Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Chủ nhật 25/07/2021 04:16

Phát triển “nóng” ngành viên nén: Tiềm ẩn nhiều rủi ro

13:14 | 03/07/2021
Sau gần 10 năm gia nhập ngành, Việt Nam hiện đã trở thành quốc gia sản xuất viên nén lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ. Viên nén Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu. Tuy nhiên, thiếu chiến lược bài bản khiến ngành hàng này tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Lượng tăng, giá giảm

Ngành sản xuất và xuất khẩu viên nén mới được phát triển trong một thập kỷ gần đây, chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho nhu cầu phát triển điện sinh học tại Nhật Bản và Hàn Quốc kể từ sau thảm động đất và sóng thần. Nhu cầu tiêu thụ viên nén tại các quốc gia này liên tục tăng, là động lực cho các hoạt động sản xuất và xuất khẩu viên nén của Việt Nam mở rộng.

Thống kê từ nguồn Tổng cục Hải quan cho thấy, lượng xuất khẩu năm 2020 đạt khoảng 3,2 triệu tấn. Gần 100% lượng viên nén từ Việt Nam được xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc. Đây là nguồn nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy nhiệt điện tại các quốc gia này.

Trong 3 tháng đầu năm 2021, lượng xuất đạt 0,81 triệu tấn,tương đương 90 triệu USD, tăng 18% về lượng và 23% về giá trị so với cùng kỳ năm 2020.
Trong 3 tháng đầu năm 2021, lượng xuất viên nén đạt 0,81 triệu tấn,tương đương 90 triệu USD, tăng 18% về lượng và 23% về giá trị so với cùng kỳ năm 2020.

Trong giai đoạn 2013-2020, lượng xuất khẩu viên nén nhiên liệu tăng trên 18,2 lần từ khoảng 175,5 tấn lên 3,2 triệu tấn; giá trị xuất khẩu tăng trên 15,3 lần, từ gần 23 triệu USD lên 351 triệu USD. Đối lập với xu thế tăng về lượng và kim ngạch xuất khẩu, giá xuất khẩu có xu hướng giảm từ 131 USD/tấn năm 2013 xuống còn 111 USD/tấn năm 2020.

Mức giá xuất khẩu giảm có thể một phần là do ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào khâu sản xuất. Ghi nhận của Tổng cục Hải Quan cho thấy năm 2020 có 74 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, tăng nhẹ từ 72 doanh nghiệp năm 2018. Trong năm 2020, số các doanh nghiệp xuất khẩu quy mô lớn (lượng xuất khẩu trên 50.000 tấn/doanh nghiệp) là 17 doanh nghiệp, tương đương trên 23%). Lượng doanh nghiệp có quy mô vừa (lượng xuất từ 20.000 – 49.000 tấn/doanh nghiệp) là 10 doanh nghiệp, chiếm 13,5%, còn lại là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ (dưới 20.000 tấn/doanh nghiệp).

Tuy nhiên, theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), việc viên nén mới xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản khiến ngành hàng này rơi vào tình trạng bị ép giá và chưa bứt phá như kỳ vọng. Số liệu phân tích từ nguồn Hải quan cho thấy, giá xuất khẩu viên nén sang thị trường Hàn Quốc có sự biến động mạnh theo tháng. Có thời điểm mức giá trung bình xuất khẩu sang thị trường này chỉ đạt 77 USD/tấn, nhưng có thời điểm mức giá xuất đạt 144 USD/tấn.

Cần đồng bộ các giải pháp

Sản xuất và xuất khẩu viên nén của Việt Nam hiện tại đang tiểm ẩn một số vấn đề. Ông Tô Xuân Phúc- Chuyên gia phân tích chính sách Tổ chức Forest Trends- nhận định, nguồn nguyên liệu đầu vào chưa được kiểm soát, điều này dẫn đến chất lượng sản phẩm không đồng bộ, thậm chí sản phẩm có chất lượng kém; điều này đẩy giá xuất khẩu xuống thấp.

Mặc dù đã trở thành một trong những sản phẩm xuất khẩu quan trọng, sản xuất và xuất khẩu viên nén chưa nhận được sự quan tâm cần thiết của cơ quan quản lý. Hiện tại khâu sản xuất và xuất khẩu phát triển theo hướng tự phát, mạnh ai người ấy làm. Thiếu quản lý và giám sát, phát triển tự pháp dẫn đến tình trạng chất lượng không đồng bộ. Giá bán có xu hướng giảm là kết quả trực tiếp của nguyên nhân này.

Mặt khác, việc chưa có cơ chế kết nối các doanh nghiệp, cơ sở chế biến trong ngành, chưa có tiếng nói chung trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Tình trạng cạnh tranh về nguyên liệu đầu vào, cạnh tranh giá cả, người mua… đã và đang diễn ra giữa các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các cơ sở quy mô nhỏ. Thiếu kết nối cũng dẫn đến tình trạng thiếu một cơ quan đại diện cho các cơ sở sản xuất, dẫn đến thiếu kênh kết nối với các cơ quan quản lý nhằm có những chính sách phù hợp cho phát triển của ngành.

Cạnh tranh nguồn nguyên liệu đầu vào không chỉ xảy ra với các doanh nghiệp cùng sản xuất viên nén mà còn xảy ra giữa các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng này và các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm khác như dăm gỗ và ván ép. Nhiều tín hiệu cho thấy trong tương lai cạnh tranh nguồn nguyên liệu đầu vào sẽ diễn ra khốc liệt hơn.

Hiện nhiều doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu viên nén, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô nhỏ, không hiểu thông tin về thị trường xuất khẩu. Các doanh nghiệp này hầu như không tiếp cận được với các thông tin về động lực thay đổi của thị trường xuất khẩu, các cơ chế, chính sách liên quan tới sản phẩm bao gồm cả những yêu cầu về chất lượng, tính hợp pháp và bền vững. Thiếu tiếp cận với các thông tin về thị trường xuất khẩu không chỉ làm các các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất này không chủ động được phương án sản xuất kinh doanh mà còn đối mặt với các rủi ro trong việc không đáp ứng được các yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Nhu cầu tiêu thụ viên nén trên thế giới tiếp tục tăng, khoảng 250% trong thập kỷ tới, đạt con số 36 triệu tấn từ con số 14 triệu tấn năm 2017, với nhu cầu mở rộng chủ yếu tại các nước EU, Nhật Bản và Hàn Quốc. Điều này cho thấy ngành sản xuất và xuất khẩu viên nén của Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng trong tương lai.

Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất và xuất khẩu viên nén tại Việt Nam còn tương đối mới mẻ. Ông Tô Xuân Phúc cho rằng, để phát triển bền vững đòi hỏi sự kết nối và hợp tác giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này, và giữa các doanh nghiệp này với các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng khác cùng sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào. Các doanh nghiệp viên nén cũng cần thành lập cơ quan đại diện, nhằm kết nối với các cơ quan quản lý, tạo tiếng nói chung và tiếp cận với các thông tin về thị trường xuất khẩu. Đây là các hoạt động cần được ưu tiên trong thời gian tới.

Theo VIFOREST, hiện nay Hàn Quốc là thị trường tiêu thụ sản phẩm này nhiều nhất nhưng từ năm 2023, Nhật Bản sẽ vươn lên dẫn đầu về lượng tiêu thụ. Việt Nam có điều kiện về nguồn nguyên liệu sinh khối cũng như vị trí thuận lợi để vận chuyển sản phẩm đến các thị trường tiêu thụ lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc.

Thị trường Nhật Bản khắt khe về nhiều mặt nhưng việc chinh phục được những khách hàng khó tính nhất tại thị trường này sẽ mở đường vươn ra thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tránh "bỏ trứng vào một giỏ" được VIFOREST khuyến nghị tới các doanh nghiệp.

Nguyễn Hạnh