Trò chuyện với người giữ lửa gốm Phước Tích

Trong câu chuyện của anh Nguyễn Thanh Bảo, nghề gốm cổ truyền Phước Tích (thành phố Huế) hiện lên vừa tự hào, vừa chênh chao giữa thời cuộc.

Chênh chao gốm cổ

Giữa muôn vàn sắc màu rực rỡ của hàng hoá, hoa, trang phụ dân tộc của bà con vùng dân tộc thiểu số, sản phẩm gốm Phước Tích ở khu trưng bày của thành phố Huế tại Hội chợ Mùa Xuân diễn ra gần đây như một nốt nhạc trầm, nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Bằng giọng nhẹ nhàng của người dân Huế chính hiệu, anh Nguyễn Thanh Bảo - chủ cơ sở sản xuất, trải nghiệm gốm Phước Tích - Ô Lâu, kể, nhắc đến làng cổ Phước Tích, mọi người nghĩ ngay đến những ngôi nhà rường vài trăm năm tuổi, những bến nước rợp bóng cây và nghề gốm từng vang danh khắp miền Trung. Nghề ấy, theo sử liệu đã có từ khoảng năm 1470, hơn 500 năm trước.

Anh Nguyễn Thanh Bảo - chủ cơ sở sản xuất, trải nghiệm gốm Phước Tích - Ô Lâu. Ảnh: Hải Linh

Anh Nguyễn Thanh Bảo - chủ cơ sở sản xuất, trải nghiệm gốm Phước Tích - Ô Lâu. Ảnh: Hải Linh

Anh Nguyễn Thanh Bảo không sinh ra trong gia đình nhiều đời làm gốm. Anh đến với nghề như một cái duyên. Năm 2013, anh học sư phạm mỹ thuật ra trường, gặp thời điểm kinh tế khó khăn, việc làm bấp bênh. Một lớp dạy nghề gốm do địa phương tổ chức đã mở ra cho anh một lối rẽ khác. “Tự học thêm, thấy mình hợp, thấy thích, thế là theo từ 2014 đến giờ”, anh kể, giọng trầm và chậm.

Gốm Phước Tích có nét riêng khó lẫn. Đó là đất. Đất Huế có cấu tạo đặc biệt, cho sản phẩm độ rắn chắc cao, đanh và bền. Xưa kia, loại đất này được chọn làm om, niêu nấu cơm tiến vua vì giữ nhiệt tốt, nấu cơm ngon. Từ những chiếc om ấy, tên tuổi gốm Phước Tích đi vào hoàng cung Triều Nguyễn, một phần hiện còn lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế.

Không men, không màu, nung bằng củi, làm hoàn toàn thủ công, đó là đặc trưng của dòng gốm này”, Bảo nói. Màu nâu đen bóng mịn, khi ánh sáng chiếu vào có thể chuyển sắc vàng nhạt, tím ánh đồng hay thẫm đen, tùy loại củi, tùy nhiệt độ, tùy thời gian nung. Nhiệt độ lý tưởng là khoảng 1.175°C, chỉ cần sai số nhỏ, lò sẽ không đạt nhiệt, sản phẩm không cho ra màu men như ý.

Xây lò, theo anh Nguyễn Thanh Bảo là cả một bài toán kỹ thuật khi chiều cao, chiều rộng, buồng củi, ống khói, lỗ thông hơi phải tương ứng tuyệt đối với diện tích khoang lò. Ống khói nhỏ quá, nhiệt không đủ; lớn quá, nhiệt thoát nhanh. Với kỹ thuật nung bằng củi, mỗi loại củi sẽ cho ra một màu men khác nhau, củi xoan (sầu đông) cho sắc vàng; gỗ tràm, vỏ trấu tạo ánh tím; củi mít lại cho tông nhạt khác. Thời gian nung dài hay ngắn cũng quyết định lớp bề mặt dày hay mỏng.

Anh Nguyễn Thanh Bảo từng thử tráng men, đổ khuôn, làm hàng nhanh giá rẻ để dễ bán. Nhưng đất Phước Tích dẻo, xương mềm, dễ sụn khi vuốt, không hợp kiểu sản xuất công nghiệp. Sau nhiều trăn trở, anh quay về đúng cốt lõi là làm đồ đựng thực phẩm như: trà cụ, hũ mắm, hũ muối, bình rượu. “Khách nói trà pha trong ấm này ngon hơn, mắm muối lâu hỏng hơn”, anh kể.

Quy trình làm một lô gốm kéo dài cũng mất khoảng 10 ngày, một ngày làm đất, một ngày tạo hình thô, ba ngày làm khô, một ngày vệ sinh, rồi nung. Mỗi ngày mỗi người nhanh tay cũng chỉ vuốt được 20 - 30 sản phẩm. Nhịp độ ấy chậm rãi như chính dòng Ô Lâu bao quanh làng, con sông từng tấp nập thuyền buôn chở lu, chậu, om, niêu đi khắp nơi.

Qua nghiên cứu sử sách, anh Nguyễn Thanh Bảo kể, thế kỷ XVII - XVIII là thời hưng thịnh nhất của làng gốm Phước Tích. Nhà nhà lò đỏ lửa, 12 bến nước rộn ràng. Nhà rường được dựng lên từ tiền bán gốm, con em học hành đỗ đạt. Có tài liệu ghi nhận gốm Phước Tích từng xuất sang Nhật thời Chúa Nguyễn và thời Pháp. Một làng nghề, một dòng sông, một ký ức phồn hoa.

Gian trưng bày gốm Phước Tích thu hút sự quan tâm của khách tại Hội chợ Mùa Xuân. Ảnh: Hải Linh

Gian trưng bày gốm Phước Tích thu hút sự quan tâm của khách tại Hội chợ Mùa Xuân. Ảnh: Hải Linh

Giờ đây, dân làng chỉ còn chưa tới 350 người. Số hộ làm gốm đếm trên đầu ngón tay. Những lò nung thưa dần, bàn xoay vắng tiếng. Danh tiếng tiền nhân như lớp men cũ phai theo năm tháng.

Trăn trở giữ nghề

Anh Nguyễn Thanh Bảo trăn trở, hiện ở Phước Tích còn ba hộ làm gốm, nhưng chỉ hai cơ sở làm thương mại, trong đó có cơ sở của anh. Lao động thường xuyên ở xưởng anh chỉ bốn người, khi có đơn gấp mới thuê thêm, tổng cộng 5 - 6 người.

Tiêu thụ còn hạn chế. Sản phẩm được phân phối qua ba điểm bán lẻ tại Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh. Chủ yếu ký gửi, phục vụ du lịch, lễ hội, trang trí trong tỉnh và vùng lân cận. Thị trường lớn hơn vẫn là câu hỏi mở.

Bài toán năng suất, chi phí, thị trường luôn nặng nề. Nghề này không đòi hỏi sức khỏe quá tốt, nhưng cần kiên trì và khéo tay. Đất khó làm, một sai sót nhỏ ở khâu nung có thể mất cả lô hàng. Trong khi đó, sản phẩm công nghiệp giá rẻ tràn ngập.

Mỗi loại củi dùng để nung, mỗi vị trí trong lò sẽ cho ra sản phẩm gốm có màu men khác nhau. Ảnh: Hải Linh

Mỗi loại củi dùng để nung, mỗi vị trí trong lò sẽ cho ra sản phẩm gốm có màu men khác nhau. Ảnh: Hải Linh

Anh không giấu nỗi buồn khi nói về sự mai một. Lớp trẻ rời làng đi học, đi làm xa. “Một mình mình không làm gì được”, anh thẳng thắn. Nhưng anh cũng không bi quan.

Mỗi mùa hè, cơ sở của anh mở lớp dạy nghề miễn phí cho học sinh. Sản phẩm các em làm ra, nếu bán được, tiền thuộc về các em. “Mình tìm trong đó một, hai đứa có đam mê, theo nghề lâu dài”, anh nói. Cách làm nhỏ nhưng là gieo mầm.

Trong tổng thể bảo tồn, Phước Tích có lợi thế là di sản. Làng được công nhận Di tích quốc gia năm 2009, là một trong bốn làng cổ tiêu biểu của Việt Nam. Quần thể nhà rường, đình, chùa, miếu, di tích Chăm Pa, cùng nghề gốm truyền thống tạo nên không gian văn hóa hiếm có. Du khách đến đây không chỉ xem sản phẩm, mà còn được trải nghiệm xoay bàn, nặn đất, nghe nghệ nhân kể chuyện lò nung không tắt lửa.

Tuy nhiên, du lịch chỉ là một phần. Muốn nghề sống được, phải có sản phẩm đủ sức cạnh tranh và thị trường đủ rộng. Chính quyền địa phương, Ban quản lý làng cổ, các nhà khoa học đã đề xuất nhiều giải pháp như: định hình sản phẩm mới, cải tiến kỹ thuật, gắn gốm với du lịch bền vững, xây dựng sản phẩm văn hóa đặc thù. Nhưng đến nay, lao động làm nghề vẫn thưa thớt.

Mai một thực tế không chỉ là câu chuyện của gốm Phước Tích, đó là câu chuyện của những làng nghề nhiều trăm năm tuổi như gốm Bồ Bát, gốm Kim Lan đang tìm cách đứng lại giữa biến động. Và gốm Phước Tích từng đi vào hoàng cung, từng theo thuyền buôn vượt sông ra biển. Hôm nay, dòng gốm cổ này đứng trước lựa chọn hoặc lùi vào ký ức, hoặc tìm cách thích nghi. “Nhưng, đất vẫn còn đó, lò vẫn còn đó”, anh Bảo nói, “chỉ cần có người giữ lửa”.

Gốm Phước Tích là làng nghề làm gốm cổ có tuổi đời khoảng 500 năm tuổi, rất nổi tiếng của thành phố Huế. Để bảo tông nghề truyền thống này, Nhân dân và chính quyền địa phương đang triển khai nhiều giải pháp cả ngắn hạn và dài hạn.

Hải Linh

Có thể bạn quan tâm

Bình luận