kia, mà ở việc tu dưỡng tâm thiện, làm việc lành và hồi hướng công đức cho người đã mất. Đức Phật từng dạy rằng mọi chúng sinh đều chịu sự chi phối của nghiệp và nhân quả; không ai có thể thay đổi nghiệp của người khác bằng của cải hay lễ vật, càng không thể bằng những vật phẩm tượng trưng như vàng mã.
Đặc biệt, theo PGS. TS Bùi Hoài Sơn, trong giáo lý Phật giáo, hiếu đạo được hiểu theo nghĩa sâu sắc hơn nhiều. Hiếu không chỉ là tưởng nhớ cha mẹ, tổ tiên bằng hình thức nghi lễ, mà quan trọng hơn là sống tốt, sống có đạo đức, làm những điều thiện lành để báo đáp công ơn sinh thành. Các kinh điển Phật giáo thường nhấn mạnh việc bố thí, làm phúc, giúp đỡ người nghèo khó, tu tập và hồi hướng công đức cho cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp. Đó mới là con đường được xem là mang lại lợi ích thực sự cho cả người sống và người đã khuất.
“Ở góc độ văn hóa, việc đốt vàng mã từng là một biểu tượng của lòng tưởng nhớ tổ tiên, phản ánh tâm thức “trần sao âm vậy” của cư dân nông nghiệp. Nhưng nếu nhìn từ quan điểm Phật giáo thuần túy, việc này không phải là điều bắt buộc, càng không phải là thước đo của lòng hiếu kính” – PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho hay.

PGS. TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội.
Tuy nhiên, khi những quan niệm với tâm lý “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” đốt vàng mã dần trở thành một thói quen văn hóa phổ biến, thậm chí có xu hướng phô trương với nhiều hình thức như nhà lầu, xe hơi, đồ dùng hiện đại bằng giấy. Hiện tượng này phản ánh một thực tế khá phức tạp trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng hiện nay, khi nhiều phong tục dân gian, yếu tố tâm lý xã hội và cả tác động của kinh tế thị trường đang cùng lúc ảnh hưởng đến cách người dân thực hành đời sống tâm linh. Trong đó, tập tục này gắn với quan niệm rằng người đã khuất vẫn tiếp tục tồn tại ở một thế giới khác và cần được “chu cấp” những vật dụng tương tự như ở trần gian.
Nhìn từ góc độ nghiên cứu, TS. Hoàng Văn Chung - Trưởng phòng Phòng Nghiên cứu Phật giáo và Lý luận tôn giáo (Viện Nghiên cứu tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) chỉ ra, trong thực tế hiện nay tại Việt Nam có một số nhóm đối tượng sử dụng và đốt vàng mã phổ biến nhất, đó là các cá nhân trong phạm vi gia đình, đặc biệt trong các dịp lễ, tết, ngày giỗ hoặc những sự kiện gắn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, các cơ sở thực hành tín ngưỡng dân gian như đền, phủ, miếu.
“Trong quá trình nghiên cứu và quan sát thực tế, chúng tôi nhận thấy tại một số cơ sở thực hành tín ngưỡng bản địa như đền, phủ, miếu có dấu hiệu lạm dụng đồ mã. Nhiều nơi tổ chức đốt vàng mã với quy mô lớn, thậm chí mang tính phô trương” - TS. Hoàng Văn Chung chia sẻ.
Chỉ rõ nguyên nhân về xu hướng đốt vàng mã phô trương, theo PGS. TS Bùi Hoài Sơn, nguyên nhân đến từ tâm lý cạnh tranh và phô bày trong đời sống tâm linh. Đó là, nhiều người nghĩ rằng lễ càng lớn, vàng mã càng nhiều thì càng thể hiện lòng thành. Một phần khác đến từ sự phát triển của thị trường sản xuất vàng mã, khi các sản phẩm ngày càng đa dạng, từ nhà lầu, xe hơi cho đến điện thoại, thẻ ngân hàng hay thậm chí cả “biệt thự” bằng giấy. Điều này vô hình trung khiến hoạt động tín ngưỡng bị thương mại hóa, biến một tập tục giản dị thành một hình thức tiêu dùng tâm linh. Ngoài ra, sự thiếu hiểu biết đầy đủ về giáo lý tôn giáo và ý nghĩa đích thực của các nghi lễ cũng góp phần làm cho tập tục này lan rộng.
Nâng cao nhận thức không chỉ bằng mệnh lệnh hành chính
Từ những hệ luỵ của việc đốt vàng mã, gây lãng phí, tác động đến môi trường, sức khoẻ, cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã nhiều lần lên tiếng nêu rõ quan điểm ủng hộ hạn chế. Theo đó, Bộ này đã ban hành nhiều văn bản tuyên truyền, thuyết phục hạn chế, đồng thời, liên tiếp giao cơ quan chuyên môn đề xuất giải pháp cụ thể. Cùng đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã ban hành văn bản đề nghị chư tôn đức tăng ni nêu cao tinh thần Bồ tát đạo, hướng dẫn đồng bào Phật tử và bà con loại bỏ mê tín dị đoan, đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo và các hình thức khác trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam.
Nhờ sự quyết liệt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong việc giải thích rõ giáo lý và hướng dẫn phật tử thực hành tín ngưỡng đúng tinh thần Phật pháp. Bên cạnh đó là sự vào cuộc mạnh mẽ của các cơ quan quản lý văn hóa, của báo chí và truyền thông trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng. Và khi xã hội ngày càng quan tâm đến các vấn đề môi trường, an toàn cháy nổ và lãng phí tài nguyên, người dân cũng bắt đầu nhìn nhận lại thói quen đốt vàng mã dưới góc độ trách nhiệm xã hội. Trong những năm gần đây, có thể thấy một sự chuyển biến khá rõ trong nhận thức của người dân và phật tử về việc đốt vàng mã. Điều đáng mừng, là ngày càng có nhiều người hiểu rằng lòng thành không nằm ở mâm cao cỗ đầy hay số lượng vàng mã, mà ở sự thành kính và đời sống thiện lành của mỗi cá nhân.

Cần tiếp tục tuyên tuyền nâng cao nhận thức của người dân về đốt vàng mã. Ảnh: Nam Nguyễn
Tuy vậy, hiện tại, ở một số nơi, việc đốt vàng mã vẫn diễn ra với quy mô lớn, đặc biệt vào các dịp lễ hội hoặc tại một số di tích nổi tiếng. Một bộ phận người dân vẫn giữ tâm lý “lễ lớn mới linh”, hoặc cho rằng hạn chế vàng mã là “mất lộc”. Vì thế, để thay đổi nhận thức của người dân về đốt vàng mã là một quá trình cần thêm thời gian và cần được thực hiện bằng những cách tiếp cận mềm dẻo, thuyết phục, tôn trọng đời sống tâm linh của cộng đồng. PGS. TS Bùi Hoài Sơn nêu rõ, điều quan trọng nhất là tiếp tục kiên trì tuyên truyền, giải thích bằng ngôn ngữ văn hóa và tôn giáo chứ không chỉ bằng mệnh lệnh hành chính. Khi người dân hiểu rằng việc hạn chế vàng mã không phải là phủ nhận truyền thống, mà là làm cho đời sống tâm linh trở nên lành mạnh và văn minh hơn, sự thay đổi sẽ diễn ra một cách tự nhiên và bền vững.
TS. Hoàng Văn Chung đánh giá, yêu cầu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã ban hành văn bản yêu cầu không đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự của Phật giáo (năm 2018) đã góp phần định hướng cách thực hành tín ngưỡng trong hệ thống chùa chiền. Tuy nhiên, đối với các đền, phủ, miếu thuộc tín ngưỡng dân gian, hoạt động đốt vàng mã vẫn diễn ra phổ biến và khó kiểm soát.
Do vậy, cần xem xét một số giải pháp phù hợp. Trước hết là việc kiểm soát từ khâu sản xuất đồ mã. Có thể cân nhắc việc quy định giới hạn về kích thước đối với các sản phẩm vàng mã. Trong không gian thờ cúng truyền thống của người Việt, các vật phẩm như bánh chưng hay hộp mứt Tết từ lâu đã có kích cỡ ổn định và vẫn bảo đảm sự trang trọng. Vì vậy, không có lý do gì đồ mã phải được sản xuất với kích thước ngày càng lớn, khác xa tập quán lâu đời. Khi có quy định rõ ràng đối với đầu ra của sản phẩm, xu hướng phô trương trong việc sử dụng vàng mã có thể được hạn chế.
Về lâu dài cần, theo TS. Hoàng Văn Chung, nhằm hướng tới việc hạn chế mạnh hoạt động sản xuất và kinh doanh vàng mã nhằm giảm tình trạng tiêu dùng quá mức trong xã hội như áp dụng các công cụ kinh tế, chẳng hạn như tăng thuế đối với mặt hàng này, qua đó góp phần điều tiết thị trường và hạn chế việc sản xuất, tiêu thụ tràn lan. Song đây không phải là vấn đề dễ thực hiện.
Vàng mã đã tồn tại từ lâu trong đời sống tín ngưỡng của người dân, gắn với những thói quen văn hóa và tâm lý xã hội. Vì vậy, nếu chỉ áp dụng các biện pháp quản lý hành chính hoặc chính sách thuế một cách đơn lẻ thì khó đạt hiệu quả như mong muốn. “Yếu tố quan trọng hơn là cần chuẩn hóa nhận thức xã hội. Việc định hướng nên bắt đầu từ gia đình, sau đó lan tỏa ra cộng đồng. Khi người dân hiểu đúng ý nghĩa của tập tục, họ sẽ có cách ứng xử phù hợp hơn trong đời sống tín ngưỡng”- TS. Hoàng Văn Chung ý kiến.
Nêu quan điểm về đốt vàng mã ở góc độ pháp lý, trao đổi với Báo Công Thương, Luật sư Nghiêm Quang Vinh, Giám đốc Công ty Luật Nghiêm Quang, Đoàn Luật sư TP Hà Nội chia sẻ, những năm gần đây, nhu cầu sử dụng vàng mã có xu hướng gia tăng, đặc biệt khi một bộ phận người dân có điều kiện kinh tế nên sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn cho các sản phẩm vàng mã cầu kỳ, giá trị lớn. Có trường hợp người dân đốt một lúc từ hai mươi đến ba mươi cân, thậm chí bảy mươi cân vàng mã tại những khu vực không đúng quy định. Những hành vi này tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ cao, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của cộng đồng và trật tự xã hội.
Do đó, Luật sư Nghiêm Quang Vinh cho rằng, đốt vàng mã là tập tục tín ngưỡng của người dân, là giá trị văn hóa cần được tôn trọng, song phải thực hiện trong khuôn khổ quy định của Nhà nước. Việc quản lý hoạt động đốt vàng mã hiện nay cần được tiếp cận một cách khoa học, trong đó công tác tuyên truyền, vận động người dân vẫn là giải pháp quan trọng.
Thay vì áp dụng các chế tài cứng nhắc ngay từ đầu, cơ quan quản lý nên ưu tiên đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về nguy cơ cháy nổ và trách nhiệm cộng đồng. Việc quản lý cần bảo đảm sự hài hòa giữa việc giữ gìn thuần phong mỹ tục, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân với yêu cầu bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đặc biệt là công tác phòng cháy, chữa cháy.

Luật sư Nghiêm Quang Vinh, Giám đốc Công ty Luật Nghiêm Quang, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội
Đối với các trường hợp tổ chức đốt vàng mã với quy mô lớn, Luật sư Luật sư Nghiêm Quang Vinh khuyến nghị, chính quyền địa phương cần tăng cường công tác quản lý, kiểm tra và nhắc nhở kịp thời nhằm hạn chế rủi ro. Trong trường hợp việc đốt vàng mã dẫn đến cháy nổ hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, các cơ quan chức năng hoàn toàn có thể xem xét xử lý theo quy định của pháp luật, kể cả trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, việc áp dụng chế tài sẽ căn cứ vào mức độ hậu quả và thiệt hại thực tế để quyết định hình thức xử lý phù hợp. Tương tự như các vụ cháy nổ phát sinh từ sự bất cẩn trong sinh hoạt hàng ngày, nếu gây hậu quả nghiêm trọng, người gây ra sự cố phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, không chỉ dừng lại ở mức xử phạt hành chính.
Có thể thấy, nếu việc thiết lập và thực hiện nghiêm các quy định đốt vàng mã ngay từ cơ sở, cũng như người dân ngày càng hiểu rõ bản chất và nhận thức đúng đắn về tập tục này sẽ góp phần hình thành nếp sống văn hóa lành mạnh trong cộng đồng dân cư. Đặc biệt, đây cũng là cách cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, đồng thời thực hiện hiệu quả tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa đó là coi trọng việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, văn minh, hiện đại.
Theo PSG.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội: “Câu chuyện ở đây không chỉ là vấn đề tập tục, mà còn là câu chuyện về nhận thức văn hóa. Khi hiểu rõ hơn về ý nghĩa của tín ngưỡng, về tinh thần tiết chế và hướng thiện trong các tôn giáo lớn, người dân sẽ có xu hướng thực hành đời sống tâm linh một cách giản dị, văn minh và phù hợp hơn với các giá trị của xã hội hiện đại”.




