Đại thắng mùa Xuân năm 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử luôn là dấu mốc đặc biệt, để non sông Việt Nam tự hào nhìn lại những trang sử vàng chói lọi của dân tộc.
Đằng sau thắng lợi quân sự vĩ đại ấy là những bài học chiến lược vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại. Trong đó, nghệ thuật "chớp thời cơ" và tầm nhìn đối ngoại khôn khéo đã tạo nền tảng hình thành nên vị thế Việt Nam hôm nay.

Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Như Hoạt - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng. Ảnh: Nguyên Khánh
Trong chuyến hành trình ngược dòng lịch sử trở về những ngày hào khí lịch sử 30/4/1975, phóng viên Báo Công Thương đã có dịp trò chuyện cùng Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Như Hoạt - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng, người trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, từ đây non sông thu về một dải.

Trong cuộc trò chuyện, Trung tướng Nguyễn Như Hoạt xúc động nói về những năm tháng nơi chiến trường khói lửa, cận kề sinh - tử: "Chúng tôi, những người lính Bộ đội Cụ Hồ, đã sống trọn vẹn những năm tháng tuổi trẻ như thế, với sức trẻ và lòng yêu Tổ quốc… bất cứ nơi nào Tổ quốc cần, là chúng tôi đến!".
Ông nhớ lại, Sư đoàn Bộ binh 320B của ông may mắn nằm trong Quân đoàn 1 hay còn gọi là Binh đoàn Quyết thắng, quân đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Theo lời ông kể, sự ra đời của binh đoàn này là kết quả nghiên cứu, đánh giá sâu sắc tình hình mọi mặt, tương quan lực lượng giữa ta và địch, cùng dự báo chiến lược của những bộ óc thiên tài từ Tổng hành dinh.
Ngày 29/3/1975, Trung đoàn 48 (Sư đoàn bộ binh 320B) nhận lệnh hành quân vào Đồng Xoài, thần tốc vượt qua 1.700 km tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiêu diệt thủ phủ Việt Nam Cộng hòa, một thể chế tay sai của đế quốc Mỹ và bọn trùm sò.
Trung đoàn được tăng cường xe tăng, xe bọc thép và được hoả lực cấp trên chi viện tổ chức thành mũi thọc sâu bằng cơ giới, có nhiệm vụ hiệp đồng tác chiến với đơn vị trong quân đoàn, nhanh chóng thọc sâu, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Trong đó, Tiểu đoàn 1 do ông là Tiểu đoàn trưởng, đơn vị chủ công của Trung đoàn, vinh dự dẫn đầu.
"Tôi nhớ như in bức điện của anh Văn - Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, ký ngày 07/4/1975 gửi các đơn vị: 'Mệnh lệnh: Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng giờ, từng phút; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!'", Trung tướng kể lại với ánh mắt trầm ngâm.
Theo Trung tướng Nguyễn Như Hoạt, mệnh lệnh lịch sử ấy chính là linh hồn của nghệ thuật nắm bắt thời cơ. Sau khi phổ biến cho các chiến sĩ về bức điện và việc giải phóng Sài Gòn - Gia Định bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh cùng phân tích thế trận, đơn vị xác định rõ: "Đây là trận đánh cuối cùng, địch đang trong thế 'chó cùng dứt giậu', chắc chắn sẽ kháng cự điên cuồng". Vì vậy, toàn quân được quán triệt tuyệt đối không chủ quan, khinh địch.
Chuyển khẩu hiệu hành động từ “quyết tâm, quyết tâm", sang “thần tốc, táo bạo”và viết khẩu hiệu bướm dán lên vành mũ từng người, kẻ khẩu hiệu lên thành xe, cửa xe trước khi xuất phát.
“Cho đến giờ, đã hơn nửa thể kỷ trôi qua, tôi vẫn nhớ như in từng dòng, từng chữ của bức điện… mặc dù ngắn gọn, song vô cùng xúc tích, bức điện như một lời kêu gọi, lời hịch của non sông…”, ông nói.
Trung đoàn 48 được giao nhiệm vụ thọc sâu đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn. Trong trận quyết định ấy, quân ta đã tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 316, đơn vị thiện chiến nhất của địch, bắt sống Tiểu đoàn trưởng cùng hàng trăm binh sĩ, xóa sổ Chi khu quân sự Tân Uyên, mở đường cho quân đoàn tiến vào giải phóng Sài Gòn.
Ở trận này, tổn thất của ta cũng khá, nhiều đồng chí hi sinh, bản thân ông cũng bị thương nặng phải nằm điều trị.


Xe tăng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến vào Dinh Độc Lập sáng 30/4/1975. Ảnh TL.
Chia sẻ về ý nghĩa bước ngoặt của Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Trung tướng Nguyễn Như Hoạt khẳng định, đây là mốc son chói lọi nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, sánh ngang với Bạch Đằng (năm 1288), Chi Lăng (năm 1427), Đống Đa (năm 1789); chấm dứt ách thống trị kéo dài hàng thập kỷ của các thế lực ngoại bang, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của hòa bình, thống nhất và phát triển.
"Chiến thắng đó đã chứng minh một chân lý lịch sử: một dân tộc dù nhỏ bé nhưng với ý chí độc lập tự cường và đường lối đúng đắn, hoàn toàn có thể đánh bại những kẻ thù hùng mạnh nhất", Trung tướng nhấn mạnh.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 còn là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam, minh chứng cho tư duy sáng tạo "lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy thô sơ thắng hiện đại"; đồng thời là kết quả của sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.

Từ bài học "chớp thời cơ" của hơn 50 năm trước, Trung tướng Nguyễn Như Hoạt cho rằng, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo, hiệu quả đường lối đối ngoại độc đáo, mang đậm bản sắc "Cây tre Việt Nam" của thời đại Hồ Chí Minh.
Triết lý ấy được cô đọng trong ba trụ cột: "Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển" - thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
"Đó là sự kết hợp hài hòa giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt sách lược, mềm mại, khôn khéo nhưng cũng kiên cường, quyết liệt; luôn nhất quán bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc với chính sách quốc phòng 'bốn không', thể hiện khát vọng hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực cũng như trên thế giới", Trung tướng phân tích.
Theo Trung tướng, ngoại giao "cây tre" không phải là sự mềm yếu hay thỏa hiệp vô nguyên tắc, mà là sự kế thừa và phát triển sáng tạo bài học "biết người, biết ta" - tinh thần đã được chứng minh qua thắng lợi của các hội nghị Geneva (năm 1954), Paris (năm 1973) và đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Đó là nghệ thuật "vừa đánh, vừa đàm", kết hợp chặt chẽ ba mặt trận: quân sự - chính trị - ngoại giao.
Trong bối cảnh địa chính trị khu vực biến động nhanh, phức tạp, khó lường hiện nay, bản sắc ngoại giao ấy càng trở thành "lá chắn mềm" bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời mở rộng không gian phát triển, tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam đã ký kết và thực thi 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 60 nền kinh tế, là quốc gia duy nhất ký FTA với tất cả các đối tác kinh tế lớn trên toàn cầu như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, Anh, Nga. Các FTA "thế hệ mới" - CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP và mới nhất là VIFTA với Israel (ký tháng 7/2023), đưa thương hiệu "Made in Vietnam" hiện diện sâu trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nền tảng ngoại giao ấy được bồi đắp bởi sức mạnh kinh tế đang vươn tầm. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước; cán cân thương mại xuất siêu 20,03 tỷ USD - năm thứ 10 liên tiếp thặng dư. Quy mô GDP danh nghĩa vượt mốc 500 tỷ USD, tăng trưởng trên 8%, thuộc nhóm cao nhất khu vực và thế giới; GDP bình quân đầu người ước đạt khoảng 5.000 USD.
Theo bảng xếp hạng của Tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam đứng thứ 18 trong 30 nền kinh tế xuất khẩu lớn nhất năm 2025 với kim ngạch 473 tỷ USD, vượt qua Malaysia, Thái Lan và Indonesia.
Đặc biệt, tính đến ngày 29/10/2025, Việt Nam đã thiết lập khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện với tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đưa tổng số Đối tác Chiến lược Toàn diện lên 14 quốc gia, trải khắp các châu lục từ Á sang Âu, từ Bắc Mỹ đến châu Đại Dương.
Tất cả những thành quả đó, là minh chứng cho bài học "biết người, biết ta" trong kỷ nguyên vươn mình: lấy thực lực kinh tế làm điểm tựa cho vị thế ngoại giao, lấy ngoại giao khai mở không gian phát triển, hai mặt của một chiến lược tổng thể, kế thừa trọn vẹn tinh thần "thần tốc, táo bạo" của mùa Xuân lịch sử nửa thế kỷ trước.


Trung tướng Nguyễn Như Hoạt (thứ 2 từ phải qua) cùng đồng đội trên thao trường.
Theo Trung tướng Nguyễn Như Hoạt, những thành tựu to lớn mà đất nước đạt được hôm nay là kết quả của quá trình nỗ lực bền bỉ, sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân qua nhiều giai đoạn cách mạng. Vì vậy, cần tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo những bài học kinh nghiệm quý báu từ Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết hợp với những thành tựu của 40 năm đổi mới, đưa đất nước vươn tới những tầm cao mới, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong muốn.
"Toàn Đảng, toàn dân cần nắm vững thời cơ lịch sử, khơi dậy mạnh mẽ niềm tự hào dân tộc, đưa đất nước bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", Trung tướng Nguyễn Như Hoạt nói.


Trung tướng Nguyễn Như Hoạt tham dự Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Khoá X.
Nửa thế kỷ đã đi qua, mệnh lệnh "thần tốc, táo bạo" năm ấy vẫn vang vọng trong hành trình hôm nay. Bài học "chớp thời cơ" và bản sắc ngoại giao Việt Nam chính là cầu nối giữa quá khứ hào hùng và tương lai, nền tảng vững chắc để dân tộc Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình, phát triển và thịnh vượng.

Tôi có duyên được gặp và trò chuyện nhiều lần cùng bác gái, người vợ tào khang rất đỗi hiền dịu của Trung tướng, PGS.TS, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Như Hoạt. Ảnh: Nguyên Khánh


