Người Việt Nam ở nước ngoài: Nguồn lực chiến lược phát triển kinh tế

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài đang trở thành nguồn lực quan trọng về vốn, tri thức, công nghệ, quản trị và thị trường cho phát triển đất nước.

Lớn mạnh cả về quy mô và chất lượng

Hiện có hơn 6,5 triệu người Việt Nam sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tỷ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng, độ tuổi của cộng đồng có xu hướng trẻ hơn; một số người đã nắm giữ những vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý kinh tế, khoa học - công nghệ, chính trị tại nước sở tại. Đại đa số đồng bào hội nhập tốt, gìn giữ truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, hướng về Tổ quốc và có những đóng góp quan trọng cho quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan, ngày 27/5/2026.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan, ngày 27/5/2026.

Trong cộng đồng hàng triệu người ấy có những nhà khoa học đang làm việc tại các trung tâm nghiên cứu, chuyên gia công nghệ, doanh nhân am hiểu thị trường sở tại, người lao động có kỹ năng, cùng các thế hệ trẻ được đào tạo và trưởng thành trong môi trường quốc tế. Chính sự đa dạng ấy tạo nên một lợi thế: khả năng đứng đồng thời ở hai không gian, hiểu Việt Nam nhưng cũng hiểu thị trường, luật lệ, công nghệ… của thế giới.

Bên cạnh mặt tích cực thì vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại. Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài nêu rõ, một bộ phận nhỏ người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn định kiến, nhận thức và hành động chưa phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Đời sống của cộng đồng ở một số nước còn khó khăn; địa vị pháp lý, việc công nhận cộng đồng tại một số nơi vẫn có những hạn chế. Đáng chú ý, đối với yêu cầu phát triển là việc huy động nguồn lực của cộng đồng phục vụ đất nước chưa tương xứng với tiềm năng, trong khi cơ chế phối hợp liên ngành có lúc, có nơi còn thiếu đồng bộ.

Từ dòng kiều hối đến vốn tri thức, công nghệ và thị trường

Trong nhiều năm, đóng góp kinh tế dễ nhận thấy nhất của người Việt Nam ở nước ngoài được phản ánh qua kiều hối. Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam đã tăng từ 2,3 tỷ USD năm 2004 lên 17,7 tỷ USD năm 2025. Tính từ năm 1993 đến nay, tổng lượng kiều hối đạt hơn 250 tỷ USD, tương đương nguồn vốn FDI giải ngân trong cùng thời kỳ.

Kiều hối mang lại dòng vốn tương đối ổn định cho nền kinh tế, hỗ trợ đời sống, tích lũy, đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Song trong giai đoạn mà mô hình tăng trưởng phải dựa ngày càng nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, giá trị của cộng đồng người Việt Nam toàn cầu còn nằm ở những tài sản khó đo ngay bằng tiền: tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, thông tin thị trường, khả năng tiếp cận các xu hướng mới và các mạng lưới hợp tác quốc tế. Đây cũng chính là những nguồn lực mà tài liệu đặt trong mối quan hệ trực tiếp với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ở một khía cạnh khác, đóng góp của kiều bào cho đất nước không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc trở về nước hay một dự án đầu tư cụ thể. Từ vị trí ở nước sở tại, họ có thể đưa doanh nghiệp Việt tiếp cận đối tác và thị trường mới, chuyển giao tri thức, hỗ trợ đào tạo nhân lực, thiết lập các mối liên kết nghiên cứu hoặc tham gia tư vấn, triển khai những dự án công nghệ. Khoảng cách địa lý vì thế không còn là rào cản lớn; điều quan trọng là có cơ chế phù hợp để những năng lực đang phân tán trên khắp thế giới được kết nối đúng với nhu cầu phát triển trong nước.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung trình bày chuyên đề: “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài”. Ảnh: Nhật Bắc

Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung trình bày chuyên đề: “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài”. Ảnh: Nhật Bắc

Nghị quyết 23-NQ/TW đã phản ánh khá rõ cách tiếp cận đó khi dành riêng một nhóm nhiệm vụ về phát huy hiệu quả nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước. Bộ Chính trị yêu cầu đẩy mạnh thu hút, kết nối chuyên gia, trí thức, nhà khoa học và nhân tài trong các lĩnh vực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học. Đồng thời, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư, sản xuất, kinh doanh, chuyển giao công nghệ, hình thành mạng lưới hợp tác, chuỗi cung ứng, trung tâm đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp giữa Việt Nam với thế giới, mở rộng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ Việt Nam.

Nguồn lực chiến lược quan trọng

Tại buổi gặp mặt báo chí do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức tại Hà Nội chiều 10/8/2026, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Ngô Trịnh Hà cho biết, tư tưởng bao trùm của Nghị quyết 23 là xác định người Việt Nam ở nước ngoài là “một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng”, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và trực tiếp đồng hành với sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc.

Nguồn lực chiến lược khác với một nguồn lực bổ sung ở chỗ nó phải được tính đến ngay trong quá trình hoạch định phát triển, được nhận diện, tổ chức, đầu tư cho kết nối và tạo điều kiện phát huy lâu dài. Khi hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài được nhìn nhận như một cấu phần của sức mạnh tổng hợp quốc gia, công tác kiều bào cũng phải vượt khỏi cách làm chủ yếu dựa trên vận động và từng hoạt động riêng lẻ.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị diễn ra ngày 3/9/2026, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã quán triệt chuyên đề về Nghị quyết 23-NQ/TW. Nội dung được trình bày tại hội nghị nhấn mạnh yêu cầu “nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài”.

Kiều bào từ vị trí chủ yếu được chăm lo, vận động trở thành chủ thể có thể tham gia quá trình phát triển. Nhà nước chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo môi trường, thể chế và phương thức để năng lực của từng người, từng mạng lưới được phát huy.

Nghị quyết đặt vấn đề hình thành cơ sở dữ liệu, mạng lưới và hệ sinh thái kết nối người Việt Nam toàn cầu. Hình thức đóng góp cũng được mở rộng, không bó hẹp vào việc trở về nước làm việc trực tiếp mà có thể thực hiện từ xa bằng nhiều phương thức phù hợp; mức độ tham gia được mở sang góp ý chính sách, chương trình phát triển quốc gia, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Cách tiếp cận này giải quyết một điểm nghẽn tồn tại khá lâu: muốn đóng góp cho đất nước không nhất thiết phải lựa chọn giữa “ở lại” hay “trở về”. Trong nền kinh tế số, nhà khoa học có thể làm việc cho một viện nghiên cứu hàng đầu ở nước ngoài nhưng cùng lúc tham gia dự án tại Việt Nam. Doanh nhân có thể kết nối doanh nghiệp trong nước vào mạng lưới phân phối quốc tế mà không cần chuyển toàn bộ hoạt động kinh doanh về Việt Nam.

Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, có tính đột phá; tạo môi trường thông thoáng để kết nối, thu hút và phát huy tiềm năng, thế mạnh của người Việt Nam ở nước ngoài.

Nghị quyết 23-NQ/TW cũng đặt ra một yêu cầu: chuyển cách đánh giá từ số lượng hoạt động sang hiệu quả và những chuyển biến thực chất, có thể đo lường, kiểm chứng. Tại Hội nghị toàn quốc ngày 3/9/2026, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung nhấn mạnh yêu cầu khẩn trương thể chế hóa Nghị quyết thành pháp luật, cơ chế, chính sách và chương trình hành động; xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, tiến độ và nguồn lực của từng cơ quan, địa phương.

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam sinh sống trên khắp thế giới đang tạo nên một không gian nguồn lực rộng lớn, đa dạng về vốn, tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và mạng lưới kết nối. Vấn đề đặt ra trong chặng đường tới là phải đưa tư duy mới đi vào thực tiễn bằng những cơ chế đủ mạnh, để các mối liên kết thực sự tạo ra hợp tác, năng lực chuyên môn được chuyển hóa thành sản phẩm khoa học - công nghệ, quan hệ thị trường mở ra cơ hội kinh doanh, còn nguồn vốn và khát vọng cống hiến được cụ thể hóa bằng những dự án, kết quả có giá trị đối với nền kinh tế.

Khi những nguồn lực ấy được khơi thông và sử dụng hiệu quả, khái niệm “nguồn lực chiến lược” sẽ không chỉ là sự khẳng định về vị thế của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, mà được thể hiện bằng những đóng góp thực chất cho sức mạnh kinh tế, năng lực cạnh tranh và dư địa phát triển của đất nước.

Mục tiêu của Nghị quyết 23-NQ/TW nêu rõ: Khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, khát vọng cống hiến và tinh thần tự hào dân tộc; phát huy vai trò là cầu nối hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với thế giới và là nguồn lực quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; góp phần lan toả, kết nối giá trị, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Hà Trang

Có thể bạn quan tâm