Một sản phẩm được đưa lên sàn thương mại điện tử, một mã QR giúp người mua truy xuất nguồn gốc, một thủ tục được xử lý hoàn toàn trên môi trường số hay dữ liệu được sử dụng để quản trị đơn hàng, tồn kho… Những thay đổi tưởng như nhỏ đang dần tạo nên cách vận hành mới trong sản xuất, kinh doanh ở Gia Lai. Đằng sau những chuyển động ấy là yêu cầu lớn hơn được đặt ra từ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia: Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số phải trở thành động lực phát triển, tạo ra năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh mới.
Tại Gia Lai, yêu cầu đó đang được cụ thể hóa vào từng ngành, lĩnh vực. Với ngành Công Thương, trọng tâm không chỉ nằm ở số hóa hoạt động quản lý mà hướng trực tiếp đến doanh nghiệp, thị trường và năng lực sản xuất.
TỪ NGHỊ QUYẾT SỐ 57 ĐẾN BÀI TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP
Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt doanh nghiệp ở vị trí trung tâm của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Với ngành Công Thương, đây cũng là nơi những chủ trương về chuyển đổi số cần được kiểm chứng rõ nhất: Doanh nghiệp có giảm được chi phí hay không, quản trị có hiệu quả hơn không, sản phẩm có tiếp cận được thị trường mới không và năng lực cạnh tranh có được nâng lên hay không.
Theo báo cáo tại phiên họp lần thứ hai của Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Gia Lai ngày 6/8/2026, trong 7 tháng đầu năm, tỉnh đã hoàn thành 170/275 nhiệm vụ do Trung ương, Chính phủ giao, đạt 61,82%; đối với Kế hoạch số 42-KH/TU của Tỉnh ủy, đã hoàn thành 48/94 nhiệm vụ, đạt 51,06%.
Trong 7 tháng năm 2026, tỉnh Gia Lai đã hoàn thành 170/275 nhiệm vụ do Trung ương, Chính phủ giao, đạt 61,82%; đối với Kế hoạch số 42-KH/TU của Tỉnh ủy, đã hoàn thành 48/94 nhiệm vụ, đạt 51,06%.
Công tác chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh. Tỷ lệ xử lý hồ sơ công việc trên môi trường điện tử đạt 100%, trừ văn bản mật. Tỷ lệ giải quyết hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt trên 96,3%; tỷ lệ số hóa, tái sử dụng dữ liệu đạt trên 95%; thanh toán trực tuyến đạt 97,7%. Những con số này phản ánh một lớp chuyển đổi ở khu vực quản lý nhà nước. Nhưng với doanh nghiệp, điều quan trọng hơn là công nghệ phải tiếp tục đi thêm một bước, từ cơ quan quản lý đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đó là lý do trong kế hoạch triển khai Nghị quyết 57, Gia Lai xác định trọng tâm là nâng cao năng suất lao động, hiệu quả quản trị, chất lượng dịch vụ công và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Kế hoạch năm 2026 cũng đặt mục tiêu đưa tỷ trọng kinh tế số đạt 15% GRDP, đồng thời thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp thiết thực vào tăng trưởng kinh tế.
Với ngành Công Thương, những mục tiêu đó được chuyển thành các phần việc cụ thể. Theo Kế hoạch số 36/KH-SCT triển khai thực hiện Kế hoạch số 105/KH-UBND của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP và Kế hoạch hành động số 22-KH/TU của Tỉnh ủy, ngành Công Thương xác định thúc đẩy doanh nghiệp trong lĩnh vực Công Thương tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến, chuyển đổi số, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh.
Đến Kế hoạch số 29/KH-SCT ngày 25/3/2026 về thực hiện nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Đề án 06 và an ninh mạng năm 2026, yêu cầu này tiếp tục được cụ thể hóa với mục tiêu đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng thực chất.
Với ngành Công Thương, trọng tâm không chỉ nằm ở số hóa hoạt động quản lý mà hướng trực tiếp đến doanh nghiệp, thị trường và năng lực sản xuất.
Không chỉ là chuyện đưa hồ sơ lên môi trường điện tử, ngành Công Thương đặt mục tiêu số hóa sâu hơn hoạt động phục vụ doanh nghiệp. Trong năm 2026, ngành phấn đấu 100% hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường điện tử; 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình đối với thủ tục hành chính đủ điều kiện; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 99,7%; thanh toán trực tuyến đạt 92% và số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt 99,7%.
Đáng chú ý, 100% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp được đặt mục tiêu thực hiện trực tuyến, thông suốt, liền mạch. Nguyên tắc không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại thông tin, giấy tờ khi hệ thống đã kết nối, khai thác được dữ liệu cũng được đặt ra nhằm giảm thủ tục và chi phí tuân thủ. Đây chính là phần “hạ tầng mềm” để doanh nghiệp có thể bước nhanh hơn vào môi trường kinh doanh số.
CÔNG NGHỆ PHẢI TẠO RA THỊ TRƯỜNG MỚI
Nếu số hóa thủ tục hành chính giúp doanh nghiệp giảm thời gian và chi phí giao dịch với cơ quan nhà nước, thì chuyển đổi số trong sản xuất, thương mại và xúc tiến thương mại phải tạo ra giá trị trực tiếp hơn. Một trong những lĩnh vực được ngành Công Thương Gia Lai xác định trọng tâm là thương mại điện tử.
Thực tế cho thấy, không gian tiêu thụ của doanh nghiệp địa phương đang thay đổi nhanh. Các sản phẩm OCOP không còn chỉ xuất hiện tại hội chợ hay các điểm bán truyền thống mà từng bước được đưa lên sàn thương mại điện tử, livestream, gian hàng trực tuyến và các kênh bán hàng đa nền tảng.
Gia Lai hiện có 454 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, trong đó 1 sản phẩm 5 sao, 67 sản phẩm 4 sao và 386 sản phẩm 3 sao.
Gia Lai hiện có 454 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, trong đó 1 sản phẩm 5 sao, 67 sản phẩm 4 sao và 386 sản phẩm 3 sao. Trước đó, tỉnh đã hỗ trợ nhiều chủ thể đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử; số liệu được công bố cho thấy 235/454 sản phẩm OCOP đã được bán trên các nền tảng số. Nhưng với ngành Công Thương, đưa sản phẩm lên sàn mới chỉ là bước khởi đầu.
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Dương Minh Đức, Giám đốc Sở Công Thương Gia Lai cho biết ngành sẽ tiếp tục triển khai và từng bước nhân rộng các mô hình “Chợ số”, “Xã hạt nhân số”; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh xây dựng gian hàng trên nền tảng thương mại điện tử, ứng dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, hóa đơn điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt.
Theo ông Dương Minh Đức, chuyển đổi số không chỉ là đưa sản phẩm lên sàn mà phải giúp doanh nghiệp quản trị tốt hơn tồn kho, đơn hàng, khách hàng, logistics và dữ liệu thị trường. Ngành cũng tiếp tục thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các nền tảng quốc tế. Cách tiếp cận này cho thấy chuyển đổi số đang được đặt trong một chuỗi rộng hơn: sản xuất - quản trị - xúc tiến - bán hàng - logistics - thị trường.
Một sản phẩm muốn đi xa không chỉ cần một gian hàng đẹp trên mạng. Doanh nghiệp còn phải kiểm soát được chất lượng, nguồn gốc, năng lực cung ứng, đóng gói, thanh toán, giao nhận và phản hồi của khách hàng. Đó cũng là lý do khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được đặt cạnh nhau trong quá trình triển khai Nghị quyết 57.
Thực tế các chương trình xúc tiến thương mại của Gia Lai cũng cho thấy dư địa của cách làm này. Một phiên livestream bán hàng nông sản do Sở Công Thương phối hợp tổ chức trước đó đã thu hút gần 149.000 lượt xem và tạo gần 800 đơn hàng trong 4 giờ, cho thấy khả năng mở rộng thị trường khi hoạt động xúc tiến thương mại được kết hợp với nền tảng số.
Nhưng thị trường số cũng đặt ra những yêu cầu mới. Sản phẩm địa phương muốn cạnh tranh không thể chỉ dựa vào câu chuyện vùng miền mà phải đáp ứng tiêu chuẩn, minh bạch nguồn gốc, có khả năng cung ứng ổn định và thích ứng với yêu cầu của từng thị trường. Bởi vậy, xúc tiến thương mại theo hướng mới cũng được ngành Công Thương đặt lại bài toán.
"Đối với xuất khẩu, Sở sẽ chuyển mạnh từ xúc tiến thương mại dàn trải sang xúc tiến theo thị trường và nhóm sản phẩm cụ thể; tăng cường cung cấp thông tin về chính sách thuế, kiểm dịch, tiêu chuẩn môi trường, quy tắc xuất xứ và phòng vệ thương mại. Cùng với đó là hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sang những thị trường còn dư địa như ASEAN, Nam Á, Trung Đông, Nam Mỹ và châu Phi", ông Dương Minh Đức.
TỪ CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐẾN SẢN XUẤT THÔNG MINH
Một trong những yêu cầu lớn hơn mà Nghị quyết 57 đặt ra là đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng. Với ngành Công Thương, điều đó đồng nghĩa chuyển đổi số không thể chỉ dừng ở thương mại điện tử.
Trong lĩnh vực sản xuất, ngành tiếp tục định hướng hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư cho chuyển đổi số, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động, phát triển tài sản trí tuệ và xây dựng thương hiệu. Ngành cũng tham mưu xây dựng, ban hành chương trình đẩy mạnh sản xuất thông minh, tạo điều kiện để công nghệ và dữ liệu được ứng dụng sâu hơn trong hoạt động sản xuất.
Một ví dụ rõ hơn cho hướng đi từ công nghệ đến thay đổi phương thức sản xuất đang được hình thành ngay trong ngành cà phê Gia Lai. Ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, cho rằng dư địa lớn nhất của cà phê Gia Lai không còn nằm ở việc tăng thêm sản lượng, mà ở khả năng tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi hạt cà phê.
Theo ông Hiệp, khi thị trường thế giới ngày càng quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc và tính minh bạch của chuỗi cung ứng, Gia Lai cần từng bước thoát khỏi cách tiếp cận chỉ dựa vào xuất khẩu nguyên liệu, chuyển sang một hệ sinh thái trong đó vùng nguyên liệu được kết nối với công nghệ, chế biến sâu, logistics, kinh tế tuần hoàn và thương hiệu.
Đáng chú ý, hướng tiếp cận này đang được doanh nghiệp cụ thể hóa bằng những dự án đầu tư công nghệ. Trước đó, UBND tỉnh Gia Lai đã chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư đối với dự án Viện nghiên cứu và phát triển cà phê AI - Gia Lai của Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, với tổng vốn đầu tư 326 tỷ đồng.
Dự án được triển khai tại xã Đak Đoa trên diện tích khoảng 1,57 triệu m², định hướng trở thành trung tâm nghiên cứu, phát triển công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong đó, AI được ứng dụng để quản lý dữ liệu vùng nguyên liệu, dự báo và giám sát sâu bệnh, xây dựng hệ thống quản trị vùng trồng phục vụ sản xuất cà phê.
Không dừng ở nghiên cứu, dự án còn hướng tới khảo nghiệm 50-100 dòng, giống cà phê mỗi năm, sản xuất 1-5 triệu cây giống/năm; phân tích 20.000-40.000 mẫu đất, nước, lá, hạt cà phê và các mẫu vi sinh mỗi năm. Doanh nghiệp cũng đặt mục tiêu đào tạo, chuyển giao công nghệ cho khoảng 2.000-5.000 lượt doanh nghiệp, nông hộ mỗi năm.
Từ một bài toán của ngành cà phê, câu chuyện này cho thấy rõ hơn cách công nghệ có thể đi vào sản xuất: Dữ liệu giúp quản lý vùng trồng, AI hỗ trợ dự báo, nghiên cứu tạo ra giống và quy trình phù hợp, còn công nghệ chế biến mở thêm dư địa nâng giá trị sản phẩm. Đây chính là khoảng cách mà Nghị quyết 57 đặt ra cần được thu hẹp: đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành năng lực sản xuất thực tế.
Trong lĩnh vực năng lượng, ngành Công Thương tiếp tục phối hợp thúc đẩy các dự án điện theo quy hoạch, rà soát, cập nhật phương án phát triển mạng lưới cấp điện; đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp, người dân sử dụng điện an toàn, tiết kiệm, góp phần bảo đảm cung cấp điện ổn định.
Trong quản lý nhà nước, hệ thống theo dõi tiến độ nhiệm vụ trên nền tảng số, các nền tảng dùng chung, trung tâm điều hành thông minh và các công cụ hỗ trợ bằng AI đang được duy trì, mở rộng. Tỉnh cũng triển khai các dự án nghiên cứu, ứng dụng trong những lĩnh vực như AI, điện toán đám mây, blockchain, công nghệ sinh học và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Tất cả đang tạo thành một hệ sinh thái rộng hơn cho doanh nghiệp: thể chế số, hạ tầng số, dữ liệu số, sản xuất số và thị trường số.
Từ những thay đổi đó, Nghị quyết 57 đang được kéo gần hơn với đời sống doanh nghiệp Gia Lai. Và có lẽ, thước đo rõ nhất của một cuộc chuyển đổi không nằm ở việc có bao nhiêu công nghệ được đưa vào, mà ở việc công nghệ ấy tạo ra thêm bao nhiêu giá trị cho sản xuất, giúp doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn và mở thêm bao nhiêu cánh cửa thị trường.