Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ năm 24/09/2020 09:44

Tái chế rác thải nhựa: Vẫn chậm và khó

16:00 | 27/04/2020
Là một trong những quốc gia có lượng rác thải nhựa lớn trên thế giới, nhưng Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tái chế thành nguyên liệu đầu vào cho các ngành kinh tế.
tai che rac thai nhua van cham va kho
Báo động tình trạng rác thải nhựa

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), nguyên liệu cho ngành công nghiệp nhựa trong nước đang thiếu. Những năm qua, với tốc độ tăng trưởng từ 16 - 18%/năm, ngành nhựa đã trở thành ngành có tăng trưởng cao nhất Việt Nam. Hiện, cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệp (DN) nhựa; trong đó, 450 DN sản xuất bao bì và tạo ra lượng lớn rác thải nhựa hàng ngày, bao gồm cả túi nilon khó phân hủy. Túi nilon chiếm khối lượng khá lớn trong chất thải nhựa (CTN) do được cung cấp miễn phí từ các cửa hàng.

Năm 2018, Việt Nam nhập khẩu khoảng 5,59 triệu tấn chất dẻo nguyên liệu, trị giá 9,1 tỷ USD, tăng 11,9% về lượng và 20% về trị giá so với năm 2017. VPA dự kiến, nhu cầu hạt nhựa được tính toán với tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm đạt 10%, đến năm 2023, ngành nhựa cần khoảng 10 triệu tấn nguyên liệu để phục vụ sản xuất và xuất khẩu; trong số đó, Việt Nam có thể sản xuất được 2,6 triệu tấn, đáp ứng 26%, số còn lại 7,4 triệu tấn phải nhập khẩu.

Như vậy, ngành nhựa phụ thuộc từ 70 - 80% nguyên liệu nhựa nhập khẩu, trong khi công tác quản lý nhập khẩu phế liệu nhựa ngày càng bị siết chặt. Hoạt động kinh doanh, tái chế CTN lại mang lại nhiều lợi ích: Tiết kiệm năng lượng cho sản xuất nhựa nguyên sinh; tiết kiệm tài nguyên không thể tái tạo là dầu mỏ; giải quyết hàng loạt các vấn đề môi trường như mất mỹ quan đô thị, tắc nghẽn cống rãnh, suy thoái đất...

Cũng theo VPA, nếu sử dụng được nguồn nguyên liệu nhựa tái chế ở mức 35 - 50%/năm, các DN có thể giảm chi phí sản xuất hơn 15%. Các DN tham gia tái chế CTN đều có những cơ hội được hưởng chính sách khuyến khích của Chính phủ và nhu cầu nguyên liệu của ngành sản xuất nhựa lớn. Đồng thời, cũng có những thách thức chính về đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường thông qua đầu tư máy móc, công nghệ hiện đại và chấp hành quy định của pháp luật về môi trường. Thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi cho các DN đầu tư thiết bị, công nghệ hiện đại để tái chế chất thải. Đặc biệt, lĩnh vực tái chế nhựa (TCN) không chỉ góp phần giảm lượng CTN thải ra môi trường mà còn tạo ra nguyên liệu phục vụ sản xuất các sản phẩm nhựa, nhằm hạn chế nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài. Nếu đẩy mạnh hoạt động TCN trong nước, chúng ta có thể đáp ứng được 50% nguyên liệu cho ngành sản xuất nhựa.

Tuy nhiên, để thúc đẩy ngành công nghiệp tái chế, cần thực hiện việc phân loại rác thải tại nguồn. Đồng thời, phải có những chính sách ưu đãi đầu tư cần thiết và phù hợp cho DN. Những chính sách ưu đãi đầu tư từ Chính phủ, bộ, ngành liên quan phải được các địa phương triển khai triệt để, kết hợp thắt chặt công tác hậu kiểm. Đây là cơ sở để đẩy nhanh tiến độ xã hội hóa đầu tư hạ tầng tiếp nhận và xử lý chất thải nói chung, từng bước đáp ứng nhu cầu xử lý chất thải ngày càng nhiều của DN với giá thành hợp lý, giảm nguy cơ chất thải đang bị đổ bừa bãi ra môi trường.

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam tạo điều kiện cho các DN trong lĩnh vực TCN tiếp cận nguồn vốn ưu đãi với lãi suất chỉ từ 2,6 - 3,6%/năm, cho vay tối đa 70% tổng mức đầu tư dự án... Đồng thời, cần thiết phải có các giải pháp công nghệ - kỹ thuật thân thiện môi trường trong tái chế, tái sử dụng, hoặc tạo sản phẩm nhựa sinh học dễ phân hủy dùng trong đời sống. VPA khuyến khích các DN TCN dành ưu tiên hàng đầu cho việc sử dụng CTN phát sinh ở trong nước.

Thu Hường