Ngư lôi Hoot Iran sau gần 20 năm biên chế vẫn là ẩn số dưới đáy biển

Sau gần hai thập kỷ biên chế, ngư lôi Hoot của Iran gây chú ý nhờ tốc độ cực cao, song vẫn tồn tại nhiều câu hỏi về khả năng chiến đấu thực tế.

Nhanh như tên lửa, khó kiểm soát

Ngư lôi Hoot, "Cá voi” của Iran được phát triển ít nhất từ đầu những năm 2000. Đây là loại ngư lôi được thiết kế như một phiên bản tương đương với tên lửa - ngư lôi siêu khoang VA-111 Shkval của Liên Xô/Nga. Sự tương đồng đáng kể về hình dáng và cấu trúc giữa hai loại vũ khí này từng làm dấy lên giả thuyết Iran đã tiếp cận hoặc tiếp nhận một số công nghệ, nền tảng kỹ thuật liên quan. Tuy nhiên, do tính chất tuyệt mật, đến nay những thông tin này vẫn chưa được xác thực.

Quá trình phát triển Hoot hoàn tất vào giữa những năm 2000. Tháng 4/2006, trong khuôn khổ một cuộc tập trận của Hải quân Iran, loại vũ khí này lần đầu tiên được thử nghiệm. Sau đó, truyền thông quốc tế nhiều lần ghi nhận các đợt phóng thử trong các cuộc diễn tập khác nhau, dù tần suất thông tin không nhiều. Mỗi lần xuất hiện, Hoot đều thu hút sự chú ý đáng kể.

Ngư lôi Hoot của Iran với tốc độ hơn 300 km/h và công nghệ siêu khoang vẫn là ẩn số sau gần 20 năm. Ảnh: Topwar

Ngư lôi Hoot của Iran với tốc độ hơn 300 km/h và công nghệ siêu khoang vẫn là ẩn số sau gần 20 năm. Ảnh: Topwar

Đến tháng 10/2015, tại một triển lãm vũ khí và trang thiết bị quân sự do Iran tổ chức tại Tehran, ngư lôi Hoot lần đầu được công khai trước công chúng. Sự tương đồng với Shkval một lần nữa được nhắc đến, song không được phía Iran làm rõ.

Ngư lôi siêu khoang Hoot đã được biên chế cho Hải quân Iran khoảng 20 năm. Trong thời gian này, vũ khí đã được sử dụng trong nhiều cuộc diễn tập, nhưng chưa có ghi nhận về việc sử dụng trong chiến đấu thực tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh căng thẳng gia tăng, khả năng loại vũ khí này được triển khai thực chiến luôn hiện hữu.

Hoot là loại tên lửa/ngư lôi được thiết kế để phóng từ tàu ngầm, nhằm tấn công các mục tiêu nổi trên mặt nước. Vũ khí này sở hữu nhiều đặc điểm kỹ thuật đáng chú ý và vận hành dựa trên các nguyên lý đặc biệt, qua đó đạt được các thông số chiến - kỹ thuật cao và hiệu quả tác chiến đáng kể.

Ngư lôi có thân hình trụ với phần đầu hình nón, bề mặt trơn nhẵn, tối giản chi tiết. Ở phần mũi được lắp thiết bị tạo siêu khoang dạng đĩa, trong khi phía đuôi bố trí các bánh lái có thể thu vào.

Ngư lôi siêu khoang Hoot của Iran có thể đạt tốc độ hàng trăm km/h dưới nước, nhưng hiệu quả và vai trò trong chiến đấu vẫn là ẩn số lớn. Ảnh: Topwar

Ngư lôi siêu khoang Hoot của Iran có thể đạt tốc độ hàng trăm km/h dưới nước, nhưng hiệu quả và vai trò trong chiến đấu vẫn là ẩn số lớn. Ảnh: Topwar

Kích thước và khối lượng cụ thể của Hoot chưa được công bố. Tuy nhiên, mẫu tương đương Shkval có đường kính 533 mm, dài khoảng 8 m và nặng 2,7 tấn. Nhiều khả năng Hoot có thông số tương đương hoặc xấp xỉ.

Ngư lôi của Iran được trang bị động cơ nhiên liệu rắn, có thể sử dụng nhiên liệu phản ứng với nước biển để tạo lực đẩy. Theo các thông tin từng được công bố, Hoot có thể đạt tốc độ khoảng 320 km/h, thậm chí có nguồn cho rằng đạt tới 360 km/h (100 m/s). Dù vậy, con số này vẫn thấp hơn so với Shkval (370-375 km/h).

Tầm bắn của Hoot chưa được xác định rõ, song do đặc thù động cơ, nhiều khả năng bị giới hạn. Với Shkval, tầm bắn tối đa chỉ khoảng 10-12 km, thấp hơn đáng kể so với các ngư lôi truyền thống.

Ngư lôi Hoot Iran nổi bật nhờ tốc độ nhưng nhiều hạn chế chưa được kiểm chứng. Ảnh: Topwar

Ngư lôi Hoot Iran nổi bật nhờ tốc độ nhưng nhiều hạn chế chưa được kiểm chứng. Ảnh: Topwar

Để đạt tốc độ cao dưới nước, Hoot sử dụng nguyên lý siêu khoang. Thiết bị ở phần đầu tạo ra một khoang khí bao quanh toàn bộ thân ngư lôi, giúp giảm đáng kể lực cản của nước. Nhờ đó, vũ khí gần như bay trong nước thay vì di chuyển theo cách thông thường.

Tuy nhiên, do đặc điểm cấu trúc, loại ngư lôi này không thể trang bị hệ thống dẫn đường tự động phức tạp, nó chủ yếu di chuyển theo quỹ đạo định sẵn, với khả năng điều khiển hạn chế.

Đầu đạn của Hoot có thể mang thuốc nổ khoảng 200 kg. Trong khi đó, Shkval từng có khả năng mang đầu đạn đặc biệt có sức công phá lớn nhằm bù đắp hạn chế về độ chính xác.

Lợi thế tốc độ và giới hạn tác chiến

Ưu điểm nổi bật nhất của Hoot là tốc độ cực cao. Một hành trình tối đa chỉ kéo dài khoảng 1-1,5 phút, khiến đối phương gần như không có đủ thời gian phát hiện và phản ứng. Với tốc độ này, các tàu cỡ lớn khó có khả năng né tránh, làm tăng đáng kể xác suất trúng mục tiêu. Đầu đạn nặng cũng đủ sức gây thiệt hại nghiêm trọng.

Tuy nhiên, vũ khí này cũng tồn tại nhiều hạn chế. Trước hết là vấn đề phương tiện mang. Về lý thuyết, mọi tàu ngầm sử dụng ống phóng 533 mm đều có thể triển khai Hoot. Hải quân Iran hiện sở hữu một số tàu ngầm diesel-điện lớp Kilo và các tàu ngầm nội địa lớp Ghadir. Tuy nhiên, số lượng còn hoạt động và khả năng sẵn sàng chiến đấu sau các đòn tấn công vẫn là ẩn số.

Tốc độ vượt trội giúp Hoot gây chú ý nhưng năng lực thực chiến còn bỏ ngỏ. Ảnh: Topwar

Tốc độ vượt trội giúp Hoot gây chú ý nhưng năng lực thực chiến còn bỏ ngỏ. Ảnh: Topwar

Bên cạnh đó, tầm bắn hạn chế buộc tàu ngầm phải tiếp cận mục tiêu ở khoảng cách 8-10 km. Điều này không quá khó với tàu thương mại, nhưng với tàu chiến, nguy cơ bị phát hiện và phản công là rất lớn.

Ngoài ra, động cơ nhiên liệu rắn tạo ra tiếng ồn đáng kể, làm lộ vị trí cả ngư lôi lẫn tàu mang. Mỗi quả Hoot chỉ có thể tấn công một mục tiêu, trong khi các tàu còn lại trong đội hình có thể triển khai chống ngầm, khiến rủi ro đối với tàu ngầm Iran gia tăng.

Hải quân Iran sở hữu nhiều vũ khí hiện đại để đối phó mục tiêu trên biển, trong đó có ngư lôi siêu khoang Hoot. Khả năng loại vũ khí này được đưa vào thực chiến trong thời gian tới là hiện hữu và hiệu quả thực tế sẽ là thước đo quan trọng đối với năng lực tác chiến cũng như tác động tới an ninh hàng hải khu vực.

Bình Minh

Có thể bạn quan tâm