
Trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức, công nghệ vũ trụ không còn là lĩnh vực khoa học thuần túy mà đang trở thành hạ tầng dữ liệu, là nền tảng cho quản trị quốc gia, phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chiến lược phát triển và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2030 của Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ công nghệ vệ tinh quỹ đạo thấp và ứng dụng dữ liệu vệ tinh phục vụ kinh tế - xã hội. Đồng thời, Nghị quyết số 57-NQ/TW (Nghị quyết 57) của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc giavà Quyết định số 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đưa công nghệ vũ trụ vào nhóm các công nghệ chiến lược quốc gia, khẳng định vai trò đặc biệt của lĩnh vực này.

Vào những ngày làm việc cuối cùng của năm Ất Tỵ, chúng tôi đã có dịp đến với Khu công nghệ cao Hòa Lạc, chia sẻ với phóng viên, PGS.TS Phạm Anh Tuấn – Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC) cho biết, VNSC từng bước đi vào hoạt động đúng thời điểm Nghị quyết 57-NQ/TW được ban hành, Nghị quyết như một “luồng sinh khí mới” là "ngọn đuốc soi đường", định hướng đưa khoa học, công nghệ về đúng vị thế, tạo động lực bứt phá mạnh mẽ.
PGS.TS Phạm Anh Tuấn chia sẻ, đội ngũ làm khoa học, công nghệ vũ trụ rất vui mừngkhi Nghị quyết 57 được ban hành, trong đó xác định công nghệ vũ trụ là công nghệ chiến lược của quốc gia. Trong các “không gian chiến lược”như: không gian biển, không gian ngầm, không gian mạng…, thìkhông gian vũ trụ ngày càng trở thành mặt trận cạnh tranh mới, không chỉ về khoa học mà còn về năng lực quản trị, dữ liệu và sức mạnh quốc gia.

Sau Nghị quyết 57, Quyết định số 1131 của Chính phủ đã xác định 11 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, trọng điểm, trong đó lĩnh vực vũ trụ có 3 sản phẩm được lựa chọn gồm: Vệ tinh nhỏ quỹ đạo thấp; hệ thống trạm mặt đất; máy bay không người lái UAV. “Đây là cách tiếp cận đúng vì với tiềm lực kinh tế hiện nay, Việt Nam không thể bao trùm tất cả các mảng công nghệ vũ trụ”, ông nói.
Theo phân tích của PGS.TS Phạm Anh Tuấn, Việt Nam không thể cạnh tranh trực diện ở những “đấu trường” đòi hỏi nguồn lực khổng lồ như vệ tinh viễn thông cỡ lớn, vệ tinh địa tĩnh, hay hệ thống định vị toàn cầu. Việc tập trung vào vệ tinh nhỏ quỹ đạo thấp nhằm tiến tới hình thành chùm vệ tinh quan sát Trái đất.
PGS.TS Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh quan điểm: “Không thể mãi đi mua vệ tinh, mua dữ liệu, mà phải từng bước làm chủ công nghệ, trước hết ở phân khúc vệ tinh nhỏ, vừa phù hợp năng lực, vừa đáp ứng nhu cầu cấp bách của quản trị tài nguyên, môi trường, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội”.

Giá trị cốt lõi của việc phát triển chùm vệ tinh là nhằm tạo ra dữ liệu viễn thám của Việt Nam, trong bối cảnh AI và chuyển đổi số thì dữ liệu là điều kiện tiên quyết. Dữ liệu quan sát Trái đất ứng dụng được cho rất nhiều lĩnh vực, từ an ninh quốc gia đến quy hoạch đất đai, giám sát rừng, giám sát môi trường, theo dõi biến động thiên tai…
Ông ví von: “Dữ liệu vệ tinh mới chỉ là dầu thô. Muốn dùng được cho từng ngành thì phải chế biến, tức là xử lý dữ liệu, xây dựng phần mềm, mô hình ứng dụng riêng cho nông nghiệp, môi trường, giao thông, an ninh…”.

Mặc dù lĩnh vực khoa học vũ trụ đã được Việt Nam tiếp cận từ rất sớm bắt đầu từ năm 1978 và năm 1980 với dấu ấn Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Tuân bay vào vụ trụ. Tuy nhiên, theo GS. Trần Tuấn Anh – Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, chúng ta mới đang ở giai đoạn từng bước mở rộng hợp tác quốc tế theo hướng thực chất, tập trung vào những lĩnh vực phù hợp với nhu cầu và năng lực hiện có như quan sát Trái đất, dữ liệu vệ tinh và phát triển vệ tinh nhỏ quỹ đạo tầm thấp.
“So với các quốc gia có ngành công nghiệp vũ trụ phát triển, chúng ta vẫn còn khoảng cách đáng kể, nhưng có thuận lợi là nhu cầu ứng dụng rõ ràng và nền tảng hợp tác ngày càng đa dạng với các đối tác trong khu vực và thế giới”- GS. Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Theo GS. Trần Tuấn Anh, Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo động lực đổi mới mạnh về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, còn Quyết định số 1131/QĐ-TTg của Chính phủ về danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược khẳng định công nghệ vệ tinh là sản phẩm công nghệ chiến lược. Đây là nền tảng chính sách quan trọng để Việt Nam tổ chức hợp tác theo hướng dài hạn, có trọng tâm và có cơ chế triển khai rõ ràng.
Viện Hàn lâm đã chỉ đạo Trung tâm Vũ trụ Việt Nam làlực lượng nòng cốt, chủ động duy trì và mở rộng hợp tác với nhiều đối tác có trình độ công nghệ cao như Nhật Bản, Pháp, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và các đối tác châu Âu, đồng thời tham gia các cơ chế hợp tác chuyên ngành quốc tế.

Theo GS. Trần Tuấn Anh, để tận dụng cơ hội và rút ngắn khoảng cách công nghệ, ưu tiên là hợp tác gắn với chuyển giao tri thức, tiêu chuẩn và quy trình, thay vì chỉ dừng ở dự án đơn lẻ. Cách tiếp cận phù hợp là lựa chọn các cấu phần có thể làm chủ theo lộ trình, triển khai đồng phát triển theo mô-đun, đồng thời tăng cường đào tạo nhân lực gắn với nhiệm vụ thực tiễn.
Bên cạnh đó, cần coi dữ liệu là đầu ra quan trọng của hợp tác, tập trung chuẩn hóa sản phẩm, nâng năng lực xử lý và kiểm soát chất lượng, và tổ chức cơ chế khai thác phù hợp để dữ liệu vệ tinh được sử dụng thường xuyên, tạo động lực duy trì và nâng cấp năng lực công nghệ.

Chia sẻ thêm với phóng viên, PGS.TS Phạm Anh Tuấn cho biết, thông qua hợp tác quốc tế, tiềm lực công nghệ vũ trụ trong nước đã bước đầu đượchình thành với các dự án vệ tinh như VNREDSat-1, PicoDragon, MicroDragon, NanoDragon và sắp tới là LOTUSat-1. Việt Nam đang từng bước khẳng định năng lực thiết kế, tích hợp và vận hành các vệ tinh nhỏ. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại tại VNSCđã hoàn thiện chuỗi kỹ thuật bao gồm trạm thu tín hiệu, trung tâm điều hành, phòng tích hợp và kiểm thử vệ tinh. Hơn 100 cán bộ trẻ được đào tạo bài bản trong nước và nước ngoài đang làm chủ các công đoạn kỹ thuật quan trọng. Đáng chú ý, doanh nghiệp tư nhân cũng bắt đầu tham gia vào hệ sinh thái công nghệ vũ trụ, mở ra triển vọng đa dạng hóa nguồn lực phát triển.
Theo đó, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam đã xác định lộ trình tự chủ thiết kế, từng bước tự chủ công nghệ chế tạo vệ tinh, xây dựng roadmap phát triển vệ tinh từ nhỏ đến lớn, bắt đầu từ vệ tinh cỡ 1 kg, 4 kg, 50 kg… tiến dần lên các vệ tinh lớn hơn.

Ông dẫn chứng, năm 2013,vệ tinh siêu nhỏ mang tên PicoDragon có khối lượng 1kg được phát triển bởi các nghiên cứu viên và kỹ sư trẻ của VNSC, đã được phóng thành công vào quỹ đạo từ Trạm Vũ trụ Quốc tế, những năm tiếp theo chúng ta cũng đã làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo và phóng thành công các vệ tinh NanoDragon (dưới10 kg), MicroDragon (khoảng 50 kg) và sắp tới là vệ tinh LOTUSat-1 có trọng lượng 570 kg dự kiến được phóng trong năm 2026.

“Điều quan trọng không phải vệ tinh bé hay to, mà là làm chủ quy trình, công nghệ, chúng ta phải xác định nhiệm vụ, thiết kế hệ thống, tích hợp rồi thử nghiệm, chuẩn bị phóng và vận hành khai thác dữ liệu”- PGS.TS Phạm Anh Tuấn chia sẻ.
Từ nền tảng đó, ông khẳng định, VNSC tự tin giai đoạn đến 2030 có thể phát triển các vệ tinh dưới 100 kgvà khi hoàn thiện hạ tầng thử nghiệm, tích hợp trong nước, năng lực tự chủ sẽ được nâng lên rõ rệt.

Đến nay, sau nhiều năm chuẩn bị, VNSC đã hình thành cơ sở vật chất quy mô lớn, hướng tới năng lực tích hợp đồng bộ, từ nghiên cứu – thiết kế – tích hợp – thử nghiệm – vận hành điều khiển vệ tinh. Các hạng mục trọng tâm như phòng lắp ráp, thử nghiệm vệ tinh (dưới 200 kg), các hệ thống thử nghiệm môi trường (buồng mô phỏng điều kiện vũ trụ, hệ thống rung…) sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào việc phải mang vệ tinh ra nước ngoài để thử nghiệm như trước đây.
Công nghệ vũ trụ đã bước ra khỏi phòng thí nghiệm, trở thành “hạ tầng vô hình” thiết yếu cho tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Dữ liệu vệ tinh tích hợp thông tin không gian, thời gian và vị trí phục vụ đa dạng nhu cầu từ gọi xe, giao hàng đến quản lý rừng, quy hoạch đô thị, cảnh báo thiên tai... Khi dữ liệu vệ tinh được chia sẻ và khai thác rộng rãi sẽ là nguồn nguyên liệu cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy phát triển các mô hình kinh doanh và dịch vụ số mới.

Bài 2: Từ công nghệ vũ trụ đến động lực tăng trưởng quốc gia


