![]() |
Doanh nghiệp dược Việt Nam đầu tư công nghệ hiện đại sẵn sàng tham gia sân chơi thế giới. |
Ông đánh giá thế nào về những tác động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với ngành dược Việt Nam?
Với Hiệp định TPP, tăng trưởng của lĩnh vực thuốc chữa bệnh có thể lên đến hơn 20%/năm từ nay đến năm 2017 với chi tiêu cho dược phẩm bình quân đầu người của Việt Nam là khoảng 200USD/năm.
Tuy nhiên, đây cũng sẽ là một trong những lĩnh vực chịu cạnh tranh lớn nhất khi Việt Nam tham gia vào TPP. Giống như một số Hiệp định thương mại khác, TPP sẽ làm tăng doanh số nhập khẩu thuốc của Việt Nam. Theo Hiệp định TPP, dược phẩm sẽ giảm thuế từ mức hiện tại khoảng 2,5% về 0%. Điều này sẽ làm tăng xu hướng cạnh tranh từ các DN nước ngoài, trong đó sẽ thiên hơn về các DN sản xuất thuốc gốc so với thuốc generic.
Đang có rất nhiều hãng dược lớn nước ngoài vào Việt Nam để đón TPP và các DN dược trong nước sẽ phải đối diện với một cuộc cạnh tranh khốc liệt. Các thương hiệu dược Việt Nam cần phải làm gì để đối phó với các DN nước ngoài “khủng” về công nghệ, tài chính?
![]() |
Ông Nguyễn Thanh Bình - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dược phẩm CPC1 Hà Nội: Chúng tôi cũng mong Nhà nước có những chính sách để hỗ trợ về vốn cũng như về khoa học kỹ thuật, có những định hướng phát triển lâu dài cho các DN không chỉ ngành dược mà còn các ngành khác để có thể tận dụng tốt các cơ hội mà TPP cũng như các hiệp định thương mại tự do khác mang lại. |
Đây chính là vấn đề hàng đầu đang được quan tâm trong ngành dược hiện nay. Nếu mở cửa đón TPP cũng đồng nghĩa mở cửa cho thuốc ngoại sẽ ngày càng áp đảo hơn ở Việt Nam.
Ví dụ, khi Việt Nam tham gia vào TPP, việc đấu thầu thuốc sẽ công khai, các hãng dược trên thế giới tham gia bình đẳng với các DN trong nước. Nếu chúng ta không có các chế tài đặc biệt thì các DN dược nước ngoài sẽ lấn sân và chiếm thị phần lớn trong việc cung ứng thuốc trên thị trường nội địa.
Bên cạnh đó, các DN dược Việt Nam hiện nay chủ yếu là nhỏ và vừa, lại không có sự gắn kết, vì thế nếu không tạo ra năng lực cạnh tranh thì nguy cơ bị mất đi thị phần của các DN dược nội địa sẽ rất cao.
Để tận dụng các cơ hội từ TPP mang lại và không bị thua trên sân nhà, các DN dược trong nước đang có xu hướng nâng cấp nhà máy sản xuất đạt các tiêu chuẩn quốc tế như PIC/S-GMP, EU-GMP để sản xuất thuốc chất lượng cao nhằm tăng khả năng thâm nhập các kênh phân phối và xuất khẩu.
Điển hình là Công ty Dược Hậu Giang đã hoàn thành việc xây dựng nhà máy sản xuất dược phẩm mới để tăng gấp đôi công suất thiết kế lên hơn 9 tỉ đơn vị sản phẩm/năm; Imexpharm cũng đã xây xong nhà máy thuốc tiêm penicillin mới tại tỉnh Bình Dương… Những động thái này đang cho thấy, DN Việt Nam đã và đang khởi động rất kỹ càng cho cuộc đua sắp tới.
Phần lớn nguyên liệu của ngành dược Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc, một quốc gia không nằm trong TPP. Vậy khi TPP vận hành thì các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam sẽ chịu tác động như thế nào về nguồn nguyên liệu?
Theo thang phân loại 5 mức phát triển của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc- UNIDO thì công nghiệp dược Việt Nam mới chỉ ở mức 3, “công nghiệp dược nội địa sản xuất đa số thành phẩm từ nguyên liệu nhập”.
Thời gian qua, nguyên liệu cho ngành dược của chúng ta đã phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc. Theo thống kê, kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm 7 tháng đầu năm 2015 lên đến 199,4 triệu USD từ các thị trường: Trung Quốc, Ấn Độ, Áo, Tây Ban Nha, Thái Lan, Italia, Đức…. trong đó, chủ yếu nhập từ Trung Quốc, chiếm tới 56,6%. Đây là thách thức không nhỏ cho các DN trong nước vốn lâu nay vẫn chưa quan tâm đầu tư công nghệ và lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài.
Việc không chủ động được nguồn nguyên liệu trong sản xuất dược phẩm dẫn đến nhiều hệ lụy như: khả năng cạnh tranh thấp, chất lượng sản phẩm không đảm bảo, chưa kể những biến động về thị trường có thể khiến DN phải dừng sản xuất một khi nguồn nguyên liệu bị thao túng…
Để chủ động được nguyên liệu trong sản xuất dược phẩm là cả một câu chuyện dài, bởi những vấn đề về đất đai, môi trường, công nghệ, quản lý… đang là những nút thắt để ngành nâng cao sức cạnh tranh.
Mặc dù vậy, có thể lạc quan rằng, với TPP, các DN dược trong nước sẽ được liên kết đầu tư nhiều hơn với DN nước ngoài. Bên cạnh đó, các nước không tham gia TPP như Trung Quốc cũng sẽ liên kết với Việt Nam trong các vấn đề về nhập nguyên liệu và đầu tư gia công... Đây có thể sẽ là cơ hội rất lớn để ngành dược chuyển mình, chủ động được nguồn nguyên liệu để không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu phục vụ thị trường nước ngoài.
Công ty Cổ phần Dược phẩm CPC1 Hà Nội đã có sự chuẩn bị và đón TPP như thế nào, thưa ông?
Theo tôi, vấn đề cấp bách nhất mà CPC1 Hà Nội và những DN thuốc nội địa đang đối mặt lúc này không phải là liệu thị trường dược phẩm Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng hay không, mà là bằng cách nào để có thể vượt qua những trở ngại, nắm bắt được cơ hội từ hiệp định mang tính lịch sử này.
Cơ hội chỉ thực sự đến với các DN được chuẩn bị. Xác định con đường đến TPP không "trải hoa hồng", Công ty cổ phần Dược phẩm CPC1 Hà Nội đã chủ động tìm ra các phương án kinh doanh mới nhằm đón đầu những tác động mà TPP mang lại. CPC1 Hà Nội đã hoàn thành xây dựng nhà máy sản xuất dược phẩm đạt tiêu chuẩn GMP, GSP, GDP với các dây chuyền sản xuất máy móc hiện đại nhất hiện nay như: ống uống, viên nang mềm, vỏ nang cứng rỗng... và dây chuyền sản xuất thuốc tiêm ống nhựa, nước cất ống nhựa, dầu parafin công nghệ BFS. Sản phẩm được Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) công nhận, đang được sử dụng rộng rãi tại các nước ở châu Âu và Mỹ.
Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, tiếp cận và đưa vào sử dụng những công nghệ sản xuất thuốc mới trên thế giới để cung cấp và xuất khẩu nhiều sản phẩm thuốc chất lượng cao khác. Chúng tôi cũng sẵn sàng nâng cấp, đổi mới công nghệ, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tiến tới vươn xa xuất khẩu sang các nước khác. Đây là một liệu trình đã được chuẩn bị từ trước, nằm trong chiến lược phát triển của công ty đến năm 2020, theo lộ trình phát triển ngành dược đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng luôn chú trọng phát triển hệ thống quản lý chất lượng và đặc biệt là hệ thống kiểm tra chất lượng thuốc để trở thành một thương hiệu dược tin cậy của các đối tác khách hàng, từ khối bệnh viện trung ương, các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành, các công ty, xí nghiệp dược phẩm quốc doanh cho đến các nhà thuốc tư nhân. Hệ thống kho thuốc và chi nhánh của CPC1 Hà Nội cũng được mở rộng với mục đích gia tăng độ bao phủ, đồng thời giảm các khâu phân phối trung gian, giảm giá sản phẩm tới tay người sử dụng.






