Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ tư 05/08/2020 11:26

Thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung giai đoạn 1: Ý nghĩa gì đối với Việt Nam?

10:12 | 19/02/2020
Mỹ và Trung Quốc đã ký thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 vào ngày 15/01/2020 sau nhiều dự đoán. Thỏa thuận thương mại này được coi là bước đi đầu tiên để giảm bớt cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đã diễn ra trong gần hai năm qua.

Nhưng điều này có ý nghĩa như thế nào đối với Việt Nam? Các nhà phân tích quốc tế cho rằng hầu hết mọi người trên toàn cầu đều mong muốn cuộc thương chiến chấm dứt và sẽ thấy điều này có lợi cho thương mại toàn cầu. Ở một mức độ nhất định, cuộc chiến thương mại này cũng đã mang lại lợi ích nhất định cho các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

Mặc dù thỏa thuận giai đoạn một là bước tiến quan trọng trong quan hệ Mỹ-Trung, có vẻ tạm thời và không đi sâu vào một số chi tiết về các dòng thuế hiện có giữa Mỹ và Trung Quốc. Tuy nhiên, thỏa thuận giai đoạn một là cam kết của Trung Quốc về việc mua thêm hàng hóa trị giá 200 tỷ USD của Mỹ trong hai năm tới. Thỏa thuận này được coi là một cách quản lý thương mại Mỹ-Trung hơn là đối phó với thuế quan cụ thể của Trung Quốc. Ngoài ra, thỏa thuận này chỉ bao gồm 134,2 tỷ USD trong tổng số 185,8 tỷ USD tổng xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc trong năm 2017. Thỏa thuận giai đoạn một cũng đi kèm với một số cảnh báo nhất định. Ví dụ: nếu Mỹ tin rằng Trung Quốc không mua đủ hàng hóa từ Mỹ và do đó không tuân thủ thỏa thuận, Mỹ có thể trả đũa bằng thuế quan bổ sung.

thoa thuan thuong mai my trung giai doan 1 y nghia gi doi voi viet nam

Trong khi Mỹ đã loại bỏ thêm thuế quan sẽ có hiệu lực vào tháng 12 năm ngoái, 25% thuế quan đối với hàng hóa trị giá 250 tỷ USD của Trung Quốc vẫn được giữ nguyên. Với những diễn biến gần đây cũng như sự bùng phát của dịch virus corona mới (Covid-19) ở Trung Quốc, thỏa thuận giai đoạn một dự kiến ​​sẽ không có tác dụng ngay lập tức và sâu sắc đối với Việt Nam bởi những lý do sau:

Thứ nhất, một số nhà sản xuất đã chuyển hoạt động sang Việt Nam do thương chiến Mỹ-Trung thông qua đầu tư vào các nhà máy, xây dựng văn phòng và sử dụng nhân viên. Điều này không giới hạn đối với các nhà đầu tư không phải là người Trung Quốc. Thuế quan trả đũa của Trung Quốc đối với Mỹ cũng đã đẩy một số nhà đầu tư Trung Quốc đến các thị trường khác. Khi đã chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư, việc quay trở lại Trung Quốc sẽ rất tốn kém.

Thứ hai, là nền kinh tế có xuất khẩu mạnh mẽ, Việt Nam đã tích cực ký kết một số hiệp định thương mại tự do (FTA). Các FTA này cùng với việc thực thi Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và FTA Việt Nam - EU sẽ đảm bảo rằng Việt Nam vẫn là điểm đến đầu tư cạnh tranh. Tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, quyền sản xuất và quyền của người lao động được đảm bảo trong các hiệp định này sẽ tiếp tục cho phép Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất và mở rộng như một cơ sở xuất khẩu.

Thứ ba, Việt Nam đã nỗ lực hơn để giải quyết vấn đề gian lận xuất xứ và trung chuyển. Gần đây, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 119/NQ-CP ngày 31/12/2019 về một số biện pháp cấp bách nhằm tăng cường quản lý nhà nước về phòng chống gian lận xuất xứ, chuyển tải hàng hóa bất hợp pháp. Hải quan Việt Nam cũng tăng cường các nỗ lực thực thi mà chính quyền Mỹ đánh giá cao.

Thứ tư, theo nghiên cứu của Ngân hàng Mỹ Merrill Lynch, thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ đã tăng lên 600 triệu USD. Để xoa dịu những lo ngại của Mỹ, Việt Nam đang nỗ lực giảm thặng dư thương mại bằng cách mua máy bay Boeing và sản phẩm năng lượng của Mỹ cũng như có biện pháp kiểm soát các nhà sản xuất Trung Quốc muốn chuyển hướng hàng hóa để tránh thuế quan.

Một khía cạnh khác cần lưu ý là Mỹ có thể không muốn một sự gián đoạn khác đối với chuỗi cung ứng của Mỹ ở Châu Á do lo ngại từ các nhà sản xuất Mỹ. Điều này đã được tính đến do sự bùng phát của Covid-19 đang diễn ra ở Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ cần phải cảnh giác. Năm 2019, Mỹ đã áp thuế đối với các sản phẩm nhôm và thép đối với Việt Nam vì cho rằng một số sản phẩm được sản xuất tại Hàn Quốc và Đài Loan và chuyển hướng qua Việt Nam để xuất khẩu. Trước đó vào năm 2017, Mỹ cũng đã áp thuế đối với Việt Nam đối với các sản phẩm thép có nguồn gốc từ Trung Quốc. Trong khi thỏa thuận giai đoạn một có thể giảm bớt căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc trong ngắn hạn, một số vấn đề vẫn chưa được giải quyết và do đó hai nước có thể quay trở lại căng thẳng thương mại và thuế quan mới.

Sự dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam gắn liền với cuộc chiến thương mại đã được thực hiện trong một số năm; với quy mô kinh tế của Trung Quốc, chuỗi cung ứng dầu mỏ và nguyên liệu thô - không một quốc gia nào có khả năng hấp thụ tất cả các sản phẩm của Trung Quốc bao gồm cả Việt Nam. Thay vì từ bỏ thị trường Trung Quốc, các nhà đầu tư đang lựa chọn bổ sung các hoạt động của Trung Quốc bằng các đầu vào chi phí thấp có nguồn gốc từ các cơ sở sản xuất tại các thị trường như Việt Nam. Việt Nam cũng phụ thuộc vào Trung Quốc đối với một số nguyên liệu thô cho một số ngành công nghiệp như dệt may, cao su và nhựa.

Dịch Covid-19 đã và đang gây áp lực lên chuỗi cung ứng tại Châu Á và Việt Nam. Nếu không có đủ nguồn nguyên liệu cho đến cuối tháng 2 để sản xuất hàng xuất khẩu thì các nhà đầu tư sẽ phải xem xét nhập khẩu các nguồn thay thế như Ấn Độ, Malaysia và Trung Quốc như một giải pháp tạm thời. Hai năm thương chiến Mỹ-Trung đã thúc đẩy các nhà đầu tư tìm kiếm các nhà cung cấp mới, xuất khẩu sang các thị trường khác nhau và đa dạng hóa hoạt động. Với phần lớn thuế quan vẫn còn, các nhà đầu tư chịu ảnh hưởng của chi phí thương chiến vẫn ít lạc quan hơn. Do đó, cuộc chiến thương mại đã làm lung lay các mối quan hệ chuỗi cung ứng hiện có, thúc đẩy các nhà đầu tư tạo nên sự hợp tác mới với trọng tâm đổi mới tại các thị trường mới nổi.

Việt Dũng