Chủ trương đúng nhưng “độ chạm” chưa đồng đều
Sau gần một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW, khu vực kinh tế tư nhân có thêm nền tảng pháp lý và tinh thần quan trọng. Việc khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế đã tạo hiệu ứng tích cực, củng cố niềm tin và khát vọng đầu tư dài hạn. Tuy nhiên, từ thực tiễn sản xuất – kinh doanh, nhiều doanh nghiệp cho rằng “độ chạm” của chính sách vẫn chưa thật sự sâu và đồng đều.

Ngành dệt may đứng trước nhiều thách thức trong thực hiện “Chiến lược phát triển ngành dệt may và da giày Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035”. Ảnh minh họa
Doanh nhân Phạm Văn Việt - Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Việt Thắng Jean nhận định, Nghị quyết số 68-NQ/TW có ý nghĩa định hướng và khích lệ tinh thần rất rõ, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Trung ương trong thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân. Nhưng ở khâu tổ chức thực hiện, vẫn còn lúng túng, thiếu đồng bộ, khiến doanh nghiệp chưa cảm nhận được tác động trực tiếp đủ mạnh.
Ông Việt chia sẻ, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, đặc biệt ở ngành thâm dụng lao động như dệt may, chuyển đổi số và tự động hóa là con đường tất yếu để nâng cao năng suất. Nếu làm 4.0 thực sự, doanh nghiệp phải đầu tư đồng bộ: số hóa máy móc, tích hợp phần mềm quản trị, dữ liệu tập trung để phân tích và tối ưu hóa. Hiệu quả là rất rõ: một chuyền may truyền thống cần hơn 50 lao động với sản lượng khoảng 1.200 - 1.300 sản phẩm; khi đầu tư hiện đại, sản lượng có thể tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba, độ ổn định cao hơn.
Nhưng đây không phải câu chuyện “thay vài thiết bị” mà là thay đổi toàn bộ hệ thống vận hành. Và như thế, chi phí đầu tư cũng tăng theo cấp số nhân. Một chuyền may truyền thống chỉ khoảng 1,5 tỷ đồng. Nếu tự động hóa đồng bộ, chi phí có thể lên gần 1 triệu USD. Với dây chuyền lớn, tổng vốn đầu tư có thể lên tới hàng chục triệu USD, vượt xa khả năng tích lũy của nhiều doanh nghiệp trong bối cảnh biên lợi nhuận ngành thấp. Vốn vì thế trở thành “điểm nghẽn” then chốt.
Một số địa phương đã có chính sách hỗ trợ, tuy nhiên, điều kiện tiếp cận khá khắt khe; doanh nghiệp phải chứng minh hiệu quả và khả năng hoàn vốn rõ ràng, đây là điều không dễ với ngành sản xuất theo đơn hàng và lợi nhuận mỏng.
Bên cạnh đầu tư máy móc, doanh nghiệp còn phải đào tạo lại lao động, thay đổi quy trình quản trị, chuyển đổi nhận thức. Chuyển đổi số là quá trình dài hơi, tốn kém cả về tài chính lẫn thời gian. Nếu vừa yêu cầu tăng trưởng cao, vừa siết điều kiện tài chính, doanh nghiệp rất khó xoay xở.
Ngoài vốn, vấn đề thuế và hoàn thuế cũng được phản ánh là điểm nghẽn lớn. Với doanh nghiệp xuất khẩu, dòng tiền phải quay vòng nhanh. Hoàn thuế chậm đồng nghĩa vốn bị “giam” trong thủ tục.
Trong một số trường hợp, nếu đối tác ngừng hoạt động hoặc có vấn đề pháp lý, doanh nghiệp liên quan có thể bị rà soát kéo dài. Có doanh nghiệp chỉ khi làm thủ tục hải quan mới biết mình đang bị “treo” vì nợ thuế. Nếu có cơ chế cảnh báo sớm và thời gian xử lý hợp lý, rủi ro sẽ giảm đáng kể.
“Doanh nghiệp không né tránh nghĩa vụ, nhưng cần thời gian và sự linh hoạt. Khi dòng tiền bị tắc ở khâu thủ tục, rất khó mở rộng sản xuất”, ông Việt nói.
TS. Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay của Nghị quyết số 68 nằm ở khâu tổ chức thực thi.
Nhiều chủ trương của nghị quyết đã được cụ thể hóa, nhưng khi đi vào thực tế lại phát sinh độ trễ và thiếu thống nhất. Có nơi chậm ban hành văn bản hướng dẫn; có nơi mỗi cơ quan hiểu quy định theo một cách khác nhau.
Đáng chú ý, vẫn còn tình trạng “trên nóng – dưới lạnh” khiến doanh nghiệp phải chờ đợi, xin ý kiến vòng vo, làm tăng chi phí cơ hội. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhóm nhạy cảm với rủi ro chính sách, chỉ cần thủ tục kéo dài là có thể phải hoãn đầu tư.
Bên cạnh đó, việc xử lý sai sót hành chính thiếu linh hoạt cũng tạo tâm lý bất an. Cán bộ sợ sai, doanh nghiệp sợ rủi ro pháp lý; hệ quả là cả hai bên đều thận trọng quá mức, làm chậm quá trình ra quyết định.
Thực tế này cũng được nêu trong Thông báo số 72/TB-VPCP ngày 9/2/2026 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng tại Phiên họp lần thứ tư Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW: Vẫn còn nhiệm vụ chậm tiến độ; môi trường đầu tư – kinh doanh còn rào cản; thủ tục một số lĩnh vực phức tạp; tình trạng gây khó khăn cho doanh nghiệp chưa được khắc phục triệt để; doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khó tiếp cận vốn, đất đai.
Lực bật cần được tiếp sức bằng cải cách thực chất
Ở góc độ doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, ông Phan Minh Thông, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Phúc Sinh Group cho rằng, để Nghị quyết số 68-NQ/TW thực sự tạo cú hích, các nghị định và quy định hướng dẫn phải cụ thể, rõ ràng và khả thi.

Doanh nghiệp đề xuất thay đổi cách tiếp cận tín dụng, coi dòng tiền và hiệu quả kinh doanh là cơ sở quan trọng khi xét cho vay, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản thế chấp. Ảnh minh họa
Trọng tâm là các chính sách hỗ trợ thiết thực: tiếp cận vốn linh hoạt hơn, hoàn thuế kịp thời, thủ tục đầu tư - xây dựng – an toàn thực phẩm minh bạch, truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Môi trường bình đẳng và có thể dự đoán mới giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Ông Phan Minh Thông đề xuất, cần thay đổi cách tiếp cận tín dụng, coi dòng tiền và hiệu quả kinh doanh là cơ sở quan trọng khi xét cho vay, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản thế chấp. Những dự án khả thi, có tiềm năng mở rộng thị trường cần được ưu tiên tiếp cận vốn.
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội nhấn mạnh thêm, cải cách thủ tục hành chính không chỉ đo bằng số văn bản cắt giảm, mà phải đo bằng thời gian xử lý thực tế, chi phí tuân thủ và mức độ hài lòng của doanh nghiệp. Điều kiện tiên quyết là kỷ luật thực thi và trách nhiệm giải trình gắn với người đứng đầu.
Bài học kinh nghiệm được chỉ ra là nắm chắc tình hình doanh nghiệp để phản ứng chính sách kịp thời; coi sự phát triển của kinh tế tư nhân là lợi ích trực tiếp của địa phương; kết hợp hài hòa sức mạnh Nhà nước và tư nhân, trong nước và quốc tế.
Rõ ràng, sau gần một năm, Nghị quyết 68 đã tạo lực bật về nhận thức và thể chế cho khu vực tư nhân. Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn tính chuyện đầu tư dài hạn, mở rộng quy mô.
Tuy nhiên, lực bật đó cần được tiếp sức bằng cải cách thực chất ở khâu thực thi. Nếu vốn vẫn khó tiếp cận, hoàn thuế còn chậm, thủ tục còn chồng chéo và tâm lý sợ trách nhiệm chưa được tháo gỡ, thì chủ trương lớn khó phát huy tối đa hiệu quả.
Doanh nghiệp không chỉ cần ưu đãi, mà cần môi trường ổn định, minh bạch và có thể dự đoán. Khi dòng tiền được lưu thông, chi phí tuân thủ giảm và quyền kinh doanh được bảo đảm rõ ràng, khu vực tư nhân mới có thể đầu tư mạnh mẽ, trở thành động lực tăng trưởng đúng như kỳ vọng.
Lực bật đã có, vấn đề còn lại là tháo gỡ điểm nghẽn, để Nghị quyết số 68-NQ/TW không dừng ở tinh thần, mà thực sự trở thành “đòn bẩy” thể chế cho một giai đoạn phát triển mới của kinh tế tư nhân.



