Nghị quyết 253 tạo đột phá chưa từng có cho phát triển năng lượng

Nghị quyết 253 được đánh giá là chưa có tiền lệ, với nhiều chính sách đột phá, thể hiện dấu ấn rõ nét của Bộ Công Thương trong tháo gỡ điểm nghẽn thể chế.

Từ Nghị quyết 70 đến yêu cầu ban hành cơ chế đặc thù

Trong bối cảnh an ninh năng lượng quốc gia đứng trước nhiều thách thức mới, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 253 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. Đây được xem là một nghị quyết có tính chất đặc biệt, chưa từng có tiền lệ, nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài nhiều năm trong lĩnh vực năng lượng, từ quy hoạch, đầu tư đến cơ chế giá và lựa chọn nhà đầu tư.

Ông Nguyễn Mạnh Cường - Phòng Kế hoạch và Quy hoạch, Cục Điện lực (Bộ Công Thương). Ảnh: P.C

Ông Nguyễn Mạnh Cường - Phòng Kế hoạch và Quy hoạch, Cục Điện lực (Bộ Công Thương). Ảnh: P.C

Tại Diễn đàn “Hiện thực hóa các mục tiêu tại Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia", trình bày tổng quan về Nghị quyết 253, làm rõ bối cảnh ra đời cũng như những điểm mới mang tính đột phá của chính sách, ông Nguyễn Mạnh Cường - Phòng Kế hoạch và Quy hoạch, Cục Điện lực (Bộ Công Thương) thông tin, ngày 20/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 70 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, tầm nhìn đến năm 2030 và 2045. Đây là một trong bảy nghị quyết trụ cột, mang ý nghĩa chiến lược, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng trong lĩnh vực năng lượng.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 55, lĩnh vực năng lượng vẫn tồn tại nhiều bất cập lớn như chính sách pháp luật về phát triển năng lượng còn nhiều hạn chế; cơ chế huy động nguồn lực chưa kịp thời; quy hoạch điều chỉnh thiếu linh hoạt; thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp.

Một trong những điểm nghẽn nổi bật là Luật Quy hoạch hiện hành chưa có cơ chế điều chỉnh linh hoạt, dẫn đến nhiều dự án năng lượng không thể cập nhật, điều chỉnh kịp thời, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ triển khai. Hằng năm, Bộ Công Thương nhận được rất nhiều kiến nghị của địa phương và nhà đầu tư xin tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch nhưng không thể xử lý triệt để do rào cản pháp lý.

Bên cạnh đó, việc chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư, đặc biệt trong giai đoạn 2021 - 2024, cũng trở thành điểm nghẽn lớn đối với các dự án nguồn và lưới điện. Nhiều địa phương lúng túng trong thẩm định hồ sơ, dẫn đến cách hiểu và cách làm khác nhau, gây khó khăn cho nhà đầu tư.

Từ thực tiễn đó, Nghị quyết 70 đã đặt ra nhiệm vụ, trong trường hợp cần thiết, trình Quốc hội ban hành nghị quyết riêng về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn để phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. Nghị quyết 253 ra đời trong bối cảnh đó.

Điểm mới đột phá về quy hoạch và phân cấp thẩm quyền

Nghị quyết 253 gồm 16 Điều, trong đó quy định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Một điểm đáng lưu ý là nghị quyết không áp dụng đối với các dự án thuộc phạm vi xử lý của Ban Chỉ đạo 751, tức là các dự án tồn đọng, khó khăn kéo dài sẽ được xử lý theo cơ chế riêng.

Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, một trong những điểm mới quan trọng nhất của Nghị quyết 253 là cơ chế điều chỉnh, cập nhật quy hoạch phát triển năng lượng. Việc điều chỉnh này được thực hiện theo nguyên tắc không làm thay đổi quan điểm, mục tiêu lớn của quy hoạch, không làm tăng tổng công suất lắp đặt theo cơ cấu nguồn điện đã được phê duyệt.

Nghị quyết 253/2025/QH15 là bước chuyển trong tư duy lập pháp về chính sách năng lượng. Ảnh minh hoạ

Nghị quyết 253/2025/QH15 là bước chuyển trong tư duy lập pháp về chính sách năng lượng. Ảnh minh hoạ

Nghị quyết cho phép điều chỉnh, cập nhật quy hoạch trong một số trường hợp cụ thể. Theo đó, cập nhật theo các hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và các quốc gia đối tác, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã và đang liên kết lưới điện với một số nước trong khu vực. Thứ hai, cho phép điều chỉnh các dự án nguồn điện, bao gồm cả năng lượng tái tạo và pin lưu trữ, với các nội dung như tên gọi, quy mô công suất, tiến độ, địa danh hành chính.

Đáng chú ý, Nghị quyết 253 cho phép bổ sung dự án nguồn điện để thay thế các dự án chậm tiến độ hoặc không triển khai, tránh tình trạng giữ chỗ quy hoạch nhưng không thực hiện. Đồng thời, việc bổ sung dự án pin lưu trữ được coi là giải pháp nâng cao khả năng vận hành an toàn, ổn định của hệ thống điện.

Về thẩm quyền, Nghị quyết 253 thể hiện rõ tinh thần phân cấp, phân quyền. Thẩm quyền điều chỉnh, cập nhật quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia được giao cho Bộ trưởng Bộ Công Thương; đối với các dự án thuộc quy hoạch tỉnh, thẩm quyền thuộc Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Một điểm mới mang tính đột phá khác của Nghị quyết 253 là cơ chế đầu tư xây dựng các dự án lưới điện. Theo đó, các dự án đầu tư kinh doanh lưới điện trong quy hoạch phát triển điện lực và quy hoạch tỉnh không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, qua đó rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị dự án.

Nghị quyết cũng làm rõ hai trường hợp: dự án không thuộc diện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thì quy hoạch được phê duyệt là căn cứ pháp lý để thực hiện các thủ tục tiếp theo; trường hợp phải đấu thầu, kết quả đấu thầu là cơ sở triển khai.

Đối với lựa chọn nhà đầu tư, Nghị quyết 253 bổ sung 5 trường hợp được chấp thuận nhà đầu tư không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất. Trong đó có các dự án trung tâm điều khiển hệ thống điện quốc gia, các dự án điện gió ngoài khơi, dự án nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất hợp pháp và trường hợp dự án cấp bách nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Đáng chú ý, Khoản 2 và 3 Điều 6 cho phép Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định chấp thuận nhà đầu tư là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trong trường hợp các nhà đầu tư tư nhân không quan tâm đầu tư lưới điện truyền tải. Đây được xem là giải pháp quan trọng để tránh tình trạng “có nguồn điện nhưng thiếu lưới truyền tải”.

Nghị quyết 253 cũng có những quy định mới về cơ chế giá điện. Theo Điều 8, giá điện trúng thầu chính là giá hợp đồng mua bán điện và không cao hơn khung giá đấu thầu, đồng thời thời gian đàm phán không quá 30 ngày. Đối với hầu hết các dự án đã có khung giá, nhà đầu tư không phải đàm phán lại giá điện, chỉ đàm phán các nội dung thương mại.

Về điện hạt nhân mô đun nhỏ, Nghị quyết 253 bổ sung cơ chế khuyến khích cả khu vực nhà nước và tư nhân tham gia nghiên cứu, đầu tư, từng bước thể chế hóa chủ trương của Nghị quyết 70.

Đối với điện gió ngoài khơi, nghị quyết phân định rõ cơ chế theo từng giai đoạn. Khoảng 6.000 MW đầu tiên giai đoạn 2025 - 2030 thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ, với giá điện không vượt khung giá tối đa. Giai đoạn 2031 - 2035, thẩm quyền chấp thuận được phân cấp về cho UBND cấp tỉnh, trên cơ sở lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan.

Một nội dung đáng chú ý khác là cơ chế mua bán điện trực tiếp. Nghị quyết 253 mở rộng đối tượng tham gia, bao gồm khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu đô thị và khu thương mại tự do. Giá hợp đồng mua bán điện được các bên tự thỏa thuận, tôn trọng quyền mua và bán.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/3/2026 đến hết 31/12/2030. Các dự án đã phát hành hồ sơ mời thầu trong thời gian nghị quyết có hiệu lực tiếp tục được thực hiện theo quy định. Trường hợp có sự khác nhau giữa Nghị quyết 253 và các luật khác, ưu tiên áp dụng quy định của nghị quyết, trừ khi văn bản pháp luật mới có ưu đãi cao hơn.

Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết số 253 trên cơ sở đề xuất của Chính phủ, với tham mưu của Bộ Công Thương, thể hiện rõ quyết tâm của Bộ Công Thương trong việc từng bước hiện thực hóa các nhiệm vụ, chủ trương lớn của Đảng đã đề ra tại Nghị quyết 70.

Dự kiến ngày 29/1, Báo Công Thương tổ chức “Diễn đàn hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030”, góp phần cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030.

Diễn đàn có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia và doanh nghiệp…, tập trung bàn giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, huy động nguồn lực và thúc đẩy các lĩnh vực then chốt góp phần đưa Nghị quyết vào cuộc sống.

Phương Cúc

Có thể bạn quan tâm

Bình luận