Phát triển ngành cơ khí: Đường rộng vẫn khó đi

Kỳ vọng rất nhiều vào chiến lược phát triển ngành Cơ khí và Chương trình cơ khí trọng điểm nhưng qua một thời gian thực hiện, kết quả thu được từ sự phát triển của lĩnh vực này lại không như mong muốn. Cơ chế, chính sách đã mở, ưu đãi cho ngành cũng được công khai, thế nhưng khi áp dụng vào thực tế đường đi lại đầy chông gai, khó bước.

CôngThương - NHỮNG KHOẢNG TỐI TRONG MỘT HÀNH LANG SÁNG

Sau 9 năm triển khai Chiến lược phát triển ngành Cơ khí và 2 năm theo đuổi Chương trình cơ khí trọng điểm, trong Dự thảo báo cáo kết quả thực hiện lĩnh vực này được Bộ Công Thương đưa ra ngày 17/11/2011 lấy ý kiến của các DN, hiệp hội để trình Chính phủ thì còn quá nhiều tồn tại được nhắc đến. Những con số được nêu ra như: Phát triển mạnh về công nghiệp đóng tàu, tỷ lệ nội địa hóa trong ngành ô tô tăng cao, sản xuất được nhiều thiết bị cơ khí thủy công cho các nhà máy thủy điện có công suất đến 300MW, sản xuất được 30.000 động cơ diesel mỗi năm đáp ứng được 30% nhu cầu trong nước và có xuất khẩu… vẫn chưa thỏa mãn được ngay đối với các cơ quan quản lý và chính DN. Kết quả hoạt động của ngành Cơ khí năm 2010 mới chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu trong nước, thấp hơn mục tiêu đề ra theo Quyết định 186.

Đa số các dự án cơ khí trọng điểm đầu tư đều đi vào sản phẩm lắp ráp là chủ yếu, tỷ lệ nội địa hóa thấp. Gần như chưa có dự án đầu tư nào đi vào cơ khí chế tạo với hàm lượng công nghệ cao, đặc biệt là các dự án sản xuất các loại động cơ diesel phục vụ cho giao thông vận tải và nông nghiệp nông thôn.

 

Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công Thương) ông Ngô Văn Trụ - cho hay: Dù đã đạt được một số thành tựu nhưng ngành Cơ khí Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập. Chúng ta vẫn chưa làm chủ được thiết kế những nhà máy điện, xi măng, dầu khí, hóa chất, bauxite…; chưa có nhà máy lớn về đúc, rèn; các nhà máy nhiệt điện phần lớn do nước ngoài làm tổng thầu; nhóm máy động lực, máy kéo và máy nông nghiệp chỉ đáp ứng 40% nhu cầu trong nước thay vì chỉ tiêu 60-70% của chiến lược. Đặc biệt, do không có sự chỉ đạo đồng bộ giữa các ngành, các chủ đầu tư và nhà chế tạo nên không bảo vệ được thị trường.

Thẳng thắn hơn, ông Đào Phan Long - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Cơ khí Việt Nam - bày tỏ: “Nguyên nhân chính chưa đạt được những mục tiêu của Chiến lược phát triển ngành Cơ khí cũng như Chương trình cơ khí trọng điểm là thiếu vốn. 9 năm qua đầu tư của Nhà nước cho cơ khí là bao nhiêu? Câu trả lời là chưa có một đồng nào!. Chương trình cơ khí trọng điểm có định hướng đúng nhưng khi đi vào cuộc sống lại không hiệu quả”. Các DN cơ khí hiện vẫn phải tự vật lộn trong cạnh tranh với DN nước ngoài trên thị trường với lợi thế không hề công bằng. “Thực tế, đầu tư cho cơ khí là nhằm vào lợi nhuận của ngành khác, giống như đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Vì thế không thể đòi hỏi DN phải có hiệu quả ngay sau một vài năm đầu tư. Chúng ta đang thiếu nguồn vốn ưu đãi đặc biệt cho cơ khí. DN phải xác định được có thị trường thì mới đầu tư chứ không phải sản xuất ra để đợi thị trường. Vì thế, nếu cứ để sân chơi bình đẳng như hiện nay thì các DN cơ khí sẽ bị “vật” chết ngay”- Lãnh đạo Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp lo ngại.

GỠ VỐN VÀ KHƠI THÔNG THỊ TRƯỜNG

Với lãi suất hỗ trợ mà Ngân hàng Phát triển (VDB) thực hiện là 11,4% thì không một DN cơ khí nào muốn tham gia. Thậm chí, nói như ông Ngô Văn Trụ, đối với các nhà đầu tư cơ khí nếu được vay lãi suất 0% trong 10 năm phải trả nợ thì cũng không ai muốn làm nữa là lãi suất ưu đãi trên 11% như hiện nay. Ông Trần Văn Túc - Trưởng ban Tín dụng đầu tư VDB cũng đồng quan điểm: Nếu lãi suất 11,4% thì ngành sản xuất bình thường còn khó khăn chứ chưa nói đến ngành Cơ khí, DN phải “dũng cảm” lắm mới dàm làm bởi thực tế đã có trường hợp đầu tư dự án mà nhìn thấy trước sản phẩm sẽ “chết” khi ra thị trường. Tuy nhiên, ông Túc cũng nêu rõ: VDB không hề làm khó DN mà phải thực hiện thẩm định dự án, giải ngân vốn theo đúng quy định của pháp luật.

Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Máy động lực và Máy Nông nghiệp (VEAM) - ông Hồ Mạnh Tuấn - đề xuất: “Chính phủ cần kiến nghị Quốc hội thông qua nguồn ngân sách cụ thể cho ngành Cơ khí trọng điểm”. Phó Cục trưởng Cục Thương mại chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) - ông Đoàn Xuân Hòa lại cho rằng: “Cần mở rộng tổ chức tín dụng cho vay vốn với lãi suất ưu đãi thay vì chỉ mình VDB như hiện nay”. Quan điểm được Bộ Công Thương đưa ra là Nhà nước cần tạo điều kiện thu xếp đủ vốn vay từ nguồn tín dụng đầu tư phát triển đối với các dự án cơ khí trọng điểm.

Do hiệu suất đầu tư cao, thu hồi vốn chậm cộng với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, khiến ngành Cơ khí trong nước thiếu tính cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại được nhập khẩu. Nhiều ý kiến cho rằng, với Luật Đấu thầu như hiện nay, các DN cơ khí trong nước không thể có được sân chơi bình đẳng khi tham gia các công trình đầu tư ngay tại Việt Nam. Vì thế, cần tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện cho các nhà thầu trong nước có cơ chế hoạt động phù hợp mà không vi phạm những thông lệ và quy tắc quốc tế. “Thị trường trong nước phải được xem là tài nguyên của quốc gia và cần có sự chia sẻ với các doanh nghiệp chứ không nên để lợi ích nhóm thao túng” - ông Đỗ Nga Việt, Chủ tịch Hội đồng thành viên - Tổng công ty Công nghiệp ô tô nói.

Kiến nghị cụ thể được các DN đưa ra để hoàn thiện bản Dự thảo trình Chính phủ là nên rút gọn 8 lĩnh vực ưu tiên với cơ khí trọng điểm, xem xét kỹ chính sách đối với phát triển cơ khí trọng điểm đã đủ hay chưa; giải quyết quyết liệt, dứt điểm trong từng dự án. Đối với các công trình phát triển cơ khí trong nước phải dùng sản phẩm nội địa thông qua thực hiện cơ chế đấu thầu hợp lý. Đặc biệt, nên rà soát lại toàn bộ quy hoạch ngành, tạo mối liên kết cũng như quy hoạch đồng bộ với các ngành khác để hợp tác phát triển

Tiến sĩ Nguyễn Chỉ Sáng - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí

Không khuyến khích đấu thầu giá rẻ

Nếu cứ giữ quan điểm để thị trường mở, cạnh tranh sòng phẳng với DN nước ngoài thì chiến lược phát triển cơ khí sẽ thất bại. Chúng ta cần phân tích thị trường để có hướng đầu tư đúng cho ngành Cơ khí. Việt Nam chưa có một chiến lược tổng thể trong phát triển các ngành nên không có sự hỗ trợ lẫn nhau, đầu tư công tràn lan mà cơ khí lại không được quan tâm. Đặc biệt với Luật Đấu thầu giá rẻ như hiện nay thì không DN nào muốn đầu tư vào cơ khí và không khuyến khích theo hướng đó. Vì thế, cần có chiến lược bảo hộ thị trường có thời gian và kỳ hạn cụ thể; khi Nhà nước có phần vốn cho đầu tư thì phải để các nhà thầu trong nước thực hiện. Cũng cần có ưu đãi mức độ khác nhau cho từng nhóm, khi đã xác định được trọng điểm thì Nhà nước phải bỏ vốn và có cơ chế chính sách hỗ trợ thị trường.

 

Tiến sĩ Đỗ Hữu Hào - Chủ tịch Tổng hội Cơ khí Việt Nam

Ngành Cơ khí cần có đơn đặt hàng để tạo động lực phát triển

Để sản xuất đáp ứng được yêu cầu thị trường, Nhà nước phải có đơn đặt hàng với ngành Cơ khí. Khi có được đề toán thời gian tới cần làm gì chúng ta sẽ tìm cách giải, các DN từ đó cũng phải cố gắng thực hiện. Nếu cứ cho đầu tư, phát triển dàn trải, rải mành như hiện nay thì chiến lược phát triển toàn ngành sẽ không thành công, thực tế là chỉ cần 1-2 sản phẩm quan trọng cũng sẽ tạo động lực cho các DN phát triển. 9 sản phẩm cơ khí trọng điểm đã duyệt mới chỉ tập trung vào lắp ráp, nếu thành công thì cũng có đóng góp nhất định cho nền kinh tế nhưng không thể làm thay đổi cục diện của toàn ngành Cơ khí vốn đang rất ảm đạm như hiện nay.

 

Ông Trần Văn Quang

Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Chế tạo Thiết bị điện Đông Anh (EEMC)

Hạn chế nhập khẩu để tránh bị phụ thuộc

Nếu chỉ quan tâm đến nhập khẩu, không có chính sách và chiến lược thúc đẩy sản xuất, sửa chữa, vận hành thì chắc chắn chúng ta sẽ bị lệ thuộc, nguy cơ mất ổn định sẽ xảy ra. Điều này đã xảy ra trước đây, ngành điện gặp sự cố với máy biến áp 500 KV, khi mời nhà cung cấp sang sửa thì nhận được sự thờ ơ và họ đưa ra thời hạn 16 tháng để vận chuyển về nước, sửa chữa rồi lại mang sang Việt Nam lắp đặt, chi phí tính ra khoảng 400 tỷ đồng. EEMC đã nhận sửa chữa thiết bị và dự kiến hoàn thành trong thời hạn 3 tháng. Khi thấy EEMC cam kết có thể sửa chữa thì phía nhà cung cấp mới quay trở lại đề nghị được cùng làm với doanh nghiệp. Vì thế, cần có các giải pháp mạnh, cụ thể để thúc đẩy doanh nghiệp trong đầu tư, nghiên cứu, chế tạo. Việt Nam đang phát triển khoa học, công nghệ nên việc đấu thầu quốc tế chỉ mua ở các nước phát triển như G7 và chỉ đấu thầu những sản phẩm chưa sản xuất được. Đặc biệt, cần kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu thiết bị, linh kiện, nếu trong nước đã sản xuất được.

Thùy Linh