![]() |
| Ảnh minh họa |
Trong phiên thảo luận tại tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật thuế (sau đây gọi tắt là Dự án), ông đã đề nghị nên giữ nguyên như Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế TTĐB được Quốc hội thông qua cuối năm 2014 và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2016. Ông có thể cho biết lý do?
Việc sửa đổi, bổ sung các luật là rất bình thường. Tuy nhiên, với Luật Thuế TTĐB vừa mới được Quốc hội sửa đổi, bổ sung và thông qua vào Kỳ họp thứ tám và đến nay chưa có hiệu lực, nay lại sửa đổi, bổ sung theo tôi là chưa hợp lý. Việc tiếp tục sửa thể hiện sự manh mún trong nghiên cứu, sửa đổi luật vì cứ mỗi lần sửa lại chỉ sửa 1 hoặc 2 điều.
![]() |
Từ việc nghiên cứu Dự án luật trình Quốc hội và qua thực tiễn, tôi thấy việc sửa đổi lần này dường như là để đối phó với những tranh cãi về cách xác định thuế TTĐB trong thời gian vừa qua và để hợp pháp hóa kết luận của Kiểm toán Nhà nước tại một số doanh nghiệp (DN) mà điển hình là tại Bia Sài Gòn (Sabeco). Tôi rất quan tâm việc này vì Sabeco có một nhà máy sản xuất lớn tại Ninh Thuận.
Có quan điểm cho rằng, việc sửa đổi lần này nhằm mục tiêu tăng thu cho ngân sách nhà nước. Theo ông, ý kiến này đã thực sự thuyết phục?
Tôi cho rằng, việc sửa đổi, bổ sung luật lẽ ra phải hướng đến sự rõ ràng, minh bạch, tạo thuận lợi cho cả cơ quan nhà nước và DN trong quá trình thực hiện sau này. Nhưng rất tiếc, việc sửa đổi dường như chỉ để tận thu thuế TTĐB đối với DN, mà việc tận thu đó không hoàn toàn tăng thu cho ngân sách.
Kết quả nghiên cứu về “Vị trí, vai trò của ngành bia trong phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam” do Viện Chiến lược, Chính sách Công nghiệp (Bộ Công Thương) phối hợp với Công ty Regioplan (Hà Lan) và Earnst & Young Việt Nam thực hiện cho thấy, khi thuế suất thuế TTĐB của bia tăng từ 45% lên 50% tại thời điểm năm 2013 thì đến quý I/2014, tuy giá trị thuế TTĐB thu được tăng 31% nhưng tổng thu ngân sách liên quan đến ngành bia, gồm cả thuế thu nhập DN, thuế VAT của các ngành có liên quan trong chuỗi cung ứng lại giảm 6%.
Và tính đến hết năm 2014, tốc độ tăng trưởng của ngành đã sụt giảm chỉ còn là 3,1% so với 7,6% của năm 2013 và 8% của năm 2012. Điều này cho thấy, việc tăng thuế không hợp lý chỉ có thể tăng thu ngay trong thời gian ngắn nhưng sẽ làm giảm nguồn thu trong dài hạn.
Thưa ông, trong trường hợp vẫn giữ việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật thuế, ông sẽ kiến nghị gì? Vì sao?
Trường hợp đó, cần phải làm rõ 2 khái niệm: cơ sở kinh doanh thương mại và giá tính thuế. Đồng thời phải quy định cụ thể mức tỷ lệ (%) do Chính phủ quy định ngay trong luật.
Dự án quy định: “Đối với hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa sản xuất trong nước là giá do cơ sở nhập khẩu, cơ sở sản xuất bán ra nhưng không được thấp hơn mức tỷ lệ (%) do Chính phủ quy định so với giá bình quân của các cơ sở kinh doanh thương mại bán ra”.
Tuy nhiên hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật về thuế chưa đưa ra bất kỳ định nghĩa cụ thể hoặc cách giải thích chi tiết để thống nhất cách hiểu thế nào là “cơ sở kinh doanh thương mại”. Trong khi đó, trên thực tiễn hoạt động của nhiều ngành sản xuất thì sau khâu sản xuất, sản phẩm sẽ được tiêu thụ qua rất nhiều cấp thương mại (cấp 1, cấp 2, cấp 3, điểm bán lẻ…). Ở mỗi cấp, giá bán lại khác nhau.
Thực tế đã cho thấy, cùng một nội dung văn bản nhưng các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác nhau lại giải thích khác nhau và thậm chí cùng một cơ quan lại giải thích và áp dụng khác nhau tại thời điểm khác nhau. Do vậy, cần làm rõ “cơ sở kinh doanh thương mại” là cơ sở nào để tránh việc áp dụng tùy tiện sau này. Ở đây, cần xác định “cơ sở kinh doanh thương mại” là cơ sở cấp 1, ngay sau khâu sản xuất và là pháp nhân mua hàng trực tiếp từ cơ sở sản xuất.
Về giá tính thuế, Dự án quy định: “Trường hợp giá do cơ sở nhập khẩu, cơ sở sản xuất bán ra không theo giá thị trường thì cơ quan thuế ấn định giá tính thuế TTĐB theo quy định của pháp luật về quản lý thuế”.
Trong khi đó, Điều 37 Luật quản lý thuế năm 2006 đã quy định, việc ấn định thuế khi mua bán hàng hóa không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường. Do vậy quy định tại Dự án theo cách dẫn chiếu sang Luật quản lý thuế là không cần thiết. Ngoài ra, quy định “giá thị trường” tại Dự án và “giá trị giao dịch thông thường trên thị trường” tại Luật quản lý thuế cũng có thể dẫn đến cách hiểu không đồng nhất và sự áp dụng tùy tiện.
Vấn đề quan trọng nữa là căn cứ vào đâu để xác định giá thị trường trong khi việc xác định giá bán của các DN không thể “đóng đinh” ở mọi lúc, mọi nơi.
Lấy ví dụ từ ngành thuốc lá- ngành có sản phẩm có giá trị thấp hơn rất nhiều so với nhiều hàng hóa chịu thuế TTĐB khác, như: ôtô, xe mô tô, tàu bay, tàu thuyền, điều hòa... Mức tăng tiêu thụ hàng năm của sản phẩm thuốc lá trên cả nước cũng thấp hơn rất nhiều các sản phẩm chịu thuế TTĐB khác, thậm chí năm 2014 là âm (-) 16% và dự báo sẽ tiếp tục giảm nhẹ trong các năm tiếp theo.
Đặc biệt, với đặc điểm phải trải qua kênh phân phối nhiều cấp, rất nhiều điểm bán lẻ, nhận hàng ít, thường phải giao tận nơi, do vậy chi phí giao hàng, chi phí duy trì hệ thống bán lẻ rất lớn. Ngoài ra còn phải tính đến việc duy trì được lợi nhuận tối thiểu cho nhà phân phối…
Nếu quy định như trong Dự án thì cơ quan chức năng bắt lỗi để áp đặt thuế TTĐB đối với DN lúc nào cũng được.
Vì vậy, tôi đề nghị nếu vẫn sửa đổi, bổ sung thì cần sửa lại trong Dự thảo Luật là: “Đối với hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa sản xuất trong nước là giá do cơ sở nhập khẩu, cơ sở sản xuất bán ra nhưng không được thấp hơn 10% so với giá bán ra bình quân của các cơ sở kinh doanh thương mại đầu tiên mua hàng trực tiếp từ cơ sở sản xuất”.
Trân trọng cảm ơn ông!






