![]() |
| Từ chỗ phải nhập khẩu gạo, Việt Nam trờ thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Ảnh minh họa - Nguồn Báo SGGP |
Vai trò thương vụ
Thời kỳ đó, hàng nhập khẩu được Bộ Ngoại thương phân phối theo số lượng, đầu mục do Ủy ban Kế hoạch nhà nước đưa ra. Nhưng thực tế, không phải lúc nào cũng kế hoạch hóa hết được mọi mặt hàng nên khó tránh khỏi trục trặc, thiếu sót. Sinh thời, sử gia kinh tế Đặng Phong có kể lại một số câu chuyện được ông ghi lại theo hồi ức của nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Nguyễn Chanh phản ánh rõ cơ chế này.
Câu chuyện thứ nhất liên quan đến chiếc kim khâu. Có năm, cả nước khan hiếm mặt hàng này do đây là loại mặt hàng rất nhỏ nên không được tính trong kế hoạch nhập khẩu. Lãnh đạo Bộ Ngoại thương khi đó điện sang nước bạn để tìm cách giải quyết nhưng ngặt nỗi nước bạn cũng có kế hoạch mặt hàng này rồi. Tưởng chừng như bế tắc nhưng lãnh đạo Bộ Ngoại thương khi đó nảy ra sáng kiến điện cho một tham tán thương mại ở nước ngoài và yêu cầu đến tất cả các cửa hàng trong thành phố xem chỗ nào có kim khâu thì mua hết và cho vào cặp rồi gửi một đồng chí thương vụ xách về. Thế là, một chiếc cặp kim khâu thôi mà cũng đủ dùng!
Vẫn theo câu chuyện của sử gia Đặng Phong ghi lại theo lời kể của ông Nguyễn Chanh, có một năm, miền Bắc lụt lớn, đê vỡ, nước tràn cả vào đồng. Cỏ chết hết trong khi rơm rạ khan hiếm và trâu bò lại không có thức ăn. Trong khi đó hai con vật này lại là “đầu cơ nghiệp” của nông dân nước ta cũng như của nhiều gia đình, thế nên không thể để chết được. Các cơ quan chức năng của Việt Nam khi đó đã liên hệ với Trung Quốc để nhập khẩu rơm. Nhưng phía Trung Quốc cho biết là họ không lấy đâu ra rơm để đủ cho nhu cầu của Việt Nam. Rất may lúc đó một số cán bộ thương vụ Việt Nam ở Trung Quốc phát hiện ra việc nông dân Trung Quốc bện rơm thành thúng để đựng lúa. Phía Việt Nam lại điện sang Trung Quốc với yêu cầu được nhập thúng của bạn. Thế là trâu bò được cứu sống qua trận lũ.
Hai tình huống này còn cho thấy câu chuyện “kinh điển” về phát huy vai trò tại chỗ của thương vụ cho đến nay vẫn hoàn toàn mang tính thời sự khi mà chuyện hội nhập và cạnh tranh càng lúc càng khốc liệt trên thị trường quốc tế.
Giải bài toán cơ chế
Theo sách “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 - 2000” trước năm 1975, thị trường xuất khẩu của Việt Nam gồm 3 khối trong đó chủ yếu là khối các nước xã hội chủ nghĩa. Khối thứ hai gồm các nước tư bản chủ nghĩa như Pháp, Nhật bản, Hồng Kông, Thụy Sĩ, Hà Lan, Bỉ, Tây Đức. Khối thứ ba: Một số nước dân tộc chủ nghĩa như Ấn Độ, Indonesia, Campuchia, Ả Rập thống nhất, Sri Lanka. Về mặt số lượng thì ban đầu chỉ có khoảng 10 nước trong khối xã hội chủ nghĩa và nhờ các nỗ lực mở rộng thị trường, hàng xuất khẩu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tới được 30 thị trường. Hàng xuất khẩu của Việt Nam khi đó gồm công nghiệp, nông nghiệp và hàng tiêu dùng. Xuất khẩu khi đó ít nhiều có tiến bộ với việc kim ngạch xuất khẩu tăng từ con số 149.000 rúp cuối thập niên 50 của thế kỷ XX lên 129,7 triệu rúp ở thời điểm 1975.
Tuy nhiên, cơ cấu hàng xuất khẩu khi đó đã phản ánh rõ tính mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế khi luôn luôn ở trong tình trạng nhập siêu. Mức nhập siêu cao nhất của Việt Nam trước 1975 ở vào giai đoạn 1973 - 1975 khi kim ngạch nhập khẩu là 1,96 tỷ rúp, chiếm 29% kim ngạch nhập khẩu của cả giai đoạn 1955 – 1975. Việt Nam khi đó nhập khẩu về thiết bị công nghiệp, nông nghiệp chủ yếu là nhập trang thiết bị.
Không thể không nói đến những nỗ lực của địa phương cơ sở nhằm giải quyết được bài toán thực tế trong phát triển và sản xuất khi đó trong bối cảnh có những ngặt nghèo về cơ chế. Bên cạnh câu chuyện xé rào trong sản xuất nông nghiệp với mô hình khoán hộ của Bí thư tỉnh Vĩnh Phúc Kim Ngọc, còn một câu chuyện nữa khởi nguồn từ tỉnh Hà Tây.
Số là năm 1970 khi tỉnh này bước vào sản xuất vụ mùa thì sau khi cân đối, lượng phân đạm được Trung ương cung cấp chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu cho 1 ha lúa. Tỉnh Hà Tây đã xin phép Trung ương cho được xuất khẩu theo hình thức “tiểu ngạch” một số sản phẩm của địa phương để có nguồn ngoại tệ nhập khẩu phân đạm. Điều này khi đó bị coi là chuyện “tày đình” vì phạm vào nguyên tắc độc quyền của Nhà nước về ngoại thương như đã nói ở trên. Nhưng lại cũng khó: Trung ương không cung cấp đủ phân đạm mà sản xuất lúa là vấn đề chiến lược. Cuối cùng, Hà Tây cũng đã được đặc cách với việc ban hành Nghị quyết số 33 của Tỉnh ủy về “tăng nguồn hàng xuất khẩu ngoài kế hoạch T.Ư giao, đổi thêm phân đạm phục vụ nông nghiệp”. Kết quả, vụ mùa năm đó, sản lượng thóc của tỉnh tăng đến 17% so với năm 1969. Nhiều chuyên gia cho rằng, đây là đột phá đầu tiên về cơ chế xuất nhập khẩu ở Việt Nam để 10 năm sau đó, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 40-CP (ngày 7/2/1980) về chính sách và biện pháp phát triển hàng xuất khẩu.





