Thanh toán không dùng tiền mặt chuyển từ 'lượng' sang 'chất'

Tăng trưởng nhanh về số lượng, thanh toán không dùng tiền mặt bước vào giai đoạn chú trọng chất lượng, sự thuận tiện, minh bạch và an toàn giao dịch.

“Cửa ngõ” để người dân tiếp cận tài chính 

Thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán số đang trở thành một trong những điểm tiếp cận thường xuyên của người dân và doanh nghiệp với hệ thống tài chính chính thức. Không chỉ đáp ứng nhu cầu giao dịch nhanh chóng, thuận tiện, loại hình thanh toán này còn mở ra khả năng tiếp cận các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và những sản phẩm tài chính phù hợp hơn, qua đó tạo nền tảng để thúc đẩy tài chính toàn diện.

Tọa đàm “Thúc đẩy tài chính toàn diện - Động lực từ thanh toán không dùng tiền mặt”.

Tọa đàm “Thúc đẩy tài chính toàn diện - Động lực từ thanh toán không dùng tiền mặt”.

Tại Tọa đàm “Thúc đẩy tài chính toàn diện - Động lực từ thanh toán không dùng tiền mặt” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 6/10, ông Nguyễn Xuân Hải, Quyền Tổng biên tập Thời báo Ngân hàng, cho rằng thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những nội dung rường cột của Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia cũng như Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng. Thanh toán số không chỉ mang lại sự tiện ích, nhanh chóng mà còn là “cầu nối” trọng yếu đưa người dân và doanh nghiệp tiếp cận sâu rộng vào hệ sinh thái tài chính, từ tài khoản thanh toán đến các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và các sản phẩm tài chính phù hợp. Đây cũng chính là đích đến của tài chính toàn diện.

Theo bà Nguyễn Thị Thu, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước, chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc cách người dân và doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ ngân hàng - tài chính. Khả năng xóa bỏ những hạn chế về khoảng cách địa lý giúp thanh toán số ngày càng trở thành điểm tiếp cận đầu tiên để người dân làm quen và sử dụng sâu hơn các dịch vụ tài chính.

Bà Nguyễn Thị Thu cho rằng, thanh toán không dùng tiền mặt có vai trò như một “cửa ngõ” để người dân tiếp cận hệ thống tài chính. Từ những giao dịch ban đầu, khách hàng có thể từng bước sử dụng các dịch vụ như tiết kiệm, đầu tư, bảo hiểm. Việc thực hiện giao dịch không phụ thuộc vào các điểm giao dịch vật lý cũng giúp giảm rào cản về không gian, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Cùng với đó, dữ liệu phát sinh trong quá trình thanh toán tạo thêm cơ sở để các tổ chức cung ứng dịch vụ nhận diện nhu cầu, thiết kế sản phẩm phù hợp hơn với từng nhóm khách hàng, trong đó có nhóm yếu thế. Theo đại diện Vụ Thanh toán, thanh toán không dùng tiền mặt được xác định trên 4 phương diện là mở “cửa ngõ” tiếp cận tài chính; xóa rào cản địa lý và chi phí; tạo lập dữ liệu tài chính; nâng cao tính minh bạch, an toàn.

Thực tế, thanh toán không dùng tiền mặt đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Tính đến tháng 8/2026, tổng thể thanh toán không dùng tiền mặt tăng 34,56% về số lượng và 13,26% về giá trị. Giao dịch trực tuyến tăng 46,57% về số lượng và 21,77% về giá trị; thanh toán qua điện thoại di động tăng 35,33% về số lượng và 23,9% về giá trị.

Thanh toán qua mã phản hồi nhanh (QR) tại đơn vị chấp nhận thanh toán tăng 6,66% về số lượng và 25,85% về giá trị. Giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng 13,39% về số lượng và 62,67% về giá trị; hệ thống chuyển mạch và bù trừ điện tử tăng 33,11% về số lượng.

Đến cuối năm 2025, tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản đạt 88,96%. Quy mô giá trị thanh toán không dùng tiền mặt tương đương khoảng 28 lần GDP, tiến gần mục tiêu 30 lần GDP vào năm 2030. Hạ tầng chấp nhận thanh toán cũng tiếp tục được mở rộng với 20.570 ATM, 807.778 POS; 84 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán qua Internet, 54 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động và 55 tổ chức trung gian thanh toán.

Bà Nguyễn Thị Thu, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước phát biểu tại toạ đàm.

Bà Nguyễn Thị Thu, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước phát biểu tại toạ đàm.

Tại khu vực nông thôn và những nhóm còn hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, mạng lưới thanh toán tiếp tục được mở rộng thông qua các mô hình mới. Đến ngày 30/6/2026, có khoảng 5,7 nghìn điểm đại lý thanh toán; 11,45 triệu tài khoản tiền di động được đăng ký, trong đó 6,18 triệu tài khoản hoạt động. Cùng với đó là 5.158 điểm kinh doanh tiền di động trên địa bàn cấp xã, không bao gồm phường tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Ở góc độ hạ tầng, ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), cho rằng thanh toán số đang trở thành một trong những điểm tiếp cận gần gũi và thường xuyên nhất của người dân với hệ thống tài chính chính thức. Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, hành trình này có thể được nhìn nhận theo một chuỗi liên tục: từ nhu cầu thanh toán hàng ngày, người dân bắt đầu sử dụng thanh toán số; khi việc sử dụng trở nên thường xuyên, họ hình thành thói quen sử dụng tài khoản và các dịch vụ tài chính chính thức, từ đó từng bước tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái tài chính. Vì vậy, thành công của tài chính toàn diện không chỉ được đo bằng số lượng tài khoản được mở mà quan trọng hơn là tài khoản đó có được sử dụng thuận tiện, thường xuyên và thực chất trong đời sống hàng ngày hay không.

Từ mở rộng về lượng đến nâng chất lượng sử dụng

Để thanh toán số thực sự trở thành động lực của tài chính toàn diện, yêu cầu đặt ra không chỉ nằm ở việc mở rộng số lượng tài khoản hay điểm chấp nhận thanh toán mà còn ở khả năng sử dụng thường xuyên, thuận tiện và an toàn.

Hạ tầng thanh toán được xác định là một yếu tố quan trọng trong quá trình này. Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, phía sau những ứng dụng ngân hàng, ví điện tử, thẻ hay mã QR mà người dùng trực tiếp nhìn thấy là hệ thống hạ tầng bảo đảm giao dịch được kết nối, xử lý và hoàn tất nhanh chóng, chính xác, an toàn. Hạ tầng dùng chung cũng góp phần giảm chi phí đầu tư các kết nối riêng lẻ, giảm chi phí xử lý tiền mặt và tạo điều kiện mở rộng dịch vụ tới khu vực nông thôn, vùng xa và những nhóm khách hàng chưa được phục vụ đầy đủ.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) phát biểu.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) phát biểu.

Trong hệ sinh thái này, NAPAS đóng vai trò hạ tầng kết nối thanh toán bán lẻ quốc gia. Hệ thống hiện kết nối 70 tổ chức thành viên, xử lý khoảng 12 tỷ giao dịch trong năm 2025, phục vụ 100 triệu khách hàng, đồng thời kết nối mạng lưới hơn 20.000 ATM và hơn 930.000 POS/mPOS.

Cùng với chuyển tiền nhanh 24/7, VietQR đang góp phần đơn giản hóa trải nghiệm thanh toán. Hiện có 60 ngân hàng và ví điện tử hỗ trợ giao dịch qua mã VietQR. Việc triển khai QR không đòi hỏi đơn vị chấp nhận thanh toán phải đầu tư thiết bị phức tạp, phù hợp với cửa hàng nhỏ, hộ kinh doanh cũng như các giao dịch có giá trị nhỏ nhưng tần suất cao.

Thanh toán các khoản thiết yếu như điện, nước, viễn thông, Internet, học phí, bảo hiểm, phí, lệ phí và dịch vụ công cũng góp phần hình thành thói quen sử dụng tài khoản. Đây là những giao dịch có tính định kỳ và tần suất cao, qua đó thanh toán không dùng tiền mặt dần trở thành một lựa chọn thường xuyên trong đời sống.

Phạm vi thanh toán số cũng đang được mở rộng ra ngoài biên giới. Với thanh toán QR xuyên biên giới, người Việt Nam có thể sử dụng ứng dụng ngân hàng hoặc ví điện tử quen thuộc để thanh toán khi đi nước ngoài; khách quốc tế cũng có thể sử dụng QR tại các điểm bán ở Việt Nam. Dịch vụ VietQRGlobal đã được triển khai kết nối với các mạng lưới tại Thái Lan, Lào và Campuchia và tiếp tục được mở rộng.

Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, để hạ tầng thanh toán tiếp tục thúc đẩy tài chính toàn diện, cần bảo đảm 5 yếu tố: dễ tiếp cận, thiết thực, kết nối, mở rộng và an toàn, tin cậy. Hạ tầng phải vận hành liên tục, hỗ trợ tra soát, tăng cường phòng, chống gian lận, đồng thời tiếp tục mở rộng kết nối giữa người dân với ngân hàng, doanh nghiệp và các đơn vị cung cấp dịch vụ. “Mỗi kết nối mới trên hạ tầng thanh toán số là thêm một cơ hội để người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp đến gần hơn với tài chính toàn diện”, ông Tùng nhấn mạnh.

Trong khi đó, theo bà Nguyễn Thị Thu, giai đoạn 2026 - 2030, định hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt sẽ chuyển từ chú trọng về “lượng” sang “chất”. Khả năng tiếp cận cần đi cùng chất lượng trải nghiệm, mức độ thuận tiện, minh bạch và khả năng sử dụng thường xuyên của người dân. Chi phí giao dịch cũng cần được tối ưu theo hướng hợp lý, phù hợp với điều kiện của người dân và doanh nghiệp.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà phát biểu tại toạ đàm.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà phát biểu tại toạ đàm.

Theo Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà, các ý kiến tại Tọa đàm cho thấy cần tiếp tục gắn phát triển thanh toán không dùng tiền mặt với mục tiêu tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, lấy khả năng tiếp cận, sử dụng thực chất, an toàn và bình đẳng các dịch vụ tài chính của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm.

Cùng với hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, phát triển hạ tầng, sản phẩm và kênh phân phối với chi phí hợp lý, yêu cầu đặt ra còn là nâng cao hiểu biết tài chính, kỹ năng số, tăng cường an toàn, bảo mật, phòng ngừa gian lận, bảo vệ dữ liệu và quyền lợi người sử dụng. Những yếu tố này được xác định là nền tảng để thanh toán số được sử dụng thường xuyên, hình thành thói quen tài chính mới và thúc đẩy tài chính toàn diện phát triển bền vững.

Mục tiêu đến năm 2030 có 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác và giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP đặt ra yêu cầu không chỉ mở rộng bề rộng tiếp cận. "Chất lượng không chỉ được đo bằng bề rộng mà quan trọng hơn còn là độ sâu tiếp cận của tài chính toàn diện" - Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nhấn mạnh.

Ngày 25/5/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 928/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm. Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030 có 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.

Hoàng Lan

Có thể bạn quan tâm