Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, các đại biểu Quốc hội đã kiến nghị những giải pháp căn cơ để ngăn chặn trục lợi và khơi thông hạ tầng cho xe điện.
Tham gia góp ý nội dung liên quan đến Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, trong đó có nội dung kéo dài thời gian áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô điện chạy bằng pin dưới 24 chỗ, đại biểu Phạm Thúy Chinh (đoàn Hải Phòng) cho rằng đây là giải pháp phù hợp nhằm khuyến khích sử dụng phương tiện xanh, góp phần thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh, chuyển đổi năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Việt Nam.
Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, đại biểu Quốc hội đề xuất Chính phủ tiếp tục xem xét đồng bộ một số giải pháp.
Thứ nhất, hiện nay theo quy định, ô tô điện chạy bằng pin được miễn 100% lệ phí trước bạ lần đầu đến hết ngày 28/2/2027. Đại biểu đề nghị Chính phủ đánh giá tác động để cân nhắc kéo dài thời gian miễn lệ phí trước bạ tương ứng với thời gian áp dụng ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt. Đồng thời, cần có chính sách khuyến khích phát triển sản xuất xe điện trong nước, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, thúc đẩy tiêu dùng hàng Việt.
Thứ hai, việc gia hạn ưu đãi thuế sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phổ cập xe điện, kéo theo nhu cầu sử dụng điện gia tăng, tiềm ẩn nguy cơ quá tải hệ thống điện. Do đó, Chính phủ cần sớm có giải pháp hiện đại hóa lưới điện phân phối, tăng cường quản lý phụ tải và tích hợp hạ tầng trạm sạc vào quy hoạch điện quốc gia.
Thứ ba, về hạ tầng trạm sạc, hiện tồn tại ba mô hình chính gồm: doanh nghiệp sản xuất tự đầu tư; đơn vị phân phối đầu tư; và bên thứ ba cung cấp dịch vụ. Thực tế, một số doanh nghiệp chưa mở hệ thống sạc cho các thương hiệu khác, dẫn đến tình trạng phân mảnh.
"Việc doanh nghiệp xây dựng hệ sinh thái sạc riêng là hợp lý nhằm bảo vệ lợi ích đầu tư và trải nghiệm khách hàng. Tuy nhiên, nếu không có định hướng chung, sẽ gây lãng phí nguồn lực và hạ tầng", đại biểu nêu ý kiến và kiến nghị Chính phủ có cơ chế định hướng, khuyến khích các doanh nghiệp từng bước chuyển sang mô hình mở, có lộ trình và điều kiện phù hợp. Trong đó, khách hàng của doanh nghiệp vẫn được ưu đãi, trong khi người dùng từ hệ sinh thái khác có thể tiếp cận dịch vụ với mức phí hợp lý.
Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế “chuyển vùng” (roaming) tương tự lĩnh vực viễn thông, cho phép người dùng sử dụng dịch vụ sạc tại nhiều hệ thống khác nhau, đồng thời vẫn đảm bảo lợi ích tài chính cho các doanh nghiệp thông qua cơ chế điều tiết phù hợp của Nhà nước.

Đại biểu Phạm Thu Xanh, đoàn Hải Phòng chia sẻ, rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở thuế, mà ở hạ tầng.
Cùng cho ý kiến về hạ tầng xe điện, đại biểu Phạm Thu Xanh, đoàn Hải Phòng cho rằng, chính sách ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe điện chạy bằng pin có tác dụng kích cầu, gia tăng lượng tiêu thụ. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở thuế, mà ở hạ tầng.
"Hệ thống trạm sạc xe điện hiện chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn và phụ thuộc vào một số doanh nghiệp lớn. Trong khi tại các địa phương, người dân gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận. Đặc biệt, tại các chung cư hoặc khu dân cư đông đúc, việc lắp đặt trạm sạc tại nhà gần như không khả thi, khiến người dân lo ngại về nguy cơ hết pin khi di chuyển và chưa sẵn sàng chuyển sang sử dụng xe điện.
Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về trạm sạc, công suất kết nối, cũng như quy định về phòng cháy, chữa cháy và xử lý sự cố pin vẫn chưa hoàn thiện. Thực tế này dẫn đến việc nhiều khu chung cư không cho phép sạc xe điện, tiếp tục hạn chế khả năng tiếp cận của người dân", đại biểu chỉ rõ.
Ngoài ra, theo đại biểu Xanh, chi phí trong hệ sinh thái xe điện, bao gồm giá điện sạc và chi phí thay thế pin, vẫn còn ở mức cao, ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng. Từ thực tế trên, đại biểu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách thuế.
Thứ nhất, Chính phủ cần đẩy mạnh phát triển hạ tầng trạm sạc theo quy hoạch tổng thể, đồng thời thúc đẩy xã hội hóa đầu tư, mở rộng mạng lưới ra ngoài khu vực đô thị để nâng cao khả năng tiếp cận của người dân.
Thứ hai, cần sớm ban hành đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về trạm sạc, công suất kết nối và an toàn phòng cháy, chữa cháy, đặc biệt tại khu dân cư, nhằm tạo tâm lý yên tâm cho người sử dụng.
Thứ ba, cần phát triển đồng bộ hệ sinh thái xe điện, bao gồm chính sách giá điện hợp lý cho sạc xe, dịch vụ bảo dưỡng, thay thế pin và các dịch vụ hỗ trợ liên quan.
Đồng thời, đại biểu đề nghị ưu tiên thúc đẩy chuyển đổi đối với các phương tiện vận tải công cộng, taxi, xe du lịch nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa về môi trường. “Chỉ khi các chính sách được triển khai đồng bộ, từ thuế, hạ tầng đến hệ sinh thái, mới có thể tạo cú hích đủ mạnh để thúc đẩy thị trường xe điện phát triển toàn diện”, đại biểu nhấn mạnh.
Gắn liền với tỷ lệ nội địa hóa xe điện
Tương tự, đại biểu Hoàng Văn Nghĩa (đoàn Quảng Ngãi) cho rằng, chính sách thuế hiện nay đang chuyển từ ưu đãi dàn trải sang đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Theo đó, việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe điện chạy bằng pin không nên chỉ nhìn nhận là khoản giảm thu ngân sách, mà cần coi là “vốn mồi” chiến lược để thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát triển công nghiệp nội địa.
Việc duy trì mức thuế tiêu thụ đặc biệt ưu đãi, thậm chí ở mức rất thấp cho xe điện dưới 24 chỗ đến năm 2030 thể hiện rõ định hướng ưu đãi theo bậc thang, trong đó ưu tiên cao nhất cho các dòng xe có tỷ lệ nội địa hóa cao, đi kèm cam kết chuyển giao công nghệ và sản xuất pin tại Việt Nam. Chính sách này được kỳ vọng sẽ tạo động lực thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp pin - “trái tim” của ngành công nghiệp xanh.

Đại biểu Hoàng Văn Nghĩa (đoàn Quảng Ngãi) cho rằng, chính sách thuế hiện nay đang chuyển từ ưu đãi dàn trải sang đầu tư có trọng tâm, trọng điểm.
Ở góc độ rộng hơn, đại biểu Hoàng Văn Nghĩa cho rằng, Chính phủ đã có những bước đi quyết liệt trong hoàn thiện hạ tầng, như ban hành quy chuẩn quốc gia về hạ tầng xanh, yêu cầu các khu đô thị mới, trung tâm thương mại và trạm dừng nghỉ cao tốc phải dành từ 20 - 30% diện tích cho bãi đỗ xe và hệ thống sạc điện. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành chuỗi giá trị xe điện và công nghiệp hỗ trợ trong nước.
Từ kinh nghiệm quốc tế, đại biểu dẫn chứng Trung Quốc đã chi khoảng 60 tỷ USD giai đoạn 2009 - 2022 để hỗ trợ ngành xe điện, qua đó chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng pin toàn cầu. Ấn Độ cũng đầu tư mạnh cho sản xuất pin tiên tiến, đặt mục tiêu đạt công suất 50 GWh vào năm 2027, đồng thời áp dụng thuế nhập khẩu cao đối với xe nguyên chiếc để bảo hộ sản xuất trong nước.
Từ đó, đại biểu đề xuất Việt Nam cần xây dựng lộ trình rõ ràng nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa. Dự kiến đến năm 2028, để được hưởng mức thuế ưu đãi cao nhất, xe điện cần đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 30 - 40%, bao gồm các linh kiện cốt lõi như pin và hạ tầng sạc. Điều này sẽ tạo sức ép tích cực để doanh nghiệp trong nước liên kết với đối tác quốc tế, nâng cao năng lực sản xuất.
Bên cạnh đó, cần sớm hình thành các quỹ tín dụng xanh, thông qua hệ thống ngân hàng để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất pin và công nghệ xanh.
Đại biểu cũng nhấn mạnh, chuyển đổi sang xe điện không chỉ góp phần giảm phát thải mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Hiện mỗi năm Việt Nam chi hàng chục tỷ USD nhập khẩu xăng dầu. Nếu chuyển đổi thành công, không chỉ tiết kiệm ngoại tệ mà còn thúc đẩy ngành điện phát triển. Ước tính, cứ 1 triệu xe điện lưu hành sẽ tạo thêm nhu cầu khoảng 1,5 - 2 tỷ kWh điện mỗi năm, góp phần tối ưu hóa công suất các nguồn năng lượng tái tạo.
“Cú hích” từ chính sách thuế, theo đại biểu, không chỉ dừng ở kích cầu tiêu dùng, mà còn mở ra cơ hội thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển công nghiệp nội địa và tăng cường tự chủ năng lượng quốc gia trong dài hạn.
Đại biểu Quốc hội đề xuất Việt Nam cần xây dựng lộ trình rõ ràng nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa. Dự kiến đến năm 2028, để được hưởng mức thuế ưu đãi cao nhất, xe điện cần đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 30 - 40%, bao gồm các linh kiện cốt lõi như pin và hạ tầng sạc. Điều này sẽ tạo sức ép tích cực để doanh nghiệp trong nước liên kết với đối tác quốc tế, nâng cao năng lực sản xuất.




