Longform
13/09/2026 19:08
Dữ liệu Công Thương

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông

Chủ Nhật, 13/09/2026 19:08:38 +07:00

(Công Thương) - Từ "Chiếu dời đô" năm 1010 đến Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, sông Hồng luôn gắn với những quyết sách lớn của Hà Nội. Bài toán hiện nay là phát triển không gian ven sông mà vẫn giữ an toàn, sinh kế, di sản và lợi ích công cộng.

(Congthuong.vn) - Từ "Chiếu dời đô" năm 1010 đến Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, sông Hồng luôn gắn với những quyết sách lớn của Hà Nội. Bài toán hiện nay là phát triển không gian ven sông mà vẫn giữ an toàn, sinh kế, di sản và lợi ích công cộng.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 1

 

K'

Quy hoạch đưa sông Hồng thành trục trung tâm của Thủ đô không phải ý tưởng vay mượn từ bên ngoài. Chủ trương đó tiếp nối một mạch lịch sử kéo dài hơn 1.000 năm, khởi đầu từ "Chiếu dời đô" năm 1010, qua mốc đắp đê Cơ Xá năm 1108, nguyên tắc đo đất và trả tiền cho dân có ruộng bị lấy để đắp đê năm 1248 rồi tới Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 2

Toàn cảnh sông Hồng đoạn qua Hà Nội nhìn từ trên cao, nơi dòng sông, bãi bồi, khu dân cư và hệ thống cầu đường cùng hiện diện trong cấu trúc đô thị.

Hơn nghìn năm qua, quan hệ giữa kinh đô với sông Hồng chưa bao giờ gói trong câu chuyện cảnh quan. Đó là quá trình ứng xử lâu dài với nước, đất, sinh kế và không gian phát triển, có thành công, có lần phải trả giá. Qua từng thời kỳ, trị thủy và tổ chức không gian ven sông đều gắn với các quyết sách lớn của nhà nước.

Trước khi trở lại lịch sử cần nhìn nhận đúng câu chuyện hôm nay. Phạm vi nghiên cứu của đồ án khoảng 11.418 ha, kéo dài 40 km từ cầu Hồng Hà tới cầu Mễ Sở, thuộc địa giới 16 xã, phường. Theo hồ sơ điều chỉnh quy hoạch, dân số hiện trạng khoảng 279.525 người, mật độ khoảng 24,5 người/ha, tương đương 2.448 người/km². Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 5.741 ha, tương đương 50,3% tổng diện tích.

Một bộ số liệu khác do các địa phương tổng hợp trong phạm vi Dự án đầu tư Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng ghi nhận khoảng 247.431 người với 70.474 hộ dân. Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án khoảng 736.963 tỷ đồng. Tiến độ thực hiện dự kiến kéo dài trong giai đoạn 2026-2038.

Nếu quy đổi tổng mức đầu tư theo chiều dài 40 km, con số tương ứng khoảng 18.424 tỷ đồng/km. Phép quy đổi cũng không nhằm kết luận dự án đắt hay rẻ bởi một dự án hạ tầng đô thị quy mô lớn gồm giao thông, chỉnh trang không gian, công viên, tái định cư và nhiều hạng mục khác không thể định giá đơn giản bằng chiều dài tuyến.

Con số 18.424 tỷ đồng/km giúp bạn đọc hình dung quy mô của 736.963 tỷ đồng thay vì nhìn nó như dãy chữ số rất lớn nhưng khó cảm nhận.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 3

Cầu Nhật Tân bắc qua sông Hồng, kết nối khu vực trung tâm Hà Nội với phía bắc thành phố. Hai bên dòng sông vẫn còn diện tích lớn đất bãi và sản xuất nông nghiệp.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 4

 

Ngược dòng lịch sử, Thăng Long có tên dân gian là Kẻ Chợ từ cuối thế kỷ XVII. Trong luận văn "Những người không biết: tính hiện đại, rủi ro và chuyển đổi ở các chợ địa phương Hà Nội" bảo vệ tại Viện Công nghệ Massachusetts năm 2007, Margaret Amalia Hiesinger dẫn lại nhiều tư liệu mô tả Hà Nội trong mối quan hệ mật thiết với hoạt động thương mại ven sông. Thành phố từng mang dáng dấp một đô thị cảng, chợ và mạng lưới giao thương giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế.

Khu vực phía đông kinh thành, gần nơi sông Tô Lịch gặp sông Hồng từng là không gian giao thương sôi động. Trước thời kỳ Pháp thuộc, hoạt động buôn bán chưa tập trung hoàn toàn trong các khu chợ xây dựng cố định, vào ngày phiên, hàng hóa tràn ra nhiều tuyến phố, nối khu dân cư với bến sông.

Sông Hồng từng giữ vai trò tuyến giao thông và hạ tầng kinh tế tự nhiên. Nông sản, vật liệu, hàng thủ công theo đường sông tập kết về các bến, kết nối kinh thành với vùng sản xuất rộng lớn của châu thổ. Phố buôn bán và phường nghề hình thành trong quan hệ chặt với hệ thống bến bãi, sông ngòi. Tên gọi Kẻ Chợ phản ánh phần nào vị thế thương mại đó.

Đặt sông Hồng trở lại cấu trúc phát triển của Hà Nội không đồng nghĩa trao cho dòng sông chức năng hoàn toàn mới. Thành phố đang tìm cách thiết lập lại quan hệ từng tồn tại lâu dài giữa đô thị với dòng sông nhưng trong điều kiện khác hẳn về an toàn đê điều, thoát lũ, môi trường, giao thông, không gian công cộng và chất lượng sống.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 5

Bến tàu sông Hồng, thương cảng sầm uất của Thăng Long - Kẻ Chợ. Ảnh: TL

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 6

 Kẻ Chợ, kinh đô xứ Đàng Ngoài khoảng năm 1685. Hình minh họa trong sách "A description of the kingdom of Tonqueen" (London, 1732) của Samuel Baron.

Sang thế kỷ XX, hệ thống đê khép kín cùng quá trình đô thị hóa ngày càng sâu vào phía trong khiến mối liên hệ trực tiếp giữa thành phố với bờ bãi dần mờ đi. Sông Hồng vẫn chảy giữa Hà Nội nhưng ở nhiều khu vực, không gian đô thị đã phát triển theo hướng quay lưng về phía bãi.

Báo Công Thương tiếp cận chủ trương đưa sông Hồng trở thành trục phát triển quan trọng của Thủ đô trên nền tảng đó và xác lập rõ quan điểm ủng hộ chủ trương đưa sông Hồng trở thành trục trung tâm của Thủ đô. Việc ủng hộ không xuất phát từ cảm tình với một ý tưởng đẹp trên bản vẽ, bởi lịch sử đã cho thấy dòng sông từng giữ vị trí quan trọng đối với giao thông, thương mại, sinh kế và cấu trúc không gian của Thăng Long - Hà Nội.

Do đó, đặt sông Hồng trở lại vị trí tương xứng có cơ sở lịch sử, song lịch sử chỉ giải thích được vì sao Hà Nội muốn quay lại với sông. Còn quay lại bằng cách nào với cái giá nào và đem lại lợi ích cho ai là những câu hỏi mà quy hoạch hôm nay phải trả lời...

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 7

 

Năm 1010, "Chiếu dời đô" của vua Lý Thái Tổ đã đặt vấn đề nước ngay trong tiêu chí lựa chọn đất dựng kinh đô. Thành Đại La được mô tả có địa thế rộng mà bằng, đất cao mà thoáng để "dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi".

An toàn trước nguy cơ ngập lụt nằm ngay trong tiêu chí khai sinh Thăng Long. Hơn 1.000 năm sau, Hà Nội đang tính phương án tôn cao khoảng 3.900 ha bãi sông trong phạm vi nghiên cứu 11.418 ha. Câu hỏi về nước vẫn đứng ở tuyến đầu.

"Chiếu dời đô" còn gợi ra 2 vấn đề liên quan trực tiếp tới công việc Hà Nội đang triển khai.

Thứ nhất là tầm nhìn. Vua Lý Thái Tổ nói rõ mong muốn chọn nơi đóng đô để "mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu". Hơn 1.000 năm sau, Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm được phê duyệt tại Quyết định số 2512/QĐ-UBND ngày 13/5/2026 cũng đặt yêu cầu nhìn xa hơn những nhu cầu trước mắt. 

Thứ hai là cách ra quyết định. "Chiếu dời đô" kết thúc bằng một câu hỏi thay vì mệnh lệnh: "Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?"

Chi tiết này càng đáng suy ngẫm vào thời điểm Hà Nội đang tổ chức lấy ý kiến về đồ án. Quyết định càng lớn, ảnh hưởng càng lâu dài thì càng cần được đặt trước những câu hỏi, phản biện và ý kiến khác nhau trước khi trở thành lựa chọn cuối cùng. 

"Đại Việt sử ký toàn thư" cùng các nguồn khảo cứu về Hà Nội dựng lại quan hệ giữa kinh đô với dòng sông qua những mốc lịch sử.

Những mốc trong bảng mở ra dòng lịch sử kéo dài hơn 1.000 năm, câu chuyện sông Hồng luôn gắn với 3 vấn đề lớn là trị thủy, đất đai và quyền lợi của người dân. Mỗi thời kỳ có cách xử lý khác nhau nhưng những câu hỏi nền tảng vẫn trở lại mỗi lần con người can thiệp vào dải đất ven sông.

Năm 1108, sử chép việc đắp đê ở phường Cơ Xá, khu vực được xác định vào khoảng gần cầu Long Biên ngày nay. Năm 1265, tức 157 năm sau mốc đắp đê Cơ Xá, tiếp tục ghi nhận nước lớn, vỡ đê tại phường Cơ Xá, nhiều người và súc vật chết đuối.

Hai mốc lịch sử chưa đủ căn cứ để khẳng định cùng một thân đê tồn tại nguyên trạng suốt 157 năm rồi mới vỡ song giá trị của sử liệu ở việc cho biết khu vực này đã sớm trở thành nơi con người phải xử lý quan hệ giữa dòng sông, tuyến đê và khu dân cư.

Nếu các mốc 1108 và 1265 đặt ra câu hỏi về nước thì năm 1248 mở sang vấn đề quyền lợi của người dân có đất bị sử dụng cho công trình.

"Đại Việt sử ký toàn thư" ghi "Chỗ đắp thì đo xem mất bao nhiêu ruộng đất của dân, theo giá trả lại tiền".

Triều Trần quy định đo phần ruộng đất của dân bị sử dụng để đắp đê và trả tiền theo giá. Cùng thời gian, triều đình đặt Hà đê chánh phó sứ để quản đốc công việc. Năm 1255, chức quan này tiếp tục được giao nhiệm vụ đốc thúc đắp đê, đào mương vào thời gian nông nhàn. Trình tự xử lý gồm tổ chức công trình, giải quyết phần đất của dân bị sử dụng và giao bộ máy chuyên trách thực hiện.

Sau nước dâng lên to, vua (Minh Tông) đích thân đi xem đắp đê. Quan ngự sử tâu: "Bệ hạ nên chăm sửa đức chính, xem làm gì việc đắp đê nhỏ nhặt". Hành khiển Trần Khắc Chung nói: "Khi dân bị nạn lụt, người làm vua phải cứu giúp tai hoạ khẩn cấp đó, sửa đức chính không gì lớn hơn việc đó, cần gì phải ngồi làm thinh, tư lự rồi bảo là "sửa đức chính?".

Cuộc đối đáp đặt trị thủy vào thẳng câu chuyện quản trị, dân gặp nạn lụt thì cứu dân là trách nhiệm của người cầm quyền. Đắp đê, giữ đê và bảo vệ sản xuất trước dòng nước không phải công việc kỹ thuật đứng ngoài chuyện trị quốc.

Câu chuyện đất ven sông tiếp tục được đặt ra sâu hơn trong các thế kỷ sau, khi nhà nước bắt đầu xây dựng những quy định riêng cho loại đất luôn thay đổi theo dòng chảy.  Năm 1724, triều đình định lệ đo và cấp đất bãi sông, giao huyện quan khám đo định kỳ. Năm 1733, chức quan Hà đạo bị bãi bỏ do hoạt động kiểm tra quá thường xuyên trong lúc bãi sông bồi lở chậm, gây thêm phiền hà cho dân. Công việc được giao lại cho huyện quan sở tại với yêu cầu phản ánh đúng tình hình thực tế.

Năm 1759, lệ khám đạc tiếp tục được điều chỉnh. Đất bãi mới bồi phải được phân hạng theo tình trạng cát trắng hay đã thành thổ, khu vực bị sụt lở có thể được xem xét bù đất ở nơi gần đó, hiện trạng đất được dùng làm căn cứ tính hoặc giảm trừ nghĩa vụ tài chính.

Phan Huy Chú bàn về vấn đề này trong "Lịch triều hiến chương loại chí": "Cái lợi đất bãi, các dân ở ven sông được hưởng khá nhiều, cho nên việc khám đạc chia cấp không thể không rõ ràng được. Nhưng hình thế bãi sông bồi lở không chừng, chỗ mới bồi lên, chỗ lở sụt đi, cho nên trong khoảng ranh giới người nọ người kia thường hay gây việc tranh kiện cho dân. Nếu không tra khám luôn, thẩm xét kỹ, thì cái lợi của đất bãi chỉ làm giàu cho những kẻ lại gian hoạt".

Phan Huy Chú cũng ghi lại một giai đoạn phép cũ bị bỏ bê. Sau đời Vĩnh Hựu, trong vài chục năm triều đình chỉ cử quan đi khám 2 lần. Có lần dân địa phương kêu ca nên phải giảm trừ, có lần dư luận phản ứng khiến công việc dở dang. Hoạt động khám đo đất bãi bị gián đoạn khá lâu rồi mới được định lại vào giữa đời Cảnh Hưng.

Chi tiết này kéo câu chuyện ba thế kỷ trước lại gần bài toán hôm nay. Quy định chặt trên giấy vẫn có thể thất bại nếu năng lực thực thi yếu, dữ liệu thiếu chính xác hoặc quyền lợi giữa các bên được xử lý thiếu minh bạch.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 8

Hà Nội đang trong quá trình hoàn thiện điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỉ lệ 1/5.000. Thành phố dự kiến sẽ dành khoảng 265ha để tái định cư cho người dân phải nhường đất làm dự án tại cùng địa bàn xã, phường hoặc khu vực lân cận.

Quy hoạch hiện nay đang được triển khai trên một địa bàn có lịch sử trị thủy kéo dài hơn chín thế kỷ. Tất nhiên, lịch sử không quyết định thay quy hoạch hiện đại nhưng đặt ra yêu cầu phải hiểu kỹ địa hình, dòng chảy và những biến động từng xảy ra trên chính vùng đất đang được tổ chức lại.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 9

Đồ án có phạm vi nghiên cứu khoảng 11.418 ha, trong đó khoảng 3.900 ha bãi sông dự kiến tôn cao, phạm vi liên quan có khoảng 70.474 hộ dân, quỹ tái định cư dự kiến khoảng 79.000 tới 85.000 căn hộ và lô đất. Quy mô can thiệp lớn đặt yêu cầu cao hơn đối với chất lượng dữ liệu và cách quản lý đất bãi. Ranh giới phải được xác lập trên nền dữ liệu đủ tin cậy, cập nhật theo biến động của dòng chảy và gắn với tiêu chí phân loại đất rõ ràng. Quyền lợi người dân cũng phải được xử lý ngay trong quá trình giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Phía sau câu chuyện kỹ thuật còn là bài toán phân bổ lợi ích. Quy hoạch có thể làm thay đổi mạnh giá trị đất ven sông, kéo theo câu hỏi Nhà nước thu lại bao nhiêu, người dân được hưởng phần nào và phần giá trị tăng thêm được điều tiết theo cơ chế nào.

Lịch sử ven sông Hồng hiếm khi yên ả, mỗi lần con người can thiệp mạnh vào không gian ven sông lại xuất hiện những câu hỏi về an toàn, sinh kế, đất đai và trách nhiệm quản lý. Quy mô vấn đề và cách giải quyết thay đổi theo từng thời kỳ nhưng các câu hỏi cốt lõi vẫn luôn đi cùng quá trình phát triển của Thăng Long - Hà Nội.

Bản quy hoạch đang được đặt lên bàn hiện nay nằm ở cuối chuỗi lịch sử rất dài. Quy mô can thiệp rộng hơn, nguồn lực huy động lớn hơn và phạm vi tác động sâu hơn, đi cùng đó là yêu cầu cao hơn với chất lượng quy hoạch, năng lực thực thi, cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 10

 

Ngày 30/4/1955, Báo Nhân Dân đăng bài "Đê điều" của Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới bút danh C.B. Người viết: "Giặc lụt là đồng minh của giặc đói. Muốn chống đói thì phải chống lụt. Muốn chống lụt, thì phải kịp thời đắp đê, giữ đê".

Từ mối quan hệ giữa lụt, đói và đê điều, Người chuyển sang trách nhiệm tổ chức thực hiện. Cấp khu, cấp tỉnh phải trực tiếp phụ trách, hỗ trợ và hướng dẫn cán bộ kỹ thuật, nghiên cứu kỹ, chuẩn bị kế hoạch đầy đủ, đồng thời động viên, tổ chức và lãnh đạo nhân dân tham gia. 

Sinh thời, Bác Hồ luôn xác định Hà Nội là đầu tàu của cả nước, vậy nên Người cũng luôn dành sự quan tâm đặc biệt với nơi này, bằng trí tuệ và tình yêu thương bao la. Và với riêng với Hà Nội, Bác nhiều lần đặt ra yêu cầu cao đối với vị thế và nếp sống của Thủ đô. Dịp tiếp quản Thủ đô tháng 10/1954, Người viết: "Cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta".

Ngày 21/1/1958, trong thư gửi Hội đồng nhân dân TP. Hà Nội, Người nhắc nhở một trong các nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân TP là "Giữ vững và phát triển thuần phong mỹ tục, làm cho Thủ đô ta ngày thêm tươi đẹp, phồn thịnh và trở nên một thành phố gương mẫu cho cả nước".

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 11

Chủ tịch Hồ Chí Minh xem mô hình quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội ngày 16/11/1959. 

Ngày 29/8/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội nghị Bộ Chính trị bàn về mở rộng TP. Hà Nội theo kế hoạch dài hạn. Phát biểu khai mạc Hội nghị, Người nêu rõ: "Mở rộng thành phố phải căn cứ vào thiên thời (mưa, gió, nắng…), địa lợi (địa chất, sông hồ…) và nhân hòa (lợi ích của Nhân dân, của Chính phủ…). Công tác Quy hoạch thành phố phải hợp lý, bảo đảm được cả về kinh tế, mỹ quan và quốc phòng, phải có kế hoạch vận động quần chúng tham gia…"

Tiếp đó, ngày 12/9/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về quy hoạch Thủ đô Hà Nội. Người nhấn mạnh vấn đề tổ chức thực hiện trong xây dựng phải có quy hoạch, đồng bộ, làm từng bước và chú ý cả nội và ngoại thành Hà Nội.

Ngày 16/11/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị Ban Bí thư thảo luận về những công trình lớn trong quy hoạch của TP. Hà Nội và mở rộng ngoại thành. Người căn dặn trong thiết kế phải đồng bộ (đường sá, hệ thống thoát nước, lưới điện…), tránh cản trở sự đi lại của nhân dân; phải có quy hoạch trước, tránh làm rồi lại phá đi và phải thực hiện nhanh, nhiều, tốt, rẻ. 

Tối 13/1/1960, tại Đại hội đại biểu nhân dân Hà Nội, Người vừa biểu dương thắng lợi của kỳ họp Quốc hội, vừa nhấn mạnh vai trò trọng trách của nhân dân và cán bộ Thủ đô: "Đồng bào Thủ đô phải thật gương mẫu trong mọi công tác. Thủ đô phải là thành phố gương mẫu cho cả nước".

Ngày 14/4/1964, phát biểu với bà con cử tri Hà Nội, Người nhắc: "Chúng ta ngày nào cũng rửa mặt, đánh răng, thì thành phố của chúng ta ngày nào cũng phải quét dọn tươm tất. Chúng ta phải làm cho Thủ đô ta ngày càng sạch sẽ, vui tươi".

Các phát biểu đặt ra yêu cầu song hành. Một mặt, Thủ đô là nơi cả nước và thế giới nhìn vào, mặt khác vị thế gương mẫu phải được tạo nên bằng chất lượng quản lý và những công việc hằng ngày. Một thành phố đẹp không được đo riêng bằng quy mô công trình hay hình ảnh ngày khánh thành, giá trị của công trình còn nằm ở cách vận hành, duy tu và gìn giữ sau nhiều năm sử dụng.

Ký ức về sông Hồng trong những năm chiến tranh còn được Nguyễn Tuân ghi lại bằng con mắt của người chứng kiến. Trong tập bút ký "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi", ông tả một buổi trưa nắng gắt giữa những năm chiến tranh phá hoại, lúc nước sông Hồng đang lên cao: "Đánh cả giặc nước, đánh cả giặc trời, người Hà Nội sẵn sàng chống thiên tai phòng hộ đê lũ, và đã sẵn sàng chống Mỹ thật là cụ thể".

Ở chương khác, Nguyễn Tuân chép lời một cụ già Hà Nội nói về nguy cơ đối phương phá đê sông Hồng giữa lúc nước đang lên. Người dân còn so mực nước năm đó với mực nước vào thời điểm Cách mạng Tháng Tám để hình dung mức độ nguy hiểm.

Những trang viết đó lưu lại lớp ký ức khác về con sông, đê sông Hồng từng là tuyến bảo vệ dân cư, sản xuất và thành phố trong những thời điểm hiểm nghèo. Mực nước sông từng đi vào trí nhớ người Hà Nội như một thước đo của thiên tai và chiến tranh.

Và những yêu cầu Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đặt ra với Thủ đô có thể quy về thước đo cho câu chuyện hôm nay. Quy hoạch ven sông phải giải được phần khó nhất, gồm an toàn thoát lũ, sinh kế của người dân đang sống trên bãi, chất lượng không gian đô thị sau đầu tư và hiệu quả sử dụng nguồn lực rất lớn.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 12

 

Cuốn "Hanoi dans le passé" (Hà Nội thuở xưa), in tại Hà Nội năm 1932 ghi lại giai đoạn thành phố thay đổi mạnh về cấu trúc đô thị bắt đầu từ năm 1883. Hà Nội dần đổi diện mạo, những đại lộ mới được mở, khu vực quanh hồ Hoàn Kiếm được giải tỏa thông thoáng hơn.

Nhưng ngay sau khi ghi nhận những thay đổi đó, cuốn sách viết: "La rançon de ces progrès est la disparition à jamais regrettable de monuments anciens tels la Citadelle et la Pagode des Supplices". Có thể hiểu rằng cái giá phải trả cho những tiến bộ đô thị là sự biến mất vĩnh viễn và đáng tiếc của những công trình cổ như tòa thành cùng ngôi chùa được nhắc tới trong sách. Tòa thành cũ sau đó bị phá vào năm 1897.

Câu chữ viết năm 1932 ghi lại cái nhìn của những người chứng kiến Hà Nội sau một giai đoạn biến đổi mạnh về không gian đô thị. Gần một thế kỷ trôi qua, lời cảnh báo vẫn còn nguyên sức nặng, mỗi lần thành phố thay đổi diện mạo đều có thể đánh đổi bằng những giá trị một khi mất đi sẽ rất khó, thậm chí không thể phục hồi.

Hồ sơ đồ án sông Hồng hiện ghi nhận 123 di tích trong phạm vi nghiên cứu cùng 12 cụm làng với tổng diện tích khoảng 1.067 ha (9,3% diện tích). Những con số này tạo cơ sở ban đầu để theo dõi tác động của quy hoạch đối với di sản và không gian cư trú truyền thống.

Giữa lời tiếc nuối được viết năm 1932 và đồ án đang lấy ý kiến hôm nay còn có một lá thư đáng đọc lại. Ngày 8/2/2007, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư tới Hội nghị thông báo những kết quả nghiên cứu mới về Hoàng thành Thăng Long. Không trực tiếp tham dự, ông gửi tới hội nghị những kiến nghị về bảo tồn và tổ chức không gian khu di tích.

Đại tướng đề nghị lãnh đạo Đảng, Quốc hội và Nhà nước "sớm có chủ trương bảo tồn lâu dài toàn bộ khu di tích của trung tâm Hoàng thành Thăng Long thế kỷ XI đến XVIII, thành Hà Nội thế kỷ XIX kết hợp với những di tích cách mạng, kháng chiến của thời đại Hồ Chí Minh", đồng thời quy hoạch toàn bộ khu vực thành công viên lịch sử văn hóa Thăng Long - Hà Nội.

Cách đặt vấn đề vượt ra ngoài chuyện bảo tồn từng công trình riêng lẻ, 3 lớp lịch sử nằm trên cùng một không gian được đặt trong chỉnh thể quy hoạch chung. Di sản triều đại, thành Hà Nội thời cận đại và dấu tích cách mạng được nhìn trong quan hệ với nhau thay vì chia thành những mảnh rời.

Lá thư còn nhấn mạnh trình tự nghiên cứu, Đại tướng cho rằng càng nghiên cứu sâu theo hướng liên ngành và mở rộng hợp tác quốc tế thì càng có cơ sở đề xuất phương án bảo tồn có chất lượng khoa học cao. Nghiên cứu phải đi trước phương án; dữ liệu, bằng chứng và đánh giá khoa học phải đủ độ sâu trước khi lựa chọn cách can thiệp vào không gian có nhiều lớp lịch sử.

Nguyên tắc đó vẫn có ý nghĩa với quy hoạch sông Hồng hôm nay, một đồ án có tầm nhìn hàng chục năm cần được xây dựng trên nền dữ liệu đủ sâu về thủy văn, địa chất, dân cư, sinh kế, di sản và cấu trúc không gian hiện hữu.

Câu hỏi về cách chuẩn bị một quy hoạch lớn cũng cần được nhìn trong toàn bộ quá trình hình thành chủ trương. Trục sông Hồng hiện nay không bắt đầu bằng quyết định đơn lẻ, hơn 4 năm qua từ Trung ương tới Thành phố, nhiều văn bản đã lần lượt được ban hành, mỗi văn bản xác lập thêm một bước về định hướng, quy hoạch, chủ trương đầu tư và tổ chức thực hiện. Chuỗi văn bản này tạo nên khung chính sách và pháp lý của dự án, cách những vấn đề phát sinh được xử lý trước khi phương án cuối cùng được quyết định.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 13

Nguồn: Các văn kiện, văn bản của Bộ Chính trị, Văn phòng Chính phủ, Thành ủy Hà Nội, Hội đồng nhân dân TP. Hà Nội, UBND TP. Hà Nội, Sở Xây dựng TP. Hà Nội...

Trong chuỗi văn bản chuẩn bị cho dự án, Công văn số 4975/VPCP-NN ngày 30/5/2026 của Văn phòng Chính phủ đi thẳng vào vấn đề quyền lợi của người dân chịu tác động bởi giải phóng mặt bằng. Văn bản truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, yêu cầu Chủ tịch UBND TP. Hà Nội chỉ đạo tốt công tác thông tin, tuyên truyền, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân.

Công văn đồng thời nêu rõ yêu cầu trên xuất phát từ phản ánh của dư luận và nhân dân liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng. Điều này đưa bài toán bồi thường, tái định cư và bảo đảm quyền lợi người dân vào ngay giai đoạn chuẩn bị dự án thay vì xử lý như phần việc phát sinh sau khi phương án đầu tư đã được định hình.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 14

 

Mạch lịch sử hơn nghìn năm tiếp tục nối vào định hướng phát triển hiện nay. Sáng 10/1/2026, tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về đề xuất xây dựng Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) nhấn mạnh vị trí chiến lược của Hà Nội với vai trò dẫn dắt, kiến tạo và lan tỏa cho sự phát triển chung của đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đổi mới mạnh hơn đối với tư duy phát triển Thủ đô. Hà Nội phải vượt khỏi quán tính cũ, vận hành với vai trò trung tâm kiến tạo và phát triển quốc gia, hướng tới các chuẩn mực tiên tiến trong khu vực.

Đặt quy hoạch sông Hồng trong định hướng đó, câu chuyện vượt khỏi phạm vi chỉnh trang dải đất ven sông. Quy hoạch trở thành phép thử đối với năng lực tổ chức không gian phát triển, huy động nguồn lực, xử lý xung đột lợi ích và nâng chất lượng sống của người dân.

Định hướng xây dựng quy hoạch chiến lược lấy con người và chất lượng cuộc sống làm trung tâm, phát triển hài hòa giữa hiện đại và truyền thống cũng là bài toán khó với dải sông Hồng. Trong phạm vi khoảng 11.418 ha, bên cạnh các khu vực dự kiến hình thành không gian đô thị mới còn có làng xóm, di tích, đất sản xuất và cộng đồng dân cư đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Quy hoạch phải mở thêm không gian phát triển nhưng đồng thời phải giải được bài toán giữ gìn những giá trị đã định hình nên vùng đất ven sông.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 15

Hệ thống cầu, đường và nút giao ven sông Hồng tạo nên mạng lưới hạ tầng giao thông dày đặc giữa khu dân cư hiện hữu.

Tầm nhìn dài hạn được nối tiếp bằng yêu cầu về tiến độ thực hiện. Chiều 8/7/2026, chủ trì buổi làm việc với Thành ủy Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu Thành phố cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm bằng kế hoạch triển khai hằng năm, xác định rõ từng mốc công việc, từng dự án và kết quả cần đạt tới năm 2030, 2045 và 2054.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, quy hoạch không chỉ là tầm nhìn dài hạn mà phải được hiện thực hóa bằng những công trình, dự án và kết quả cụ thể ngay trong từng năm. Đặc biệt, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững, không đánh đổi môi trường, chất lượng sống và an sinh xã hội để lấy tăng trưởng.

Một số dự án trọng tâm của Hà Nội là cơ hội lớn nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro không nhỏ trong quá trình tổ chức triển khai và vận hành. Thành phố phải tập trung chỉ đạo, triển khai phát triển hạ tầng giao thông, trường học, bệnh viện và các thiết chế xã hội thiết yếu đồng bộ cùng với nhà ở, sân vận động, làng Olympic và các công trình dịch vụ; công khai, minh bạch quỹ đất, giá đất, nghĩa vụ tài chính và cơ chế điều tiết giá trị đất tăng thêm, ưu tiên tái định cư, tái thiết sinh kế và hạ tầng công cộng, có phương án khai thác hiệu quả các công trình thể thao, văn hóa, thương mại.

Trong chuỗi yêu cầu đó, sông Hồng giữ vị trí đặc biệt, chủ trương đưa dòng sông trở thành trục trung tâm của Thủ đô tiếp nối mạch lịch sử ngàn năm.

Đến tháng 8/2026, định hướng chiến lược được chuyển thêm bước sang tổ chức thực hiện. Ngày 24/8, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng ký Kế hoạch số 331/KH-UBND triển khai Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Trong cấu trúc không gian của kế hoạch, khu vực sông Hồng được xác định thành Cực Sông Hồng, tiếp tục được triển khai qua 4 đồ án quy hoạch phân khu SH-1, SH-2, SH-3 và SH-4 trải dọc hành lang sông.

Định hướng này đặt sông Hồng vào vị trí trục xương sống về cảnh quan, công viên sinh thái, văn hóa và dịch vụ của Thủ đô. Hơn 9 thế kỷ sau mốc đắp đê Cơ Xá năm 1108, quan hệ giữa Hà Nội với dòng sông bước sang giai đoạn mới, sông Hồng vẫn là không gian phải bảo đảm an toàn trước nước nhưng đồng thời được đưa vào cấu trúc phát triển đô thị với hệ thống đồ án quy hoạch mang tên riêng.

Quy hoạch mới Thủ đô và giấc mơ sông Hồng nghìn năm - Bài 1: Nghìn năm quay ra sông - 16

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh không gian đô thị, đặt ra yêu cầu đồng bộ giữa hạ tầng, nhà ở, dịch vụ công và chất lượng sống của người dân.

Từ chỗ chủ yếu phải phòng giữ, dòng sông đang được đặt vào trung tâm của tư duy phát triển Thủ đô. Khoảng cách giữa khát vọng và hiện thực sẽ được đo bằng năng lực quy hoạch, chất lượng thực thi và cách Hà Nội xử lý các vấn đề về nước, đất, di sản, sinh kế và nguồn lực đầu tư.

Tầm nhìn 100 năm xét đến cùng phải vượt qua giới hạn của nhu cầu trước mắt và các chu kỳ đầu tư. Giá trị của quy hoạch sẽ nằm ở khả năng tạo ra không gian sống tốt hơn cho nhiều thế hệ người Hà Nội mà vẫn giữ được an toàn, ký ức và những giá trị đã bồi đắp dọc sông Hồng suốt hàng thế kỷ.

Có thể bạn quan tâm