Vàng thương phẩm: Không cần thương hiệu quốc gia

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chọn SJC làm thương hiệu vàng quốc gia. Điều đó đã gây ra những hậu quả không hề nhỏ đối với người dân và toàn bộ nền kinh tế.

CôngThương - Tại nghị trường kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIII đang diễn ra, có vị đại biểu đã nói: “Những dòng người xếp hàng để kiểm định, để chuyển đổi sang thương hiệu độc quyền SJC trong khi chúng ta cứ thản nhiên nói: Người dân phải tự bảo vệ mình”. Đó là con số chênh lệch đến 3 triệu đồng giữa vàng trong nước và vàng thế giới, chênh lệch đến 400 ngàn đồng/lượng giữa vàng thương hiệu quốc gia SJC với vàng khác ngay chính thị trường trong nước.

Về khoản chênh lệch 3 triệu đồng, có đại biểu Quốc hội khẳng định: Chúng ta chưa đạt được mục tiêu đưa giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới. Còn khoản chênh lệch 400 ngàn đồng, thật tình cờ, đúng bằng con số mà Thống đốc NHNN từng đưa ra để phân biệt đó là “đầu cơ” khi ông từng tuyên bố: “Nếu vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới từ  400.000 đồng/lượng trở lên chứng tỏ đã và đang có hiện tượng đầu cơ, làm giá”.

Câu hỏi được đặt ra: Vì sao cần có một thương hiệu vàng quốc gia? Thống đốc NHNN chỉ giải thích vì sao chọn SJC làm thương hiệu vàng quốc gia (SJC chiếm 93-95% thị trường vàng miếng; để tránh sự nhầm lẫn và lãng phí nên chọn thương hiệu SJC) mà không nói vì sao cần phải có một sự chọn lựa như thế. Nếu vậy, chọn SJC làm thương hiệu vàng của NHNN để làm gì?

Theo thông lệ quốc tế, vàng được chia làm hai loại: Vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ, tức là vàng hàng hóa.

Vàng tiền tệ là vàng do ngân hàng trung ương sở hữu và nắm giữ làm tài sản dự trữ, lúc đó vàng cũng tương đương như ngoại tệ. Ví dụ, chính phủ Mỹ giữ 8.133 tấn vàng, chiếm đến 76,6% tổng dự trữ ngoại tệ của Mỹ (số liệu cuối năm 2010). Vàng tiền tệ làm tài sản dự trữ thì thương hiệu quốc gia (nếu có) cũng không có ý nghĩa gì.

Vàng phi tiền tệ là vàng do người dân, doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại nắm giữ cho mục đích kinh doanh hoặc lưu giữ giá trị. Với vàng phi tiền tệ- vàng được sử dụng để mua, bán, hay còn gọi là vàng thương phẩm- thì các công ty kinh doanh vàng bạc được đăng ký nhãn hiệu của mình trên cơ sở bảo đảm các tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Do đó, bắt buộc toàn bộ số vàng lưu thông trên thị trường phải gắn “thương hiệu quốc gia” là vô lý, là tạo lập sự độc quyền trên thị trường. Vàng thương phẩm, suy cho cùng, cũng chỉ là một loại hàng hóa lưu thông trên thị trường như những hàng hóa khác. Do đó, nếu vàng thương phẩm phải có một thương hiệu quốc gia thì những hàng hóa khác có cần không? Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta chọn bia 333 là thương hiệu bia quốc gia và yêu cầu tất cả các loại bia khác phải chuyển đổi sang thương hiệu bia 333?

Một câu hỏi khác: Việc phải có một thương hiệu vàng quốc gia được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật nào? Thật lạ lùng, chủ trương có thương hiệu vàng quốc gia chỉ là... nói miệng. Nghị định 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng hoàn toàn không có dòng nào về thương hiệu vàng quốc gia. Nghị định chỉ nêu nguyên tắc quản lý “Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng” và định nghĩa rõ: “Vàng miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép sản xuất hoặc vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ”. Rõ ràng, theo Nghị định 24, sẽ tồn tại song song nhiều thương hiệu vàng miếng.

Đã đến lúc cần xem xét lại cơ sở pháp lý của chủ trương tạo một thương hiệu vàng quốc gia.

Nghị định 24/2012/NĐ-CP định nghĩa: Vàng miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được NHNN cho phép sản xuất hoặc vàng miếng do NHNN tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ.

Luật gia Vũ Xuân Tiền