Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ tư 27/05/2020 11:55

Từ Sơn La tới Lai Châu: Đầu ngọn sóng - Phần I: Xách ba lô lên đường

06:05 | 10/08/2016
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ từng là một cán bộ trong ngành Công Thương thập kỷ 80, cũng là một cộng tác viên lâu năm của Báo Công Thương. Tùy bút “Từ Sơn La tới Lai Châu - Đầu ngọn sóng” của ông là kết quả của nhiều chuyến đi dài ngày; một câu chuyện dài về ngành Thủy điện - nơi ông gửi gắm nhiều cảm xúc và hiện thực đáng trân trọng. 
Đường lên thủy điện Lai Châu

Tôi quyết định quay lại Lai Châu. Dầu tôi đã lên đó hai lần trong thời gian ngắn gần đây. Chuyện đi lên Lai Châu lần đầu, cũng thực là duyên nợ. Có gì đâu, vài năm trước, khi ngành Điện lực ở Hà Nội chưa cải tiến chấn chỉnh cách quản lí chặt chẽ kinh doanh điện, có tháng tiền điện nhà tôi và nhiều nhà khác ở thủ đô “ngất ngây” vọt lên. Tiền điện đột xuất trả nhiều, làm tôi bức xúc. Bức xúc là dẫn tới sự không ưa rồi. Nói là “ghét” cho “vuông”, trắng phớ ra, dù rằng, họ hàng gần tôi, có con, cháu thuộc lãnh đạo cao cấp ngành Điện. Tôi vẫn ghét.

Vốn dĩ suốt tuổi thanh xuân, nhà văn Nguyễn Văn Thọ từng phục vụ trong quân ngũ, nên ở tùy bút này mang hơi thở của một cây bút chiến sỹ.

Rồi xem hai phim tài liệu về Thủy điện Sơn La của đạodiễn Nguyễn Thước. Cả một câu chuyện dài. Những thước phim khoa học tài liệu. Hai phim Chuyện về một dòng sông với Từ Thác Bà tới Sơn La, có nhiều chi tiết rất cảm động. Tò mò, tôi lục các phim khác, thực hiện quanh ngành Điện của Nguyễn Thước, thấy nhiều chi tiết ghi cảnh xây dựng lưới điện cho vùng cao, cả việc bán điện đến từng hộ các dân tộc, bất kể họ ở đâu, thị xã mới mở hay trên chót vót núi mờ, hoặc vùng thung lũng hẻo hưu thăm thẳm. Nguyễn Thước đã theo anh em ngành Điện lên Đồng Văn - Mèo Vạc, leo núi đi thu tiền điện ở vài bản sắc tộc Mông ít người. Những tuyến dây cao thế vươn dài, chi chít nối núi với núi, rừng lại rừng, bắt từ lưới điện quốc gia tới hầu khắp nơi nào có người ở. Có một bản xa lắc trên núi thăm thẳm cao ấy, nghèo xơ xác, lác đác vài nóc nhà. Điện chi tiền chục tỷ, trăm tỷ dẫn lên, người dân bản nghèo đâu có tiền, họ sòng phẳng: Tao trả tiền điện cho “cái nhà nước” bằng một rổ trứng. Đúng là một hiện thực trớ trêu, trào nước mắt. Ở các miền rừng núi, chi phí đầu ra rất lớn, quá lớn như lũ ống, mà đầu vào thì như từng giọt nước mùa khô rỉ ra tí tách từ lèn đá. Nhiều nơi, tiền thu về không đủ mua xăng xe máy, nói gì đến tiền nuôi cả đội ngũ quản lý kinh doanh điện dân dụng trên cả một miền Tây Bắc, Việt Bắc bao la. Tôi cũng chợt nhớ tới “bài thơ điện ảnh” của cố đạo diễn Lê Mạnh Thích: Đường dây lên sông Đa. Năm nảo năm nao, thi sĩ Tố Hữu, mơ ước về tương lai đất nước. Giấc mơ cho các dân tộc trên miền rẻo cao, núi rừng; nơi người dân đã hy sinh, đóng góp bao nhiêu là bao nhiêu cho cách mạng, viết: “Núi rừng có điện thay sao...”

Thực sự, nếu cận mắt thì vấn đề điện ra sao? Tôi bảo với Nguyễn Thước: Khi nào chú lại lên Sơn La, Lai Châu cho anh bám càng nhé. Anh muốn quan sát thực hư “con người thủy điện”.

Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Thước vẫn kiên trì đi lại liên miên để làm nốt cuốn phim dang dở suốt 7, 8 năm nay về Thủy điện Lai Châu. Nói chính xác hơn là về Ban A và những người đã xây dựng Thủy điện Sơn La - Lai Châu. Nhưng cái tôi duyên chưa bén. Tới mãi tận cuối mùa đông 2015 mới thực hiện được.

Tôi lên Lai Châu hai lần. Lần đầu theo Nguyễn Thước làm phim, đúng hơn là theo chân người anh hùng, đã 83 xuân, ông Thái Phụng Nê. Theo sát ông tới tận vùng biên ải, tìm nơi phát tích con sông Đà, trên địa phận Việt Nam. Chúng tôi đến cái bản Mường Tè xưa nghèo nhất nước. Đến hai đồn biên phòng, mà ở đó lính biên phòng vừa giữ rừng vừa giữ đất, thèm hơi người, thèm giọng nói; họ xa bản, xa làng, đi chợ vắng cũng mất nửa ngày đường, quanh năm suốt tháng phải tự túc thực phẩm, rau tươi.

Chuyến thứ hai lại cũng lại về nơi đầu nguồn, khi mùa mưa bắt đầu. Tôi cùng thi sĩ thần đồng quá nổi tiếng Trần Đăng Khoa chứng kiến việc anh em của Công ty Thủy điện Sơn La đội mưa gió cùng anh em đồn biên phòng Ka Lăng; Giám đốc Công ty Thủy điện Sơn La và Lai Châu - Hoàng Trọng Nam đi tìm một hòn đá. Loại đá chọn tìm giữa bãi đá ngã ba đầu sông Đà, cứng gần như kim cương, cực đẹp, dáng tựa như một cột mốc biên cương. Thêm một viên đá xây đảo! Đá nơi đầu nguồn “dòng sông điện”, sẽ đặt lên nơi đảo xa của ta trên biển Đông, nhân việc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sẽ ra Trường Sa, khảo sát để giải quyết vấn đề điện lâu dài cho những người lính hải quân Việt Nam Nhân dân anh dũng.

Cả hai chuyến đấy đều khá mệt với cái tuổi xấp xỉ 70 của tôi, song thú vị. Chuyến thứ hai có đêm giao lưu, tặng 200 cuốn sách của Khoa và tôi. Tổ chức nói chuyện văn cho anh em Công ty Thủy điện Sơn La, quanh cuốn tiểu thuyết “Đảo Chìm”, nói về lòng yêu nước qua tinh thần giữ từng tấc đảo, vuông biển của lính hải quân.

Đi, nghe bao câu chuyện.

Chuyện anh hùng Thái Phụng Nê, một chuyên gia hàng đầu về thủy điện. Một người đã 83 xuân. Mắt vẫn tinh anh, cử chỉ vẫn nhanh nhẹn, đầu óc vẫn minh mẫn, thông tuệ và rất “không thích nói về mình”. “Ông già ấy, tính nết xưa nay vẫn thế, cho dù hầu khắp những công trình thủy điện lớn của đất nước, từ Bắc tới Nam, đa phần đều có dấu chân ông, bàn tay, trí tuệ khối óc ông đóng góp lớn lao”. Nhà nước muốn phong danh hiệu Anh hùng Lao động lần thứ hai cho ông, nhưng ông khiêm nhường từ chối.

Khá nhiều anh em kỹ sư và lãnh đạo, từ Sơn La tới Lai Châu đều hãnh diện khi nói về ông, khi chính họ cũng ít nói về họ. Thấy tôi cứ luẩn quẩn, lăng xăng luôn bên ông già Nê, họ rầm rì kể tôi nghe, về một “tấm gương con cháu Bác Hô”. Gương lao động tận tụy, không mệt mỏi; về, sự liêm khiết, gương mẫu, đạo đức mà làm nên “danh dự, uy tín ngành điện”. Danh dự và uy tín với cả trên lẫn dưới, trong vai trò quản lý vĩ mô và vi mô. “Nếu thiếu ông, nhiều công việc khó lòng tháo gỡ. Công việc thủy điện huy động vốn cực lớn, việc to, nhỏ đều liên quan tới nhiều ngành. Nhiều khi trong quan hệ chằng chịt của công việc, tưởng khó mà gỡ ra. Nhưng khi ông Nê đã tham gia, tư vấn, đề xuất, thì đến Thủ tướng cũng phải tin cậy mà giải quyết khẩn. Ngành nào liên quan cũng hiểu, tin cậy ông như thế. Một lãnh đạo có tâm và tầm! Chính vì vậy, Thủy điện Sơn La đã sớm hoàn thành trước thời hạn ba năm. Phát điện sớm ba năm, tính ra, tức là nước chảy ra tiền, trả lại cho đất nước, cho nhân dân 1.5 tỷ USD. Lai Châu chắc chắn cũng hoàn thành vượt tiến độ”, ông Vũ Đức Thìn - Ủy viên thường trực Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án thủy điện Sơn La - Lai Châu; nguyên thành viên Hội đồng thành viên EVN, nguyên Phó Tổng giám đốc EVN, nguyên Trưởng ban Quản lý dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La - đã nói với tôi như thế ở cột mốc biên cương số 18 Kẻng Mỏ, nhắc lại lần nữa ở cột mốc 29, nơi có hòn đá trắng thần thiêng, cũng nơi đầu nguồn sông Đà. Tôi cũng chứng kiến tai nghe mắt thấy, ngay tại Thủy điện Bản Chát. Biết tin ông nghỉ công tác hẳn, trong buổi chia tay, những người đã và mãi coi ông như cha như chú, khi ông Nê đã dìu dắt họ trưởng thành, bao nhiêu năm trời sống chết với ngành, họ đổ lệ lúc nói lời chia tay. Tôi cũng nghe trên hai chuyến đi, chuyện hàng vạn cán bộ, kỹ sư, công nhân, suốt hơn 20 năm nay, lăn lộn nơi núi xa rừng thẳm, để làm ra điện sạch - Sơn La và Lai Châu. Họ, đa số rất trẻ, trẻ y như lứa tụi tôi trong chiến tranh.

Nhưng trở về Hà Nội, tôi không nặn ra được một chữ. Viết rồi xóa. Các con chữ “phải mặn” mà nó cứ nhạt thênh thếch, nhẹ tênh tênh! Tôi nằm trăn trở nhiều đêm, nhớ lại vài chuyện qua bao tấm ảnh lưu giữ. Cảnh những ngày đầu anh em ngành điện đến xây dựng Sơn La rồi Lai Châu. Và, kì lạ thay, tôi hay nhớ đến một đêm trong khu tập thể Ban A ở Nậm Nhùn. Đám anh em kỹ sư, cán bộ và công nhân nắm tay nhau làm một vòng tròn quanh “người tướng già” Thái Phụng Nê. Bùi Phương Nam - Phó giám đốc Ban A - bắt nhịp, hát bài Lên Đàng, có đoạn: “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng, xây nguồn tươi sáng...”. Mỗi lần nhớ là trong tôi y như có một dòng điện vụt chạy. Ừ, giữa một nơi mà xung quanh toàn rừng là rừng, núi là núi, im lặng tới rùng mình, tiếng hát của con người cất lên. Tiếng hát như sức nóng lửa trong tro, trong trấu ủ giữa đống dấm bếp nhà tộc Việt, trong những cơn mưa chập chùng đại ngàn bỗng vụt bùng cháy thành ngọn lửa. Ánh lửa ấy ấm áp, lan xa, bay về phía nơi có Nhà máy Thủy điện Lai Châu.

Đêm ấy, trăng tròn và cao. Con đập thủy điện khổng lồ như dải khăn lụa đầy hoa phát sáng. Tấm khăn lụa trắng đầy trăng, hai đầu khăn quàng trên hai bên vai núi. Hai đỉnh ngọn núi cũng quấn quýt dải mây trắng tắm trăng. Tấm khăn lụa vắt ngang con sông Đà, hắt bóng xuống phía thượng lưu, hạ lưu, hòa vào cả trời, cả nước lẫn trăng, sao, trong lấp lánh lân tinh của sóng vỡ ra vạn ngàn điểm sáng, để tôi chẳng biết, đâu là trời, đâu là nước. Mênh mang!

Tôi bật dậy, 11 giờ đêm, mở máy nhắn tin cho Chánh Văn phòng Ban A Sơn La, anh Vũ Đức Lực. Vẻn vẹn: “Tôi muốn lên Lai Châu ăn, nằm với anh em”. Sớm sau, tôi điện lại cho Lực, nói về dự án một chuyến đi, xin một mình tôi lên bám công trường, để trả món nợ không ai đòi. Món nợ tập thể những con người, mà trong tâm trí tôi đã coi họ là những người lính đứng đầu trên mặt trận kinh tế “vô danh trận mạc”.

Thế là nguyện vọng tôi được toại nguyện. Sau ngày khởi động khảo sát nhằm mở rộng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình sẽ dự kiến thêm hai tổ máy, Phó giám đốc Dự án Sơn La - Lai Châu, Bùi Phương Nam, cười giòn, nói với tôi qua điện thoại: “Đi chuyến này anh phải làm lính chiến với tụi em đấy!”. Lính chiến lần nữa thì đã sao!, tôi trả lời anh. Nói ngay với vợ, tức tốc chuẩn bị ba lô, dăm bộ áo quần, vài vật dụng và 5 giờ sớm hôm sau hôn thầm vào má thằng con trai ba tuổi, phắt ra đầu ngõ đón xe.

Thực ra trước đó suốt đêm ấy tôi trằn trọc. Bao nhiêu khuôn mặt ở hai chuyến đi trước hiện lên. Con sông Đà với nhiều đoạn chảy xiết, đẹp dữ dội và cường tráng trong tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân. Những bản heo hẻo, dăm bẩy nóc nhà chìm trong mây và cả hai mặt hồ bao la, mỗi hồ chạy dài 150 cây số đang đợi tôi. Hệt như những đêm xưa trước một trận đánh, khi tham gia chiến tranh, đôi khi người ta cũng phải suy nghĩ. Tôi đã 68 tuổi, đi, trèo đèo và có khi lội suối, sống sao để không là một gánh nặng cho anh em ở đó, đã suốt ngày bận rộn? Lại lần này, liệu bút lực mình có còn không, đủ không? Đủ để khắc lên những sự thật! Tỏ lòng người, rõ lòng tôi. Một người lính cũ, một nhà văn già vô cùng nhỏ nhoi trước hai công trình khổng lồ mà thủy điện Sơn La lớn nhất Đông Nam Á đã cung cấp bao nhiêu điện cho đất nước, tạo nên từ sức lao động, trí tuệ tự lực, tự cường của người Việt.

(Còn nữa)

TIN LIÊN QUAN
Phần II - Vừa đi vừa viết

Tùy bút của Nguyễn Văn Thọ - Kính tặng những người anh em làm thủy điện