Phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2015: Nhiều hạng mục chưa đạt kỳ vọng

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa có báo cáo sơ kết thực hiện Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2011-2020. Trong đó, giai đoạn 2011-2015 vẫn còn nhiều hạng mục chưa đạt như kỳ vọng.

Nhiều mục tiêu chiến lược chưa đạt

Cụ thể, về giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao, mục tiêu của chiến lược đề ra là đạt khoảng 45% GDP. Thực tế, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đóng góp ngày càng nhiều vào Tổng sản phẩm quốc nội giai đoạn 2011 - 2013 với tỷ trọng đóng góp theo các năm lần lượt là 11,7%; 19,1% và 28,7%. Nếu duy trì được đà tăng trưởng này, chỉ tiêu đạt 45% tổng sản phẩm quốc nội vào năm 2020 là khả thi. Tuy nhiên, phần lớn giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đều do khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra, ít có sự đóng góp của các DN trong nước.

Về tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị, trong giai đoạn 2011 - 2014, Việt Nam có tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt 10,68%/năm, đạt mục tiêu chiến lược đề ra là 10-15%/năm giai đoạn 2011 - 2015. Tuy nhiên, trừ một số lĩnh vực có tốc độ đổi mới công nghệ khá nhanh như công nghệ thông tin - viễn thông, dầu khí, hàng không, tài chính - ngân hàng,… phần lớn DN nước ta vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới 2-3 thế hệ. Đối với các DN trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp (chiếm khoảng 1/3 tổng số DN), nhóm DN có trình độ công nghệ tiên tiến chỉ khoảng dưới 20% (chủ yếu là các DN có vốn đầu tư nước ngoài).

Do nguồn cung và năng lực công nghệ trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu, các DN chủ yếu phải nhập khẩu máy móc, thiết bị từ nước ngoài để đổi mới công nghệ. Số liệu thống kê cho thấy, hai nhóm hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất trong năm 2014 là máy móc - thiết bị (22.5 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2013) và máy tính, sản phẩm điện tử, linh kiện (18,7 tỷ USD, tăng 5.8%). Tuy nhiên, nguồn gốc xuất xứ của máy móc, thiết bị chủ yếu từ Trung Quốc (35%), tỷ trọng nhập khẩu từ các quốc gia tiên tiến về công nghệ (như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ) rất thấp (17%, 12% và 4,5%). Do vậy, mức độ tiên tiến, hiện đại của các công nghệ, thiết bị được các DN Việt Nam đầu tư nhập khẩu còn hạn chế, chủ yếu chỉ ở mức trung bình so với thế giới.

Về số lượng sáng chế đăng ký bảo hộ của Việt Nam, giai đoạn 2011 - 2015, số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích được bảo hộ tăng 62% so với giai đoạn 2006 - 2010. Cụ thể, số đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích giai đoạn 2011 - 2015 là 22.674 (giai đoạn 2006 - 2010 là 15.989); số văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích giai đoạn tương ứng là 6.391 và 3.940.

Mặc dù đạt được mục tiêu của chiến lược, số lượng đơn do các tổ chức, cá nhân Việt Nam đăng ký còn rất khiêm tốn (chỉ khoảng 20% tổng số đơn đăng ký). Trong một số lĩnh vực, điển hình như lĩnh vực dược - mỹ phẩm, lượng đơn và văn bằng bảo hộ sáng chế của chủ đơn nước ngoài chiếm tuyệt đại đa số, trong đó, chủ yếu là từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, Đức, Thụy Sỹ, Pháp, Nhật Bản, Bỉ, Anh. Số đơn sáng chế bảo hộ quốc tế có nguồn gốc Việt Nam rất thấp.

Giai đoạn 2016-2020: Đẩy mạnh nghiên cứu KHCN trong các trường  

Để tiếp tục hoàn thành mục tiêu của chiến lược, một trong những giải pháp quan trọng trong giai đoạn 2016 – 2020 đặt ra đó chính là triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ KH&CN ưu tiên phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhanh và bền vững. Cụ thể, tập trung cho nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng phục vụ nhu cầu của DN và các ngành kinh tế chủ lực. Ưu tiên những ngành, lĩnh vực có hàm lượng cao nghệ cao, tỷ trọng giá trị nội địa lớn, tạo ra giá trị gia tăng cao từng bước thay thế các ngành công nghệ thấp, giá trị gia tăng thấp; đồng thời tăng cường ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn.

Bên cạnh đó, triển khai chương trình phát triển sản phẩm quốc gia để nhanh chóng nâng cao tiềm lực công nghệ của quốc gia và doanh nghiệp, giảm mức độ lệ thuộc vào công nghệ nhập ngoại, phát triển các thương hiệu công nghiệp nổi tiếng của Việt Nam.

Để hoàn thành được những mục tiêu này, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư có biện pháp mạnh triển khai cơ chế bắt buộc các DN nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn lớn trích đủ 3-10% thu nhập tính thuế để thành lập quỹ phát triển KH&CN của DN theo đúng quy định Chính phủ.

Thứ hai, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải chỉ đạo phát triển mạnh hoạt động nghiên cứu trong các trường đại học, coi nghiên cứu là một chức năng cơ bản của trường đại học. Đẩy mạnh liên kết giữa đào tạo và nghiên cứu, giữa đại học và doanh nghiệp; đưa chương trình đào tạo về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp vào hệ thống giáo dục từ cấp bậc phổ thông tới đại học, thúc đẩy hình thành văn hóa khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo ở ViệtNam.

Nguyễn Duyên