Tiến sĩ Trần Hải Linh: Phát huy vai trò nghị viện, mở giai đoạn hợp tác mới Việt Nam - Hàn Quốc

Quốc hội hai nước Việt Nam - Hàn Quốc ngày càng thể hiện rõ vai trò kiến tạo phát triển; cùng tháo gỡ những điểm nghẽn pháp lý, tạo môi trường đầu tư minh bạch, ổn định.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam vừa kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Hàn Quốc theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Cho Jeong Sik. Nhân dịp này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi, phỏng vấn với Tiến sĩ Trần Hải Linh - Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA), Chủ tịch sáng lập Hội chuyên gia, trí thức Việt Nam - Hàn Quốc (VKEIA) về những kết quả của chuyến thăm.

Tiến sĩ Trần Hải Linh chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương về những kết quả nổi bật từ chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dưới góc nhìn của một chuyên gia, doanh nhân, doanh nghiệp.

Tiến sĩ Trần Hải Linh chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương về những kết quả nổi bật từ chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dưới góc nhìn của một chuyên gia, doanh nhân, doanh nghiệp.

Phát huy vai trò hợp tác nghị viện, kiến tạo phát triển

- Dưới góc nhìn của một chuyên gia, doanh nhân, người gắn bó nhiều năm với cộng đồng doanh nghiệp hai nước Việt - Hàn, Tiến sĩ đánh giá thế nào về những kết quả nổi bật từ chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn? Đặc biệt, trong hợp tác nghị viện giữa hai nước?

Tiến sĩ Trần Hải Linh: Chuyến thăm đã tạo thêm một xung lực về chính trị và thể chế, góp phần đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hàn Quốc đi vào chiều sâu, thực chất và bền vững hơn. Trước chuyến thăm chúng ta nói nhiều về kỳ vọng, qua hội đàm giữa Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Cho Jeong Sik diễn ra vào ngày 7/9 vừa qua, có thể nhận diện khá rõ ba kết quả nổi bật.

Thứ nhất, tiếp tục củng cố tin cậy chính trị và tạo sự liên tục trong trao đổi cấp cao giữa hai nước.

Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc hiện nay đã vượt xa khuôn khổ của một quan hệ kinh tế đơn thuần. Hai nước có sự gắn kết rất sâu về đầu tư, thương mại, chuỗi cung ứng, khoa học - công nghệ, văn hóa, giáo dục và đặc biệt là giao lưu nhân dân. Vì vậy, việc duy trì thường xuyên các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo sự ổn định và định hướng dài hạn cho quan hệ song phương.

Thứ hai, Quốc hội hai nước đang ngày càng thể hiện rõ vai trò không chỉ là cơ quan “ủng hộ” quan hệ song phương, mà còn là những chủ thể trực tiếp kiến tạo hành lang pháp lý cho quan hệ Việt - Hàn phát triển.

Tại hội đàm, hai Chủ tịch Quốc hội đã thống nhất tăng cường trao đổi đoàn các cấp, hợp tác giữa các ủy ban chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệm lập pháp và triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ hợp tác giữa hai Quốc hội ký tháng 11/2025. Hai bên cũng nhất trí tăng cường phối hợp giám sát việc thực hiện các điều ước quốc tế và thỏa thuận hợp tác giữa hai Chính phủ, đồng thời hoàn thiện chính sách, pháp luật để tạo môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân hai nước. Đây là điểm rất quan trọng, là bước chuyển từ “ngoại giao nghị viện đồng hành” sang “ngoại giao nghị viện kiến tạo phát triển”; cùng nhau tháo gỡ những điểm nghẽn về pháp lý, tạo môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, thuận lợi hơn.

Thứ ba, gắn hợp tác nghị viện với những bài toán phát triển cụ thể của hai nền kinh tế.

Hai bên tiếp tục hướng tới mục tiêu đưa thương mại song phương đạt 100 tỷ USD trong năm 2026 và 150 tỷ USD vào năm 2030 theo hướng cân bằng, bền vững; đồng thời thúc đẩy đầu tư vào những lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng, bán dẫn, trung tâm dữ liệu AI quy mô lớn, năng lượng và cảng biển.

Thêm một nội dung mang ý nghĩa xã hội và nhân văn rất sâu sắc được truyền tải thông qua chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đó là hai bên cùng quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân mỗi nước, trong đó có cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc và cộng đồng người Hàn Quốc tại Việt Nam cùng khoảng 100 nghìn gia đình đa văn hóa Việt - Hàn. Chính họ là một nền tảng xã hội đặc biệt để quan hệ hai nước Việt - Hàn phát triển bền vững trong nhiều thập niên tới.

Thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện thông qua hợp tác khoa học - công nghệ, AI, bán dẫn

- Theo Tiến sĩ, những kết quả trên đã tạo thêm động lực và “dư địa” mới như thế nào để đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hàn Quốc đi vào chiều sâu, thực chất hơn trong thời gian tới?

Tiến sĩ Trần Hải Linh: Những kết quả nêu trên không chỉ củng cố những nền tảng hợp tác đã có, mà quan trọng hơn là mở thêm những “dư địa mới” để quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hàn Quốc chuyển từ phát triển mạnh về quy mô sang phát triển sâu về chất lượng và giá trị gia tăng.

Sau hơn ba thập niên hợp tác, quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc không chỉ dừng lại ở câu hỏi “có thể hợp tác thêm bao nhiêu?” mà quan trọng hơn là “hai nước có thể cùng nhau tạo ra những giá trị mới nào?”. Các lĩnh vực mà hai bên còn nhiều dư địa để thúc đẩy hợp tác và trả lời cho câu hỏi trên đó là:

Một là, về khoa học - công nghệ và các ngành công nghiệp tương lai. Giai đoạn trước, một trong những dấu ấn nổi bật của quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc là dòng vốn đầu tư vào sản xuất, điện tử, công nghiệp chế biến, chế tạo, thì giai đoạn tới cần tiến mạnh hơn vào bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, công nghệ sinh học, năng lượng mới, công nghiệp xanh, R&D và đổi mới sáng tạo.

Trong chuyến thăm chính thức Hàn Quốc lần này, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã đề nghị tạo cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia các “siêu dự án” bán dẫn và AI của Hàn Quốc, đồng thời thúc đẩy đào tạo chuyên gia công nghệ cao. Đây là một tín hiệu rất quan trọng. Vì vậy, hai bên cần hướng tới một mô hình mới: không chỉ “doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư tại Việt Nam”,“Việt Nam và Hàn Quốc cùng nghiên cứu, cùng phát triển công nghệ, cùng đào tạo nhân lực và cùng tạo ra sản phẩm cho thị trường toàn cầu”.

Hai là, nâng cấp chuỗi giá trị và năng lực doanh nghiệp Việt Nam. Một chỉ số cần được quan tâm hơn trong mối quan hệ Việt - Hàn đó là: có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn Hàn Quốc; bao nhiêu công nghệ được chuyển giao; bao nhiêu kỹ sư Việt Nam làm chủ công nghệ; bao nhiêu sản phẩm được nghiên cứu và phát triển ngay tại Việt Nam.

Nếu làm được điều đó, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc sẽ chuyển từ quan hệ “đầu tư - sản xuất” sang quan hệ “cùng tham gia chuỗi giá trị và cùng sáng tạo giá trị”. Và đây chính là một trong những “dư địa” lớn nhất của quan hệ kinh tế hai nước trong 10 năm tới.

Ba là, về thể chế và hợp tác nghị viện. Quốc hội hai nước không chỉ thúc đẩy quan hệ chính trị mà có thể trở thành một “bệ đỡ thể chế” cho những lĩnh vực hợp tác mới. Bán dẫn, AI, dữ liệu, kinh tế số, năng lượng mới hay các trung tâm tài chính đều cần những khuôn khổ pháp lý mới, do đó, tăng cường trao đổi kinh nghiệm lập pháp, phối hợp giữa các Ủy ban chuyên môn và giám sát việc thực hiện các thỏa thuận giữa hai Chính phủ sẽ giúp những cam kết cấp cao nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Bốn là, kết nối địa phương - doanh nghiệp - hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Hàn Quốc có những trung tâm công nghiệp, công nghệ và đổi mới sáng tạo rất mạnh; Việt Nam cũng có nhiều địa phương đang tìm kiếm công nghệ, nguồn vốn, mô hình quản trị và thị trường quốc tế. Nếu kết nối đúng nhu cầu, hai bên có thể hình thành những mô hình hợp tác rất cụ thể: một địa phương Việt Nam với một cụm công nghiệp Hàn Quốc; một trường đại học với một trung tâm R&D; một doanh nghiệp Việt Nam với một chuỗi cung ứng Hàn Quốc; một startup Việt Nam với một hệ sinh thái công nghệ Hàn Quốc.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân gặp mặt bà con cộng đồng người Việt Nam hiện đang sinh sống, làm việc, học tập tại Hàn Quốc hôm 6/9 nhân chuyến thăm chính thức Hàn Quốc (Tiến sĩ Trần Hải Linh bên phải).

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân gặp mặt bà con cộng đồng người Việt Nam hiện đang sinh sống, làm việc, học tập tại Hàn Quốc hôm 6/9 nhân chuyến thăm chính thức Hàn Quốc (Tiến sĩ Trần Hải Linh bên phải).

Năm là, dư địa về con người. Như đã nói ở trên, con người và nguồn nhân lực là một “tài sản chiến lược” của quan hệ hai nước, họ có thể trở thành nguồn nhân lực đặc biệt cho quan hệ Việt - Hàn trong 20 - 30 năm tới.

Nếu tận dụng được hết những “dư địa” phát triển kể trên, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc sẽ không chỉ là một trong những quan hệ song phương thành công về kinh tế, mà có thể tiến tới một mô hình hợp tác mới giữa hai quốc gia: “cùng đầu tư - cùng nghiên cứu - cùng sản xuất - cùng phát triển thị trường và cùng kiến tạo những giá trị mới”.

- Dư địa hợp tác còn rất lớn. Vậy, theo Tiến sĩ, giai đoạn tới, Việt Nam cần chuẩn bị gì để không chỉ tiếp nhận vốn và công nghệ từ Hàn Quốc, mà từng bước cùng doanh nghiệp, chuyên gia hai nước nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ?

Tiến sĩ Trần Hải Linh: Hơn ba thập niên hợp tác, nhiều tập đoàn Hàn Quốc đã coi Việt Nam là một cứ điểm sản xuất quan trọng. Nhưng nếu nhìn về 10 - 20 năm tới, Việt Nam không thể chỉ dừng lại ở vai trò nơi tiếp nhận vốn, đặt nhà máy và tổ chức sản xuất. Mục tiêu cao hơn phải là từng bước trở thành nơi cùng nghiên cứu, cùng phát triển sản phẩm, cùng tạo ra công nghệ và cùng tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao nhất của chuỗi giá trị toàn cầu. Muốn làm được điều đó, Việt Nam cần chuẩn bị đồng thời nhiều nền tảng.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Phu nhân Nguyễn Thị Thanh Nga và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam với cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Phu nhân Nguyễn Thị Thanh Nga và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam với cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc.

Trước hết là nguồn nhân lực. Hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc trong giai đoạn tới cần có những chương trình đào tạo nguồn nhân lực mang tính chiến lược, theo mô hình doanh nghiệp - trường đại học - viện nghiên cứu - Nhà nước cùng tham gia. Không chỉ đào tạo theo số lượng, mà phải đào tạo đúng những năng lực mà các ngành công nghệ mới cần trong 5-10 năm tới. Đồng thời, cần khai thác tốt đội ngũ trí thức, kỹ sư người Việt đang làm việc tại Hàn Quốc. Đây là lực lượng rất đặc biệt vì họ vừa hiểu công nghệ và hệ sinh thái Hàn Quốc, vừa hiểu Việt Nam. Họ có thể trở thành những “hạt nhân chuyển giao tri thức” giữa hai nước.

Thứ hai, Việt Nam phải nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong nước. Chuyển giao công nghệ không phải là một quá trình một chiều. Vì vậy, cộng đồng doanh nghiệp trong nước cần được hỗ trợ nhiều hơn về nâng cấp quản trị, chất lượng, R&D, tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, chuyển đổi số và năng lực của đội ngũ kỹ sư...

Thứ ba, tạo ra những không gian để hai bên “cùng nghiên cứu” chứ không chỉ “chuyển giao”. Hai nước có thể cùng xây dựng các trung tâm R&D, phòng thí nghiệm chung, quỹ nghiên cứu chung hoặc các chương trình đặt hàng công nghệ trong những lĩnh vực hai bên có nhu cầu. Chúng tôi đặc biệt kỳ vọng vào mô hình “Joint R&D Vietnam - Korea”, trong đó nhà khoa học, kỹ sư, doanh nghiệp và trường đại học hai nước cùng nghiên cứu một bài toán, cùng sở hữu kết quả và cùng thương mại hóa sản phẩm. Khi đó, quan hệ công nghệ sẽ chuyển từ “bên chuyển - bên nhận” sang “hai bên cùng sáng tạo”.

Thứ tư, Việt Nam cần có một cơ chế chính sách đủ mạnh để khuyến khích R&D và chuyển giao công nghệ thực chất. Đồng thời, xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh. Quan trọng hơn, lựa chọn những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm đề đầu tư, nghiên cứu. Việt Nam có thể lựa chọn một số lĩnh vực mà mình vừa có nhu cầu chiến lược, vừa có khả năng hình thành lợi thế, lại phù hợp với thế mạnh của Hàn Quốc như: bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, pin và vật liệu mới, năng lượng sạch, robot, sản xuất thông minh và logistics số.

Nếu chuẩn bị tốt những yếu tố trên, trong 10 năm tới, khi nói đến thành công của hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc, chúng ta sẽ không chỉ nói có bao nhiêu tỷ USD đầu tư hay bao nhiêu tỷ USD thương mại, mà còn có thể nói rằng hai nước đã cùng phát triển được bao nhiêu công nghệ mới, bao nhiêu trung tâm R&D, bao nhiêu bằng sáng chế, bao nhiêu kỹ sư công nghệ cao và bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam đã thực sự bước lên những khâu giá trị cao hơn trong chuỗi toàn cầu. Đó mới là bước phát triển quan trọng nhất của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hàn Quốc trong giai đoạn mới.

- Xin cảm ơn Tiến sĩ!

Tiến sĩ Trần Hải Linh: Giai đoạn trước, Việt Nam thành công khi trở thành một cứ điểm sản xuất quan trọng của nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc. Giai đoạn tới, mục tiêu phải cao hơn: Việt Nam cần trở thành nơi hai nước cùng nghiên cứu, cùng phát triển công nghệ, cùng đào tạo nhân tài và cùng tạo ra sản phẩm cho thị trường toàn cầu. Muốn chuyển từ ‘tiếp nhận công nghệ’ sang ‘làm chủ công nghệ’, điều quyết định không chỉ là công nghệ được chuyển giao bao nhiêu, mà là năng lực công nghệ của người Việt Nam được nâng lên đến đâu.

Hoàng Hòa

Có thể bạn quan tâm