Nhìn nhận từ thực tiễn tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định: công tác tư tưởng là một trong những lĩnh vực trọng yếu hàng đầu, giữ vai trò “đi trước mở đường”, tạo sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, dù trong chiến tranh hay hòa bình, dù trong khó khăn hay thời kỳ phát triển, nền tảng tư tưởng của Đảng luôn là “linh hồn”, là “mạch nguồn” tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần và niềm tin của dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên số, kỷ nguyên của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện. Bối cảnh đó vừa mở ra thời cơ lớn để Việt Nam bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển với thế giới, vừa đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên số, kỷ nguyên của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện. Ảnh minh họa
Nghị quyết số 57-NQ/TW – bước đột phá chiến lược
Trong bối cảnh ấy, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia ra đời mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là nghị quyết về phát triển khoa học, công nghệ đơn thuần, mà còn là bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng; thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo.
Đối với ngành Công Thương - ngành giữ vai trò huyết mạch của nền kinh tế quốc dân, việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Đó không chỉ là nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế, công nghiệp, thương mại, năng lượng, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, mà còn là quá trình khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng bằng thực tiễn; củng cố niềm tin của nhân dân thông qua hiệu quả quản trị; tạo “lá chắn mềm” vững chắc để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong không gian số và trong đời sống xã hội hiện đại.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”. Tư tưởng là ngọn cờ dẫn đường cho hành động. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ sự đúng đắn của con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; bảo vệ niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận đang diễn ra ngày càng quyết liệt, phức tạp và tinh vi hơn. Nếu trước đây các hoạt động chống phá chủ yếu diễn ra thông qua tài liệu in ấn, phát tán trực tiếp hoặc truyền thông truyền thống, thì nay internet, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số xuyên biên giới đã trở thành công cụ để các thế lực thù địch gia tăng chống phá với tốc độ nhanh, phạm vi rộng và mức độ tác động sâu sắc chưa từng có.
Các luận điệu sai trái, xuyên tạc hiện nay thường không còn biểu hiện công khai, cực đoan như trước, mà núp bóng dưới các hình thức “góp ý chính sách”, “phản biện xã hội”, “phân tích kinh tế”, “bảo vệ người tiêu dùng”, “tự do ngôn luận”, “bảo vệ môi trường”, “chống tham nhũng”… nhằm gây nhiễu loạn thông tin, tạo tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin xã hội.
Đặc biệt, trong lĩnh vực Công Thương, nơi gắn trực tiếp với đời sống nhân dân, hoạt động sản xuất, kinh doanh và an ninh kinh tế quốc gia, các thông tin xuyên tạc thường tập trung vào những vấn đề nhạy cảm như giá điện, giá xăng dầu, thương mại điện tử, hàng giả, chuyển đổi xanh, chính sách công nghiệp, thủ tục hành chính, năng lượng tái tạo hay hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực tiễn cho thấy, bất kỳ lĩnh vực nào còn thiếu minh bạch thông tin, chậm chuyển đổi số, thủ tục hành chính còn rườm rà, dữ liệu chưa đồng bộ… đều có thể trở thành “điểm nóng” để các đối tượng xấu lợi dụng kích động dư luận xã hội.
Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày nay không chỉ là đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, mà quan trọng hơn là phải củng cố niềm tin bằng hiệu quả thực tiễn; bằng chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp; bằng năng lực quản trị hiện đại; bằng kết quả phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Nói cách khác, muốn bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới, phải xây dựng được một nền quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Đây chính là chiều sâu chính trị đặc biệt quan trọng của việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Nghị quyết số 57-NQ/TW) trong ngành Công Thương hiện nay.
Trong lịch sử phát triển đất nước, mỗi giai đoạn phát triển đều gắn với những quyết sách mang tầm chiến lược của Đảng. Nếu công cuộc đổi mới năm 1986 mở ra thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì Nghị quyết số 57-NQ/TW hôm nay chính là bước chuyển mạnh mẽ đưa đất nước tiến vào nền kinh tế số, xã hội số và quốc gia số.
Điểm đặc biệt quan trọng của Nghị quyết số 57-NQ/TW là Đảng ta đã xác định rất rõ: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là lĩnh vực hỗ trợ phát triển, mà đã trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng; là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia; là nền tảng để bảo đảm độc lập, tự chủ và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Đây là tư duy phát triển mang tính cách mạng và thể hiện bản lĩnh chính trị, trí tuệ của Đảng trong việc nắm bắt xu thế thời đại.
Đối với ngành Công Thương, Nghị quyết số 57-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi đây là ngành quản lý đa lĩnh vực, tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, an ninh năng lượng, sản xuất công nghiệp, thương mại trong nước và xuất nhập khẩu. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Bộ Công Thương đã thể hiện quyết tâm chính trị rất cao trong việc cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng thành những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, gắn với yêu cầu phát triển ngành trong kỷ nguyên số.
Ngay từ đầu năm 2026, Bộ đã chủ động rà soát, tổng hợp đầy đủ các nhóm nhiệm vụ được giao với tổng số 149 nhiệm vụ trọng tâm, gồm: 36 nhiệm vụ theo Chương trình số 02-CTr/BCĐTW; 19 nhiệm vụ theo Thông báo số 17-TB/CCTTBCĐ; 16 nhiệm vụ theo Nghị quyết số 11-NQ/CP; 17 nhiệm vụ theo Quyết định số 11/QĐ-BCĐCP; 42 nhiệm vụ theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP và các thông báo, văn bản liên quan; 7 nhiệm vụ theo các Công văn số 939-CV/VPTW, 1734-CV/VPTW; 12 nhiệm vụ theo Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW.
Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã ban hành và tổ chức triển khai đồng bộ 4 văn bản trọng tâm gồm: Quyết định số 318/QĐ-BCT ngày 13/02/2026; Quyết định số 596/QĐ-BCT ngày 31/3/2026; Công văn số 2918/BCT-ĐCK ngày 24/4/2026; Quyết định số 536/QĐ-BCT ngày 25/3/2026. Các văn bản này đã tạo khuôn khổ điều hành thống nhất trong toàn ngành; phân công rõ đầu mối, tiến độ, trách nhiệm thực hiện; bảo đảm việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW được thực hiện bài bản, đồng bộ và có kiểm tra, giám sát thường xuyên.
Những con số trên không đơn thuần phản ánh tiến độ hành chính, mà quan trọng hơn cho thấy tinh thần đổi mới tư duy lãnh đạo, phương thức quản trị và quyết tâm hành động của toàn ngành Công Thương trong thực hiện chủ trương lớn của Đảng.
Điều đáng chú ý, Bộ Công Thương xác định việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ dừng ở hoàn thành các đầu việc theo kế hoạch, mà cốt lõi là tạo chuyển biến thực chất về tư duy quản trị, phương thức điều hành và năng lực đổi mới sáng tạo trong toàn ngành. Đây chính là nền tảng để ngành Công Thương thích ứng với xu thế phát triển mới; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, xanh và bền vững; đồng thời nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia trong điều kiện chuyển đổi số toàn diện.
Tính đến ngày 11/5/2026, Bộ Công Thương không có nhiệm vụ quá hạn trên hệ thống theo dõi, giám sát thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Đây không chỉ là kết quả về tiến độ hành chính, mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm chính trị, sự quyết tâm đổi mới và năng lực tổ chức thực hiện của toàn ngành Công Thương trong triển khai chủ trương lớn của Đảng.
Đối với ngành Công Thương, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ góp phần phát triển kinh tế đất nước, mà còn trực tiếp góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Ảnh minh họa
Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng
Một trong những kết quả nổi bật và có ý nghĩa thiết thực nhất trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW chính là công tác chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và phát triển dịch vụ công trực tuyến. Trong công tác xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm xây dựng, chuẩn hóa và kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công trên môi trường số. Nhiều cơ sở dữ liệu trọng điểm đang từng bước hoàn thiện, tích hợp và đồng bộ với Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Đến nay, cơ sở dữ liệu hàng hóa, hóa chất và tiền chất đã tạo lập khoảng 204.000 dữ liệu; đang được đối soát với cơ sở dữ liệu dân cư để làm sạch dữ liệu và đã được đánh giá phù hợp để tích hợp nhóm dữ liệu về hóa chất, giấy phép hóa chất lên Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại cũng đã hoàn thành tích hợp, sẵn sàng đồng bộ các chỉ tiêu thương mại xuất nhập khẩu, cán cân thương mại hàng hóa theo thị trường, FTA, mặt hàng, lượng, giá, trị giá, tỷ trọng và tăng trưởng. Đồng thời, Bộ Công Thương đã rà soát 41 loại giấy tờ theo Chỉ thị số 24/CT-TTg để tích hợp lên ứng dụng VNeID, gồm 1 giấy tờ gắn với cá nhân và 40 giấy tờ gắn với tổ chức. Các giấy tờ đều đã được ký số khi cấp phép và sẵn sàng đưa vào khai thác trong quý II và quý III năm 2026.
Đặc biệt, Bộ Công Thương đã hoàn thành tái cấu trúc 162 thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu, gồm 05 thủ tục khai thác cơ sở dữ liệu dân cư, 152 thủ tục khai thác cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp và 05 thủ tục khai thác các cơ sở dữ liệu khác. Hệ thống giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ đã kết nối và sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và đăng ký doanh nghiệp nhằm cắt giảm thành phần hồ sơ cho người dân và doanh nghiệp. Trong 4 tháng đầu năm 2026, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ tiếp nhận 42.410 hồ sơ, trong đó có 42.012 hồ sơ trực tuyến, chiếm khoảng 99,1%; chỉ có 398 hồ sơ trực tiếp. Bộ đã xử lý 22.227 hồ sơ.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt trên 99%, mà sâu xa hơn là sự chuyển biến trong tư duy quản trị nhà nước: từ quản lý hành chính sang phục vụ người dân và doanh nghiệp trên nền tảng dữ liệu số. Đó cũng chính là biểu hiện sinh động của một nền hành chính kiến tạo, minh bạch và hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hiện nay, Bộ Công Thương đang công khai 511 thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, gồm 197 thủ tục cấp Bộ; 37 thủ tục cấp Bộ và cấp tỉnh; 261 thủ tục cấp tỉnh và 16 thủ tục cấp xã; đồng thời đã tích hợp 265 dịch vụ công trực tuyến. Năm 2025, Bộ thuộc nhóm 3 bộ, ngành dẫn đầu cả nước về chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công.
Đặc biệt, Bộ đã trình và được phê duyệt phương án cắt giảm 55,34% thủ tục hành chính; giảm 30,71% chi phí tuân thủ; giảm 33,18% tổng thời gian giải quyết và giảm 30,4% điều kiện đầu tư kinh doanh. Đến nay, Bộ đã hoàn thành cắt giảm, đơn giản hóa 88 thủ tục hành chính theo Quyết định số 1643/QĐ-TTg và Quyết định số 2671/QĐ-TTg.
Về phân cấp, phân quyền, Bộ đã hoàn thành phân cấp 43/45 thủ tục hành chính theo Quyết định số 1015/QĐ-TTg, đạt 95,5%; phân quyền, phân cấp cho địa phương 208/401 nhiệm vụ, đạt 52%, và 150/486 thủ tục hành chính, đạt 30,8%. Theo đề xuất mới tại Tờ trình số 2826/TTr-BCT ngày 27/4/2026, sau phân cấp, số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền cấp Bộ sẽ giảm còn 148 thủ tục, chiếm 28,8%; dự kiến cắt giảm 50,38% chi phí tuân thủ và 80,47% thời gian giải quyết so với năm 2024.
Những kết quả đó không chỉ mang ý nghĩa cải cách hành chính đơn thuần, mà còn có ý nghĩa chính trị rất sâu sắc. Bởi trong thời đại số, hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp chính là thước đo năng lực quản trị quốc gia; là cơ sở thực tiễn để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; đồng thời là “lá chắn mềm” quan trọng để đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về bộ máy hành chính, về môi trường đầu tư kinh doanh và về hiệu quả điều hành của Nhà nước.
Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng trong kỷ nguyên mới
Bước vào kỷ nguyên số, dữ liệu đã trở thành “tài nguyên mới”, là nguồn lực chiến lược của quốc gia. Quốc gia nào làm chủ dữ liệu, quốc gia đó có lợi thế cạnh tranh và năng lực quản trị vượt trội. Nhận thức rõ điều đó, Bộ Công Thương đang tập trung xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ngành Công Thương theo hướng đồng bộ, hiện đại và liên thông với Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Thực hiện Thông báo số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026, Bộ Công Thương đã làm việc với Bộ Khoa học và Công nghệ; các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các hiệp hội công nghiệp để rà soát, đề xuất các bài toán lớn, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược gắn với các lĩnh vực trọng điểm của ngành. Bộ cũng đã phối hợp tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 về Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược; Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 về giao nhiệm vụ phát triển công nghiệp chiến lược.
Theo đó, Bộ Công Thương đã đề xuất 3 bài toán lớn mang tầm chiến lược quốc gia gồm: bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; hiện đại hóa hệ thống điện và nhiên liệu xanh, thông minh, tự chủ; tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao; hiện đại hóa thương mại bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy.
Đồng thời, Bộ đã đề xuất triển khai ngay trong năm 2026 ba nhiệm vụ công nghệ chiến lược gồm: bản sao số (Digital Twin) cho hệ thống điều hành lưới điện quốc gia; phát triển thiết bị đóng cắt điện áp 22kV–500kV; robot công nghiệp hai tay với chương trình điều khiển nội địa. Đây là những nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ về kinh tế, mà còn về quốc phòng, an ninh, chủ quyền công nghệ và chủ quyền số quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Hiện nay, cơ sở dữ liệu hàng hóa, hóa chất và tiền chất đã tạo lập khoảng 204.000 dữ liệu; cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại đã hoàn thành tích hợp và sẵn sàng đồng bộ với Trung tâm dữ liệu quốc gia. Đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là nhiệm vụ chiến lược về bảo đảm an ninh dữ liệu, chủ quyền số và năng lực quản trị quốc gia trong thời đại mới.
Lịch sử đã chứng minh: mỗi bước phát triển của dân tộc Việt Nam đều gắn liền với bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn của Đảng. Ngày nay, trong kỷ nguyên số, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là bảo vệ những giá trị lý luận cách mạng, mà còn là bảo vệ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là hiện thân sinh động của khát vọng ấy. Đó là khát vọng xây dựng một Việt Nam phát triển bằng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; khát vọng làm chủ công nghệ chiến lược và chủ quyền số quốc gia…
Đối với ngành Công Thương, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ góp phần phát triển kinh tế đất nước, mà còn trực tiếp góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng; xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch; nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia; tăng cường sức mạnh nội sinh của nền kinh tế; bảo vệ vững chắc chủ quyền số và nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Thực tiễn triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW trong ngành Công Thương cho thấy: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ tạo động lực phát triển kinh tế, mà còn góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, củng cố niềm tin xã hội và tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ Đảng từ sớm, từ xa trên không gian mạng và trong đời sống xã hội.
Nguyễn Thị Lâm Giang
Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo,
Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương