Phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành cơ khí: Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp

Thực tiễn phát triển đã cho thấy tính cấp thiết của việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT), nhất là CNHT trong ngành cơ khí. Nhà nước đã có không ít cơ chế, chính sách để thể chế hóa chủ trương phát triển CNHT, song tác động và hiệu quả rất hạn chế.
Cần xây dựng, phát triển mối quan hệ hợp tác - liên kết.

Cần xây dựng, phát triển mối quan hệ hợp tác - liên kết.

CôngThương -Vậy, làm thế nào để phát triển nhanh và mạnh CNHT trong tương lai gần? Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang về vấn đề này.

Thưa ông, ngày 24/2/2011, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành CNHT, trong đó có lĩnh vực cơ khí. Trên cơ sở đó, mục tiêu phát triển CNHT cho ngành cơ khí Việt Nam đã được Bộ Công Thương triển khai như thế nào?

Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, để góp phần thúc đẩy phát triển CNHT phục vụ ngành cơ khí, Bộ Công Thương đã và đang triển khai một số công việc sau:

Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí xây dựng và trình Thủ tướng ban hành Danh mục các sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển cho giai đoạn 2011-2015. Cần phải nói rõ rằng, danh mục này có thể được cập nhật, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp thực tế.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang

Chủ trì Hội đồng thẩm định (có sự tham gia của các bộ, ngành, hiệp hội) để thẩm định các dự án sản xuất sản phẩm CNHT thuộc danh mục ưu tiên phát triển.

Hướng dẫn một số doanh nghiệp ôtô xây dựng dự án sản xuất phụ tùng, chi tiết phù hợp với yêu cầu, mục tiêu của chính sách khuyến khích phát triển CNHT của Chính phủ.

Thực hiện cung cấp thông tin (qua website, báo chí của Bộ Công Thương) liên quan đến các chủ trương, chính sách phát triển CNHT.

Chỉ đạo Viện Nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp xây dựng Quy hoạch phát triển CNHT đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 (thay thế cho quy hoạch cũ phê duyệt năm 2007).

Chủ trì, chỉ đạo hợp tác với nước ngoài (Hàn Quốc, Nhật Bản) thực hiện một số dự án về phát triển CNHT (cụm CNHT tại Hải Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu; “vườn ươm” công nghệ CNHT tại Cần Thơ)...

Có nhiều ý kiến cho rằng, cơ chế, chính sách phát triển CNHT cho ngành cơ khí Việt Nam đã có không ít, nhưng khi áp dụng vào thực tiễn lại khó thực hiện, Quan điểm của ông về vấn đề này?

Có lẽ không ai có thể phủ nhận sự cần thiết và tính cấp bách của việc phải đẩy mạnh phát triển CNHT nói chung và CNHT cho ngành cơ khí nói riêng. Nhà nước cũng đã có không ít cơ chế, chính sách để thể chế hóa chủ trương này. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tác động và hiệu quả của những cơ chế, chính sách đó còn rất hạn chế. Nguyên nhân có nhiều, nhưng theo tôi, có mấy nguyên nhân chính sau:

Về chiến lược - quy hoạch, trong một thời gian dài chúng ta rất lúng túng trong việc xác định phân ngành cơ khí nào là chủ lực để có hướng tập trung phát triển CNHT cho ngành đó. Bản thân ngành cơ khí có lĩnh vực hoạt động rất rộng, từ đóng tàu đến sản xuất các sản phẩm cơ khí gia dụng, sản phẩm CNHT vô cùng đa dạng, nhưng chúng ta chưa chọn ra được một vài chủng loại sản phẩm CNHT để tập trung đầu tư phát triển.

Về tư duy, trước đây chúng ta chỉ nghĩ đến mục tiêu nội địa hóa cho một số nhóm sản phẩm cụ thể, mà chưa coi trọng đúng mức cũng như chưa có giải pháp hữu hiệu để từng bước tham gia vào chuỗi sản xuất - cung ứng toàn cầu.

Doanh nghiệp cơ khí của Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đa phần thiếu một chiến lược kinh doanh bài bản và lâu dài, chủ yếu chạy theo mục tiêu lợi nhuận trước mắt, cạnh tranh với nhau bằng giá chứ chưa phải bằng chất lượng sản phẩm và dịch vụ, không có sản phẩm chủ lực, khâu đổi mới công nghệ nhìn chung rất yếu.

Tính hợp tác - liên kết giữa các doanh nghiệp còn kém. Rất ít doanh nghiệp tạo dựng được mối quan hệ hợp tác chiến lược với đối tác, bạn hàng. Điều này một phần cũng là hậu quả của cung cách làm ăn thời bao cấp, khi hầu hết các doanh nghiệp cơ khí đều đầu tư khép kín từ khâu tạo phôi đến gia công, tự làm hầu hết mọi chi tiết của sản phẩm.

Bên cạnh đó, chính sách của nhà nước thiếu tính ổn định, tính nhất quán, nhất là chính sách thuế, tín dụng, đất đai, xuất nhập khẩu..., làm cho doanh nghiệp khó tính toán chiến lược lâu dài và không yên tâm đầu tư.

Ngoài ra, còn có nguyên nhân do bản thân ngành cơ khí là ngành có tỷ suất lợi nhuận trên vốn không cao, do đó doanh nghiệp không muốn đầu tư, nhất là khi lãi suất vay vừa cao, vừa khó tiếp cận nguồn vốn vay…

Theo ông, để phát triển CNHT cho ngành cơ khí Việt Nam, giai đoạn tới cần những hỗ trợ hoặc giải pháp gì?

Để thúc đẩy phát triển CNHT cho ngành cơ khí cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Ở đây, tôi chỉ xin nêu mấy nhóm giải pháp quan trọng nhất.

Trước hết, chúng ta phải xác định được các nhóm sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển trong từng thời kỳ để tập trung chỉ đạo, hướng dẫn và hỗ trợ đầu tư cũng như thị trường, đổi mới công nghệ, đào tạo... Việc này đã được Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Công Thương chủ trì tại Quyết định 12/2011/QĐ-TTg. Bộ Công Thương sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan, các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp cơ khí để thực hiện.

Thứ hai, cần phải xây dựng, củng cố, phát triển mối quan hệ hợp tác - liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp cơ khí, từng bước tạo ra sự phân công, hợp tác sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, hình thành các liên kết dưới dạng đối tác chiến lược hoặc công ty mẹ - con giữa các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng với các doanh nghiệp vệ tinh cung cấp một số loại linh kiện, chi tiết. Ở đây vai trò của các hiệp hội, trước hết là Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí, đặc biệt quan trọng.

Thứ ba, nhà nước cần tiếp tục hỗ trợ tối đa các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHT trong việc đổi mới công nghệ, nhất là những sản phẩm tham gia được vào chuỗi sản xuất - cung ứng toàn cầu, những doanh nghiệp làm vệ tinh cung cấp phụ tùng, chi tiết cho các tập đoàn lớn.

Thứ tư, các cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển CNHT cần được tiếp tục rà soát, bổ sung, điều chỉnh theo hướng thuận lợi hơn, hấp dẫn hơn, đồng thời phải đảm bảo được tính ổn định lâu dài.

Trước mắt, cần rà soát lại các quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc vay vốn, thuê mặt bằng sản xuất, nhập khẩu vật tư - nguyên liệu trong nước chưa sản xuất được...

Ngoài ra, bản thân các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHT cũng cần phải tự mình vươn lên, chủ động xây dựng mối quan hệ hợp tác chiến lược lâu dài với các doanh nghiệp khác, mạnh dạn đổi mới công nghệ, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, chủ động đón bắt xu thế phát triển của ngành để tạo ra những sản phẩm mới.

Trân trọng cảm ơn ông!

Cần phải xây dựng, củng cố, phát triển mối quan hệ hợp tác - liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp cơ khí, từng bước tạo ra sự phân công, hợp tác sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, hình thành các liên kết dưới dạng đối tác chiến lược...

Quỳnh Minh