Phát triển Công nghiệp ô tô Việt Nam: Có nội địa hóa được 40%?

Tầm nhìn, chiến lược công nghiệp ô tô của Chính phủ là đúng, nhưng lộ trình thực hiện chưa phù hợp. Người Việt Nam chưa làm chủ công nghệ chế tạo mà phụ thuộc khá lớn vào các liên doanh.
Doanh nghiệp ngành công nghiệp ô tô mong muốn được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế. Ảnh: Cấn Dũng

Doanh nghiệp ngành công nghiệp ô tô mong muốn được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế. Ảnh: Cấn Dũng

CôngThương - Nghiên cứu kỹ các văn bản Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết kỳ họp Quốc hội vừa qua, đặc biệt là bài viết “Hoàn thiện kinh tế thị trường, định hướng XHCN” của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, ngày 2/1/2012, chúng ta thấy rõ, chủ trương, đường lối có nhiều đổi mới. Nếu thực hiện tốt, Việt Nam sẽ sử dụng hiệu quả tài nguyên, khoa học, công nghệ, vượt qua giai đoạn khó khăn, đi vào tăng trưởng bền vững. Chủ trương như vậy, nhưng vẫn có không ít lo ngại về cách thức của một số bộ, ngành chức năng, chính quyền địa phương khi giúp Đảng và Nhà nước điều hành nền kinh tế.

Ưu đãi bị lạm dụng

Ô tô là một ngành công nghiệp phức tạp, việc xây dựng thương hiệu và thị trường đòi hỏi thời gian không dưới 20 năm. Với thị trường nhỏ như Việt Nam, các liên doanh chỉ đi sâu vào lắp ráp, mức nội địa hóa không quá 6%, trừ một số công ty có một vài model có mức nội địa hóa 20 - 25% như: Innova (Toyota).

Công nghệ phức tạp, thị trường khó khăn, thương hiệu ngành công nghiệp ô tô vẫn là con số 0… Tuy nhiên, trong giai đoạn 1995 – 2005, các DNNN và DNNN nắm 20% cổ phần trong các liên doanh nhận được nhiều chính sách, ưu đãi nhưng không chú trọng nội địa hóa mà chỉ lo bán hàng. Trên thực tế, chính sách thuế trong giai đoạn này chưa hợp lý. DN được hưởng mức thuế tiêu thụ đặc biệt là 0% mà không bắt buộc phải thực hiện tỷ lệ 40% nội địa hóa, điều này có nghĩa, không làm mà vẫn được hưởng.


Nhập khẩu máy móc, phụ tùng công nghiệp năm 2010 - 2011 (đơn vị tính: triệu USD)

Thuế GTGT trong giai đoạn này cũng chỉ có 5%, điều này đồng nghĩa với việc Nhà nước đã ưu đãi thuế thấp cho phụ tùng ô tô nhập khẩu. Cùng với đó, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng được ưu đãi, thuế nhập khẩu ô tô được tính cao đã tạo điều kiện cho các liên doanh đẩy mạnh lắp ráp. Mặt khác, các DN này còn được hưởng các chính sách ưu đãi khác: Miễn trừ tiền thuê đất; máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu nhập vào để xây dựng nhà máy lắp ráp ô tô… Những ưu đãi này đã không mang lại hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam, thậm chí còn tác động làm tăng nhập siêu, tăng nhập khẩu ô tô, thay vì sử dụng ô tô có động cơ phân khối nhỏ, chiếm ít diện tích đường, tiết kiệm nhiên liệu, giảm ô nhiễm môi trường.

Chính phủ Nhật Bản – một trong những nước có công nghiệp sản xuất ô tô phát triển nhất thế giới, khuyến khích người dân sử dụng ô tô có dung tích nhỏ dưới 1.0L bằng việc lắp biển số màu vàng, ưu đãi thuế, phí cầu đường… thấp hơn nhiều so với những xe có dung tích lớn.

Việt Nam ngược lại với xu hướng này, xe dung tích động cơ 5.0L chở 5 người với xe dung tích động cơ dưới 1.0L chở 5 người thì tiền biển số, phí cầu đường, phí gửi xe, phần trăm thuế trước bạ… vẫn như nhau. Về lợi ích, xe có dung tích 5.0L làm cho nhập siêu, lạm phát tăng lên, ngoại tệ dùng nhập khẩu mua xe 5.0L gấp 50 lần ngoại tệ dùng để mua xe dưới 1.0L. Mức ngoại tệ dùng để mua phụ tùng nhập khẩu của xe 5.0L gấp 100 lần ngoại tệ dùng để mua phụ tùng xe dưới 1.0L do Việt Nam chưa thể sản xuất được phụ tùng cho những xe dung tích lớn (xe con).

Những vấn đề này không đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó còn gắn với sự thiếu công bằng xã hội, bởi mua xe dung tích nhỏ chủ yếu dùng để đi làm, còn những xe dung tích lớn, sang trọng ngoài việc đón tiếp các nguyên thủ quốc gia, dùng trong một số công việc của Nhà nước, còn lại chỉ dùng để khoe khoang sự giàu có.

Quay lưng với xe nội

3 năm qua (năm 2009, 2010 và 2011), Nhà nước đã có nhiều văn bản luật và dưới luật về khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư công nghệ cao, sản xuất những sản phẩm chiến lược, sử dụng lợi thế về lao động và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên; mở rộng và thúc đẩy hợp tác với các nước về khoa học, công nghệ, quản lý sản xuất, tạo lợi thế cạnh tranh theo hướng phát triển bền vững; nâng cao năng suất lao động với tốc độ tăng trưởng 20%/năm và liên tục trong 10 năm; tăng tỷ lệ nội địa hóa, góp phần giảm nhập siêu và giảm lạm phát.

Thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước cũng như tạo ưu thế cạnh tranh, từ giữa năm 2009, Công ty CP Ô tô Xuân Kiên (Vinaxuki) đã đầu tư các thiết bị hiện đại, hợp tác chuyển giao công nghệ tiên tiến của Nhật Bản và nhiều nước có nền công nghiệp phát triển, tạo nên 6 dây chuyền tự động hóa.

Theo Bộ Công Thương Nhật Bản, khuôn mẫu trong ngành công nghiệp ô tô là quan trọng số 1, bởi không có nó không thể sản xuất ra các linh kiện, không thể phát triển được ngành công nghiệp hỗ trợ. Vinaxuki đã kết hợp công nghệ của thế giới, tài nguyên và nguồn nhân lực của Việt Nam để thiết kế, chế tạo 500 bộ khuôn mẫu với tỷ lệ địa hóa hơn 98%. Nguyên liệu chế tạo khuôn gồm: Các loại gang, fero, crom, fero mangan, fero silicon đều mua ở trong nước, chỉ nhập khẩu một số ít loại hóa chất.

Đến nay, Vinaxuki đã bảo vệ thành công 2 đề tài cấp Nhà nước về “Làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo khuôn mẫu xe con và cabin, sat xi xe tải”. Vinaxuki đang cho chạy thử 3 model xe chở người 5 chỗ và 8 chỗ để đến hết tháng 3/2012 sẽ hiệu chỉnh, đăng kiểm. Mức nội địa hóa loạt xe này đạt từ 45 - 50% và giá bán chỉ bằng 55 - 70% so với xe nhập khẩu có cùng công suất động cơ, chất lượng.

Với kết quả trên, chúng tôi có thể khẳng định, Việt Nam có thể tạo ra nhiều model xe, không chỉ có tỷ lệ nội địa hóa 45 - 50% mà có thể nội địa hóa tới 90 – 95%, với giá cả hợp lý, phù hợp với con người, điều kiện giao thông của Việt Nam và có thể xuất khẩu.

Tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Asean… lộ trình nội địa hóa công nghiệp ô tô được thực hiện theo từng giai đoạn. Nhà nước giảm thuế cho người tiêu dùng, các cơ quan thuộc Nhà nước chỉ dùng xe nội. Nhưng tại Việt Nam, mặc dù Vinaxuki đầu tư khoa học, công nghệ để sản xuất những xe mang thương hiệu Việt Nam, chất lượng không thua kém xe nhập khẩu, động cơ được sử dụng những công nghệ hiện đại: Công nghệ Mitsubishi liên doanh sản xuất ở nước ngoài, khí thải Euro 4 tiết kiệm nhiên liệu, đầy đủ hộp số tự động, gương đèn, đầu đĩa hình, đầu đĩa tiếng, phanh ABS… Giá bán xe chỉ bằng 56 - 70% giá xe nhập khẩu nhưng vẫn khó tiêu thụ. Các ngân hàng thương mại không muốn hoặc ngại cho người tiêu dùng vay, hoặc nếu cho vay thì mức vay lại thấp hơn so với người mua xe thương hiệu ngoại. Các cơ quan nhà nước dùng 100% xe thương hiệu ngoại, dù xe đó được lắp ráp ở Việt Nam, tỷ lệ nội địa hóa thấp, đều tỏ ý chê bai và không dùng xe nội địa.

Lộ trình cho dòng xe chiến lược

Thực tế trên, các DN ngành công nghiệp ô tô rất mong muốn, Quốc hội, Chính phủ thay đổi một số chính sách ưu đãi và thuế để các chính sách này thực sự hỗ trợ cho các DN có hoạt động kinh doanh hiệu quả, mang lại nguồn lợi cho đất nước, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, giải quyết việc làm, giảm nhập siêu, hướng đến tăng kim ngạch xuất khẩu.

Với những dòng xe chiến lược, Bộ Công Thương đã xây dựng và trình Chính phủ dự thảo hỗ trợ người tiêu dùng về thuế tiêu thụ đặc biệt cho những xe có dung tích dưới 1.5L và mức nội địa hóa ≥ 40%. Trên thực tế, chủ trương hỗ trợ người tiêu dùng thuế tiêu thụ đặc biệt cho xe dung tích dưới 1.5L và mức nội địa hóa ≥ 40% như ý kiến của Bộ Công Thương là hợp lý. Bởi trước đây, ở giai đoạn đầu các liên doanh được hưởng thuế tiêu thụ đặc biệt bằng 0%, nhưng mức nội địa hóa không quá 6%, chỉ lắp ráp đơn thuần, theo công bố của Bộ Tài chính.

Việc tất cả DN thuộc các thành phần kinh tế, đều được giảm thuế tiêu thụ đặc biệt 50% thì cũng là điều xứng đáng. Mức này có thể giảm, như: Xe có dung tích xy lanh 1.5L và mức nội địa hóa ≥ 40%: Ưu đãi 30% thuế tiêu thụ đặc biệt. Xe có dung tích xy lanh 1.5L và mức nội địa hóa ≥ 50%: Ưu đãi 40% thuế tiêu thụ đặc biệt. Xe có dung tích xy lanh dưới 1.3 và mức nội địa hóa ≥ 40%: Ưu đãi 40% thuế tiêu thụ đặc biệt. Xe có dung tích xy lanh dưới 1.3 và mức nội địa hóa ≥ 50%: Ưu đãi 50% thuế tiêu thụ đặc biệt.

 “Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, nhằm hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp, trong đó có công nghiệp ô tô:

- Quyết định 49/2010/QĐ-TTg ngày 19/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển;

- Quyết định 1483/QĐ-TTg ngay 26/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển;

- Quyết định số 12/2001/QĐ-TTg ngày 24/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ;

- Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/1/2009 về cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm và danh mục các sản phẩm cơ khí trọng điểm, danh mục dự án đầu tư sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2009 - 2015…

Các văn bản được ban hành nhưng các DN đầu tư công nghệ cao nằm trong các lĩnh vực được hỗ trợ đã gõ cửa, gửi đơn đến tất cả các bộ liên quan để xin hỗ trợ nhưng đều không nhận được trả lời. Điều này tác động không nhỏ đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh của DN. Đặc biệt, khi lòng tin của DN bị suy giảm, chủ trương nội địa hóa khó có thể thành công”.

                                                            Bùi Ngọc Huyên- Tổng giám đốc Công ty CP ô tô Xuân Kiên(Vinaxuki)

* LTS: Xin mời bạn đọc tham gia ý kiến về Chiến lược công nghiệp ô tô của Chính phủ và lộ trình thực hiện. Theo bạn, Việt Nam phải làm gì để thu hẹp dần khoảng cách phụ thuộc vào các liên doanh ô tô với nước ngoài ?