Kỳ vọng tạo bước chuyển mạnh mẽ
Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết được kỳ vọng tạo bước chuyển mạnh mẽ cho ngành du lịch về quy mô và chất lượng, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh quốc tế.
Trong đó, Nghị quyết yêu cầu: "Nâng cao chất lượng nhóm sản phẩm du lịch y tế, chăm sóc sức khoẻ chất lượng cao, phát huy lợi thế y dược cổ truyền, nha khoa, spa và thẩm mỹ, hình thành các trung tâm du lịch y tế, nghỉ dưỡng và phục hồi sức khoẻ đạt chuẩn quốc tế". Đồng thời mở hướng ưu đãi đầu tư đối với các dự án du lịch chất lượng cao gắn với chăm sóc sức khỏe đồng thời nghiên cứu chính sách nhập cảnh thuận lợi và thị thực linh hoạt.
Đây là tín hiệu chính sách quan trọng bởi du lịch y tế đang trở thành một lĩnh vực có giá trị kinh tế lớn và mức độ cạnh tranh ngày càng cao giữa các quốc gia. Sau đại dịch Covid-19, nhu cầu chăm sóc sức khỏe chủ động, khám chuyên sâu, phục hồi thể chất và cải thiện chất lượng sống gia tăng mạnh, kéo theo sự thay đổi trong cách nhiều người lựa chọn điểm đến.
Bệnh nhân nước ngoài đến khám, chữa bệnh tại Khoa Quốc tế, Bệnh viện Quân y 175.
Theo phân loại của UN Tourism và Ủy ban Du lịch châu Âu, du lịch sức khỏe gồm 2 nhóm chính là du lịch y tế và du lịch chăm sóc sức khỏe. Một chuyến đi có thể bắt đầu bằng nhu cầu khám chữa bệnh nhưng phần giá trị kinh tế phía sau còn nằm ở nghỉ dưỡng, phục hồi, lưu trú, ăn uống, vận chuyển, bảo hiểm và các dịch vụ chăm sóc liên quan.
Cấu trúc thị trường vì thế cũng thay đổi. Chi phí điều trị cạnh tranh và tay nghề bác sĩ vẫn là những yếu tố quan trọng nhưng chưa đủ để quyết định khả năng thu hút bệnh nhân quốc tế. Người bệnh còn cân nhắc thời gian chờ, năng lực phiên dịch, khả năng thanh toán qua bảo hiểm, mức độ minh bạch của thông tin, quy trình tiếp nhận, chất lượng chăm sóc sau điều trị và khả năng xử lý những tình huống phát sinh.
Việt Nam đang có những nền tảng thuận lợi để tham gia cuộc cạnh tranh đó. Năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, mức cao nhất từ trước tới nay. 7 tháng đầu năm 2026, lượng khách quốc tế đạt khoảng 13,9 triệu lượt, tăng 13,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khoảng 300.000 lượt khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế tại Việt Nam mỗi năm, tập trung chủ yếu tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế và Khánh Hòa.
Con số này vẫn còn khá khiêm tốn nếu so với các trung tâm du lịch y tế lớn trong khu vực song cũng cho thấy thị trường có dư địa tăng trưởng rộng, đặc khi năng lực chuyên môn của hệ thống y tế Việt Nam đang thay đổi nhanh.
Năng lực y tế đang tạo sức hút
Nền tảng đầu tiên của du lịch y tế đó là năng lực khám chữa bệnh. Theo Bộ Y tế, mạng lưới bệnh viện tăng từ 1.235 cơ sở năm 2020 lên 1.665 cơ sở năm 2024, trong đó có 384 bệnh viện ngoài công lập. Năm 2025, Việt Nam đạt 15 bác sĩ và 34,5 giường bệnh/10.000 dân. Một số cơ sở đã tiếp cận hoặc đạt các chứng nhận chất lượng quốc tế như JCI và ACHS, tạo thêm nền tảng để tiếp nhận bệnh nhân nước ngoài.
Nhiều kỹ thuật từng khiến người bệnh phải ra nước ngoài điều trị nay đã được thực hiện tại Việt Nam, gồm ghép thận, ghép gan, ghép tim, ghép phổi, phẫu thuật robot, tim mạch can thiệp, hỗ trợ sinh sản, điều trị ung thư đa mô thức và nhiều kỹ thuật chuyên sâu khác.
Các bệnh viện tuyến cuối cũng xây dựng được thế mạnh rõ hơn theo từng chuyên ngành: Bệnh viện K phát triển sâu về ung bướu; Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức có năng lực mạnh về ghép tạng, ngoại khoa và các can thiệp chuyên sâu; Bệnh viện Bạch Mai có thế mạnh về hồi sức cấp cứu, tim mạch và đột quỵ; Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Hùng Vương nằm trong nhóm cơ sở dẫn đầu về sản phụ khoa và hỗ trợ sinh sản.
Nha khoa, thẩm mỹ và hỗ trợ sinh sản tiếp tục là những nhóm dịch vụ có sức hút nhờ chi phí cạnh tranh và thời gian tiếp cận nhanh, đặc biệt với kiều bào và bệnh nhân đến từ Australia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Lào, Campuchia cùng nhiều thị trường khác.
Nhu cầu chăm sóc da của khách du lịch rất cao.
Quan trọng hơn, những năm gần đây liên tiếp nhiều trường hợp bệnh nhân quốc tế lựa chọn Việt Nam để điều trị các bệnh có yêu cầu kỹ thuật cao.
Khối bệnh viện tư nhân cũng đang góp phần thúc đẩy xu hướng này. Theo số liệu do Hệ thống Y tế Vinmec công bố, năm 2025 lượng khách quốc tế tăng 275% so với năm 2024. 6 tháng đầu năm 2026, lượng khách du lịch y tế tăng 100% so với năm 2025 và khách hàng đến từ 74 quốc gia, vùng lãnh thổ. Các lĩnh vực có thế mạnh gồm phẫu thuật robot, chấn thương chỉnh hình, ung bướu, tim mạch, dị ứng miễn dịch, ghép gan và y học tái tạo.
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh cũng ghi nhận trung bình hơn 10.000 lượt khách quốc tế và kiều bào mỗi năm, tập trung vào các lĩnh vực như ung bướu, phẫu thuật robot và hỗ trợ sinh sản.
Bên cạnh y học hiện đại, Việt Nam còn sở hữu một nền y học cổ truyền có lịch sử lâu đời và mạng lưới rộng. Cả nước hiện có 65 bệnh viện y học cổ truyền công lập, gần 90% bệnh viện y học hiện đại có khoa hoặc tổ y học cổ truyền. Khu vực ngoài công lập có 8 bệnh viện y học cổ truyền tư nhân cùng hơn 6.000 phòng chẩn trị và phòng khám chuyên khoa.
Châm cứu, dưỡng sinh, phục hồi chức năng, dược liệu và các phương pháp kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại có thể trở thành nhóm sản phẩm đặc trưng của Việt Nam nếu được chuẩn hóa về chất lượng, an toàn, bằng chứng khoa học và trải nghiệm dịch vụ.
Xây dựng hệ sinh thái
Song năng lực chuyên môn mới chỉ là một nửa câu chuyện, các quốc gia phát triển mạnh về du lịch y tế trong khu vực có thể chưa vượt trội Việt Nam ở mọi yếu tố riêng lẻ nhưng đi trước khá xa trong cách tổ chức thị trường.
Thái Lan hiện tiếp nhận khoảng 3-3,5 triệu lượt bệnh nhân quốc tế, có thế mạnh về thẩm mỹ, tim mạch, chỉnh hình, hỗ trợ sinh sản và nha khoa. Nước này đã tổ chức chuỗi dịch vụ gắn điều trị với nghỉ dưỡng, bảo hiểm và du lịch đồng thời có cơ chế thị thực phục vụ người sang khám chữa bệnh.
Malaysia tiếp nhận khoảng 1,54 triệu bệnh nhân quốc tế năm 2024 với giá trị kinh tế ước khoảng 640 triệu USD. Malaysia Healthcare Travel Council đóng vai trò như một đầu mối quốc gia, kết nối bệnh viện với doanh nghiệp, thị trường và hoạt động quảng bá.
Singapore tập trung vào phân khúc cao cấp với các bệnh phức tạp như ung thư, tim mạch và thần kinh, xây dựng thương hiệu dựa trên uy tín chuyên môn, tiêu chuẩn nghiêm ngặt, chất lượng dịch vụ và khả năng thanh toán trực tiếp với nhiều hãng bảo hiểm quốc tế.
Hàn Quốc năm 2024 tiếp nhận hơn 1,17 triệu bệnh nhân nước ngoài. Năm 2025, con số vượt 2,01 triệu. Đằng sau tốc độ tăng trưởng này là thương hiệu Medical Korea cùng mạng lưới bệnh viện, doanh nghiệp thu hút bệnh nhân, dịch vụ phiên dịch, nền tảng thông tin và hệ thống dữ liệu theo dõi khá chi tiết từng thị trường.
Du lịch y tế đã mang lại giá trị gia tăng rất cao cho Hàn Quốc.
Điểm chung của các quốc gia phát triển mạnh về du lịch y tế là xây dựng được hệ sinh thái đồng bộ. Bệnh viện không tự tìm kiếm và phục vụ khách quốc tế riêng lẻ mà được kết nối với cơ quan quản lý, doanh nghiệp bảo hiểm, hàng không, lữ hành, ngoại giao và các nền tảng công nghệ. Nhờ đó, người bệnh được hỗ trợ xuyên suốt trong hành trình khám chữa bệnh và nghỉ dưỡng. Đây cũng là khoảng cách lớn mà Việt Nam cần sớm thu hẹp.
Hiện nhiều thành tố của hệ sinh thái đã xuất hiện nhưng kết nối vẫn yếu. Bệnh viện có thể cung cấp dịch vụ tốt nhưng quá trình tìm kiếm thông tin, đặt lịch, thanh toán bảo hiểm, xin thị thực, bố trí phiên dịch, di chuyển và chăm sóc sau điều trị vẫn phụ thuộc nhiều vào từng cơ sở hoặc từng doanh nghiệp riêng lẻ. Cùng đó, khả năng điều phối giữa bệnh viện với doanh nghiệp du lịch và hệ thống cảnh báo y tế hiện chưa phát triển đồng đều.
Bảo hiểm và thanh toán xuyên biên giới cũng là mắt xích then chốt. Thanh toán trực tiếp với các hãng bảo hiểm quốc tế hiện chủ yếu tập trung tại một số bệnh viện tư nhân. Với những ca điều trị có chi phí hàng chục nghìn USD, khả năng bảo lãnh viện phí có thể tác động trực tiếp tới quyết định lựa chọn điểm đến.
Một bệnh viện có chuyên môn cao nhưng không nằm trong mạng lưới của hãng bảo hiểm có thể bị loại khỏi danh sách lựa chọn ngay từ giai đoạn đầu. Vì vậy, ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm, công nghệ tài chính và bệnh viện cần tham gia ngay trong quá trình thiết kế sản phẩm dành cho khách quốc tế.
Thị thực cũng cần được xem như một phần của hành trình điều trị. Nghị quyết 26-NQ/TW yêu cầu nghiên cứu chính sách nhập cảnh thuận lợi và thị thực linh hoạt dành cho những phân khúc khách có khả năng đóng góp cao. Đối với du lịch y tế, thời hạn lưu trú phải phù hợp với phác đồ, người thân đi cùng cần được tạo thuận lợi và những trường hợp phải kéo dài điều trị cần có cơ chế xử lý nhanh.
Từ tiềm năng y khoa đến thương hiệu quốc gia
Nền tảng chính sách cho du lịch y tế đang được hình thành đồng hơn. Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đặt yêu cầu phát triển một số trung tâm y tế chuyên sâu chất lượng cao ngang tầm khu vực và quốc tế, thu hút người nước ngoài khám chữa bệnh tại Việt Nam đồng thời giảm nhu cầu ra nước ngoài điều trị. Nghị quyết 26-NQ/TW tiếp tục mở rộng định hướng này sang phía du lịch, đặt yêu cầu hình thành các trung tâm du lịch y tế, nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đạt chuẩn quốc tế.
Bộ Y tế đang xây dựng Đề án phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030. Theo dự thảo, mục tiêu đến năm 2030 là đón khoảng 750.000 khách du lịch y tế quốc tế, đạt khoảng 1 tỷ USD doanh thu trực tiếp từ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe. Tổng chi tiêu của khách cùng người đi kèm dự kiến đạt khoảng 2,5 tỷ USD. Hệ thống dự kiến có ít nhất 20 bệnh viện đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, phát triển tối thiểu 30 gói du lịch y tế chuẩn hóa, xây dựng cổng thông tin đa ngôn ngữ, cơ sở dữ liệu quốc gia và thương hiệu Vietnam Medical Tourism.
Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh và Khánh Hòa được định hướng triển khai mô hình kết nối bệnh viện với khách sạn, khu nghỉ dưỡng và doanh nghiệp lữ hành. Giai đoạn đầu dự kiến phát triển 10-15 gói dịch vụ kết hợp y tế, du lịch và nghỉ dưỡng, tập trung vào ung bướu, tim mạch, chỉnh hình, y học cổ truyền, tầm soát và phục hồi chức năng.
Theo Tiến sĩ Hà Anh Đức - Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế, du lịch y tế Việt Nam hiện còn gặp nhiều điểm nghẽn mang tính hệ thống, trong đó sự phối hợp giữa y tế và du lịch còn hạn chế, hoạt động quảng bá quốc tế chưa hình thành thương hiệu quốc gia đủ mạnh.
Việt Nam chưa có hệ thống thống kê đầy đủ về quốc tịch bệnh nhân, dịch vụ sử dụng, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, số người đi cùng, tỷ lệ quay lại và các kênh giới thiệu bệnh nhân. Thiếu những dữ liệu này, cơ quan quản lý và doanh nghiệp khó xác định đúng thị trường mục tiêu cũng như đánh giá hiệu quả từng nhóm sản phẩm.
Theo báo cáo của IMARC, doanh thu du lịch y tế Việt Nam năm 2025 khoảng hơn 850 triệu USD với tốc độ tăng trưởng hằng năm khoảng 18% và có khả năng tiến tới quy mô khoảng 4 tỷ USD vào đầu thập kỷ tới. Đây là ước tính thị trường, chưa phải số liệu doanh thu chính thức của Việt Nam nhưng đủ để gợi mở quy mô kinh tế mà lĩnh vực này có thể mang lại.
Muốn biến dư địa đó thành giá trị thực, Việt Nam cần chiến lược định vị thương hiệu thống nhất. Các bệnh viện cần công khai chuyên khoa thế mạnh, chứng nhận chất lượng, kết quả điều trị, quy trình tiếp nhận bệnh nhân nước ngoài, chi phí tham khảo, thời gian chờ và cơ chế chăm sóc sau xuất viện. Những câu chuyện điều trị thành công cũng có thể trở thành bằng chứng thuyết phục nếu được truyền tải chính xác, tôn trọng quyền riêng tư và có sự đồng ý của người bệnh.
Nền tảng số có thể thay đổi cách tiếp cận thị trường. Tư vấn từ xa giúp bệnh nhân gửi hồ sơ trước chuyến đi, nhận ý kiến chuyên gia, dự kiến chi phí và xây dựng kế hoạch điều trị. Sau khi người bệnh trở về nước, cùng một hệ thống có thể tiếp tục duy trì kết nối giữa bác sĩ Việt Nam với bệnh nhân và cơ sở y tế tại nước sở tại.
Việt Nam đang hướng tới xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch y tế. APEC 2027 có thể trở thành cơ hội quan trọng để giới thiệu năng lực này tới cộng đồng quốc tế, bởi một sự kiện quy tụ các đoàn đại biểu cấp cao, doanh nhân và đối tác quốc tế cũng là phép thử thực tế đối với khả năng bảo đảm y tế, cấp cứu, điều phối và chăm sóc sức khỏe của nước chủ nhà.
Nếu hệ thống vận hành hiệu quả, hiệu ứng tạo ra có thể lan sang hợp tác đào tạo, nghiên cứu, đầu tư, chuyển giao công nghệ và thu hút bệnh nhân quốc tế trong nhiều năm tiếp theo.
Việt Nam đã có đội ngũ bác sĩ giỏi, nhiều kỹ thuật chuyên sâu, lợi thế chi phí, một nền y học cổ truyền giàu bản sắc và lượng khách quốc tế tăng nhanh. Nghị quyết 26-NQ/TW mở thêm không gian chính sách để những lợi thế đang nằm rải rác trong hệ thống được đặt vào chiến lược phát triển có quy mô lớn hơn.
Thách thức lớn nhất giờ đây là nối bệnh viện với bảo hiểm, thị thực, hàng không, lữ hành, dữ liệu, cấp cứu, công nghệ và truyền thông thành hệ thống vận hành thống nhất. Chất lượng của từng bệnh viện có thể tạo ra những ca điều trị thành công nhưng sức cạnh tranh quốc gia chỉ xuất hiện khi người bệnh được phục vụ xuyên suốt trong toàn bộ hành trình.
Việt Nam có cơ sở để chuyển năng lực khám chữa bệnh thành ngành dịch vụ có giá trị cao, đồng thời tạo thêm động lực cho mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.