Nghị quyết 79: Doanh nghiệp năng lượng nhà nước đủ mạnh giữ vai trò dẫn dắt

Nghị quyết 79-NQ/TW tạo cơ chế để doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh giữ vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược như quốc phòng, an ninh, năng lượng…

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã mở ra không gian phát triển mới; một trong những nhiệm vụ giải pháp cụ thể đối với doanh nghiệp nhà nước được nêu ra trong nghị quyết là tập trung đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế như quốc phòng, an ninh; năng lượng...

TS. Hà Đăng Sơn chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương.

TS. Hà Đăng Sơn chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương. 

Tạo cú hích cho các doanh nghiệp từ các dự án quy mô lớn

TS. Hà Đăng Sơn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh chia sẻ, trong lĩnh vực năng lượng, cấu trúc và vai trò của các tập đoàn nhà nước đã và đang được nhìn nhận một cách thực chất, trên cơ sở yêu cầu chuyển dịch năng lượng và vận hành theo cơ chế thị trường

Thứ nhất, ngành dầu khí đã chuyển đổi từ vai trò “tập đoàn dầu khí” sang “tập đoàn công nghiệp - năng lượng” với vai trò tiên phong trong chuyển đổi xanh và hội nhập chuỗi toàn cầu. Dầu khí là lĩnh vực chiến lược về an ninh năng lượng do nhà nước quản lý, tư nhân không được trực tiếp tham gia khai thác. Các dự án dầu khí hiện nay chủ yếu do Petrovietnam thực hiện hoặc liên doanh, liên kết với các nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, đối với ngành than, hiện Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đang giữ vai trò chủ đạo trong khai thác và cung ứng than cùng với một số đơn vị như Tổng công ty Đông Bắc. Tuy nhiên trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng toàn cầu, TKV đang đối mặt với thách thức rất lớn bởi tài sản cốt lõi của TKV hiện nay gồm các mỏ than và các nhà máy nhiệt điện than, trong trung và dài hạn đang phải đối mặt rủi ro: Việt Nam và thế giới ngày càng siết chặt các cam kết về tăng trưởng xanh và giảm phát thải.

Ngay trong thực tế vận hành, hiệu quả của các nhà máy nhiệt điện than thuộc TKV cũng chưa cao, và đang phải tìm cách thích ứng với các yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường. Trước bối cảnh đó, TKV buộc phải tính đến các hướng chuyển đổi, chẳng hạn như sản xuất amoniac từ than để tăng hiệu suất sản xuất điện, song đây vẫn là quá trình nhiều rủi ro và chưa rõ hiệu quả dài hạn”- TS. Hà Đăng Sơn cho hay.

Quy mô hệ thống điện Việt Nam đứng thứ 2 khu vực ASEAN về công suất nguồn điện.

Quy mô hệ thống điện Việt Nam đứng thứ 2 khu vực ASEAN về công suất nguồn điện.

TS. Hà Đăng Sơn phân tích, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và TKV cùng tham gia sở hữu nguồn điện, nhưng tổng thị phần của khu vực nhà nước chưa tới 50%. Riêng EVN chiếm khoảng 37%, phần còn lại thuộc PVN (8%) và TKV (2%).

Nếu đặt ra kịch bản, dồn toàn bộ nguồn điện về cho một tập đoàn nhà nước duy nhất, thì chưa chắc đã giải quyết được các vấn đề cốt lõi, thậm chí có thể làm suy giảm cạnh tranh và dẫn tới nguy cơ độc quyền.

Bài học từ lĩnh vực viễn thông cho thấy, việc duy trì nhiều doanh nghiệp nhà nước cùng tham gia thị trường đã tạo ra động lực đổi mới và cạnh tranh tích cực hơn.

Đặc biệt, việc thua lỗ trong ngành điện hiện nay không hẳn là xuất phát từ năng lực nội tại của doanh nghiệp, mà chủ yếu do cơ chế giá bán điện chưa theo thị trường, vẫn mang tính trợ giá. Dù EVN hay bất kỳ doanh nghiệp nào khác quản lý các nhà máy điện, nếu giá đầu ra không phản ánh đúng chi phí, thì thua lỗ là điều khó tránh. Đây chính là lý do khu vực tư nhân luôn đòi hỏi giá mua điện đủ cao, các điều khoản hợp đồng thể hiện tính ổn định khi tham gia đầu tư các dự án điện gió, điện mặt trời, điện khí….

TS. Hà Đăng Sơn cho rằng, Nhà nước cần duy trì các doanh nghiệp chủ lực, nhưng phải đáp ứng các tiêu chí quản trị hiện đại và năng lực cạnh tranh quốc tế. Trong đó, yêu cầu then chốt là minh bạch hóa thông tin, công bố báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo ESG theo chuẩn mực quốc tế, tiệm cận các tiêu chí OECD.

Thực tế cho thấy, rất ít doanh nghiệp nhà nước đáp ứng được các chuẩn mực này. Trong lĩnh vực năng lượng, Petrovietnam là đơn vị có nền tảng tốt hơn trong tiếp cận chuẩn quốc tế, còn EVN dù đạt nhiều tiêu chí xếp hạng cao trong khu vực cũng như tiến bộ đáng kể trong cải thiện xếp hạng tín nhiệm tài chính (từ BB năm 2020 lên BB+ năm 2025) nhưng năng lực tài chính còn hạn chế, nhất là chưa giải quyết triệt để được khoản "lỗ chính sách", khiến khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế gặp khó khăn.

Do đó, hướng đi phù hợp với tinh thần Nghị quyết 79 là tiếp tục giao cho EVN và Petrovietnam những dự án năng lượng quy mô lớn, từ điện gió ngoài khơi, điện hạt nhân đến các dự án tỷ USD để tăng quy mô tài sản, tăng năng lực tài chính. Đổi lại, các tập đoàn này phải đáp ứng yêu cầu minh bạch, quản trị theo chuẩn quốc tế để tiếp cận hiệu quả nguồn vốn toàn cầu.

Dự án điện gió Bạc Liêu Phase 3-141MW.

Dự án điện gió Bạc Liêu Phase 3-141MW.

Minh bạch nhiệm vụ chính trị và trách nhiệm xã hội

Mục tiêu của Nghị quyết 79 đến năm 2030: “Tiếp tục xã hội hóa mạnh mẽ việc cung cấp dịch vụ công; tinh gọn đầu mối, chỉ giữ lại các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công cơ bản, thiết yếu”, nhằm phân định rõ ranh giới giữa dịch vụ công thiết yếu và dịch vụ có thể xã hội hóa.

TS. Hà Đăng Sơn cho hay, nhiều hạ tầng năng lượng đã hết thời gian khấu hao nhưng vẫn tiếp tục vận hành; vẫn tạo ra doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Phần “lợi thế khấu hao” này, trên thực tế, đã trở thành nguồn lực để bù giá, trợ giá, thực hiện các nhiệm vụ xã hội, thậm chí góp phần tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp nhà nước.

Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại 1 đã vận hành trên 40 năm. Ảnh: minh họa

Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại 1 đã vận hành trên 40 năm. Ảnh: minh họa

“Nếu tất cả tài sản kể cả đã hết khấu hao và chưa hết khấu hao bị 'trộn chung vào một rổ', thì chi phí sản xuất vận hành sẽ bị che mờ, báo cáo tài chính không phản ánh đúng tín hiệu thị trường cũng như năng lực quản trị của doanh nghiệp. Có thể xảy ra tình trạng, lấy phần 'lãi chắc chắn' từ tài sản đã hết khấu hao để bù cho những mảng hoạt động chưa hiệu quả, tạo ra cảm giác không lỗ, nhưng thực chất lại nuôi dưỡng sự trì trệ và thiếu minh bạch” - TS. Hà Đăng Sơn phân tích.

Đồng thời đề xuất, cần kiểm đếm, kiểm toán và đánh giá lại toàn bộ tài sản một cách đầy đủ, rồi tách bạch rõ ràng: nhóm tài sản đã hết khấu hao nhưng còn sử dụng tốt nên được hạch toán riêng, coi như một nguồn lực đặc thù để phục vụ các nhiệm vụ vận hành - xã hội - dịch vụ công là những phần phi thị trường, thay vì hòa chung vào hiệu quả kinh doanh.

Nhóm tài sản chưa hết khấu hao, phải báo cáo riêng về chi phí, hiệu suất, chỉ tiêu vận hành… để nhìn thẳng vào năng lực quản trị thực chất của doanh nghiệp ở phần tài sản này.

Theo TS. Hà Đăng Sơn, đây cũng chính là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu minh bạch hóa, tách rõ phần phi thị trường và phần thị trường, để tránh tạo ra cạnh tranh méo mó, không tuân thủ nguyên tắc thị trường.

Khi tính minh bạch được nâng lên, doanh nghiệp sẽ có khả năng tiếp cận vốn vay, đặc biệt là nguồn vốn tốt. Nhà tài trợ khi nhìn vào hệ thống chỉ tiêu rõ ràng, minh bạch, họ sẽ đánh giá được rủi ro, năng lực quản trị và tính bền vững tài chính.

Hiện TKV đang giữ vai trò chủ đạo trong khai thác và cung ứng than. Ảnh: XLM

Hiện TKV đang giữ vai trò chủ đạo trong khai thác và cung ứng than. Ảnh: XLM

Đánh giá chung, ông Hà Đăng Sơn cho rằng, trong bài toán an ninh năng lượng quốc gia hiện nay có thể hình dung ba cột trụ chính sách đi cùng nhau. Thứ nhất, Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị sẽ là trục chỉ đạo quan trọng nhất, đặt ra yêu cầu ưu tiên các dự án trọng điểm để bảo đảm an ninh năng lượng và cơ chế xử lý các “điểm nghẽn” của nhiệm vụ này.

Thứ hai, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị sẽ tạo hành lang để khu vực tư nhân tham gia, được tạo điều kiện bình đẳng hơn, qua đó chia sẻ gánh nặng đầu tư với khu vực nhà nước.

Thứ ba, Nghị quyết 79 “gỡ cơ chế” cho doanh nghiệp nhà nước, giúp họ có năng lực thực thi Nghị quyết 70 trong vai trò đầu tàu về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; đồng thời cạnh tranh sòng phẳng với khu vực tư nhân.

TS. Hà Đăng Sơn nhìn nhận, nếu tách rời từng nghị quyết, sẽ không thấy được bức tranh đầy đủ. Bởi thực tế, khu vực tư nhân theo logic thị trường sẽ không làm những việc rủi ro cao hoặc lợi nhuận thấp. Do đó, Nghị quyết 79 xuất hiện đúng lúc để tháo “nút thắt” cho khối doanh nghiệp nhà nước. Những việc tư nhân né tránh thì Nhà nước vẫn phải làm, nhưng phải làm theo cách mới, có cơ chế tách rủi ro, tách nghĩa vụ, loại bỏ bù chéo, từ đó phần kinh doanh còn lại sẽ vận hành đúng nguyên tắc thị trường.

Theo TS. Hà Đăng Sơn, “dẫn dắt” theo tinh thần Nghị quyết 79 là dám đi trước, dám thử nghiệm, dám nhận phần khó kể cả những mô hình mới mà tư nhân chưa dám làm vì rủi ro. Doanh nghiệp nhà nước phải là lực lượng tiên phong triển khai trước, rút ra bài học để Nhà nước hoàn thiện chính sách, từ đó mới thu hút được tư nhân tham gia trên quy mô lớn.

Có thể bạn quan tâm

Thu Hường
Bình luận