Longform
23/10/2026 06:00
Dữ liệu Công Thương

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm

Thứ Sáu, 23/10/2026 06:00:00 +07:00

(Công Thương) - Chiến lược cơ khí mới đặt ra yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu nền, lượng hóa mục tiêu và xác định rõ trách nhiệm thực thi. Kết quả đánh giá phải trở thành căn cứ điều chỉnh chính sách, phân bổ nguồn lực và phát triển năng lực doanh nghiệp.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 1

 

(Công Thương) - Chiến lược cơ khí mới đặt ra yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu nền, lượng hóa mục tiêu và xác định rõ trách nhiệm thực thi. Kết quả đánh giá phải trở thành căn cứ điều chỉnh chính sách, phân bổ nguồn lực và phát triển năng lực doanh nghiệp.

Sau hơn 7 năm thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, bài học đặt ra không dừng ở việc lựa chọn mục tiêu phát triển mà còn nằm ở khả năng đo lường kết quả và tổ chức thực hiện. Những định hướng về phát triển sản xuất, nâng cao năng lực công nghệ và khả năng cạnh tranh đã được xác lập nhưng phần lớn mục tiêu vẫn mang tính định tính, thiếu hệ thống dữ liệu thống nhất để đánh giá mức độ hoàn thành.

Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 đang được xây dựng đứng trước yêu cầu khắc phục khoảng trống này. Hệ thống dữ liệu ngành, bộ chỉ tiêu có phương pháp tính thống nhất và cơ chế đánh giá gắn với trách nhiệm cụ thể sẽ quyết định khả năng chuyển mục tiêu chiến lược thành kết quả thực tế. Song hành với đó là nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật đủ năng lực tiếp nhận, làm chủ và phát triển công nghệ.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 2

 

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định: "Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước".

Định hướng này đòi hỏi đổi mới phương thức quản lý trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển ngành cơ khí giai đoạn mới, lấy dữ liệu làm căn cứ xác định mục tiêu, phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả thực hiện. Hệ thống thông tin về doanh nghiệp, năng lực sản xuất, thị trường, trình độ công nghệ và nguồn nhân lực phải được cập nhật thường xuyên, có khả năng kiểm chứng và phục vụ trực tiếp công tác điều hành chính sách.

Theo đó, mỗi mục tiêu chiến lược phải được xác định rõ nội dung đo lường, phương pháp tính toán, cơ quan chịu trách nhiệm và thời điểm công bố kết quả. Thiếu những điều kiện này, việc đánh giá mức độ hoàn thành sẽ tiếp tục phụ thuộc vào nhận định định tính, khó xác định hiệu quả sử dụng nguồn lực cũng như trách nhiệm của cơ quan thực thi.

Định hướng này đặt ra yêu cầu trực tiếp đối với công tác xây dựng chiến lược phát triển ngành cơ khí. Dữ liệu về doanh nghiệp, năng lực sản xuất, thị trường, công nghệ và nguồn nhân lực phải trở thành công cụ quản trị thường xuyên, phục vụ việc xác định mục tiêu, phân bổ nguồn lực, theo dõi tiến độ và điều chỉnh chính sách.

Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương nhiệm vụ xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu ngành cơ khí trong nước và ngoài nước, bao gồm lĩnh vực cơ khí trọng điểm, trên trang thông tin điện tử chuyên ngành. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước và triển khai Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam.

Trên nền tảng nhiệm vụ đã được xác lập, chiến lược phát triển ngành cơ khí giai đoạn mới cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống dữ liệu theo hướng thống nhất, đồng bộ và có khả năng cập nhật thường xuyên, phục vụ hiệu quả hơn công tác dự báo, hoạch định chính sách, giám sát tiến độ và đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu chiến lược.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 3

Hệ thống máy phay giường tại nhà máy khuôn mẫu của THACO thể hiện năng lực gia công cơ khí nặng. Đây là nền tảng để sản xuất các chi tiết lớn, độ chính xác cao, phục vụ ngành ô tô, công nghiệp hỗ trợ và chế tạo thiết bị.

Đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg, TS. Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí xác định hạn chế quan trọng là "chưa có hệ thống chỉ tiêu và cơ sở dữ liệu thống nhất để giám sát Chiến lược". Theo đó, số liệu về doanh nghiệp, doanh thu, giá trị sản xuất, tỷ lệ nội địa hóa, năng lực thiết kế, xuất khẩu và thị phần còn khác nhau theo phạm vi thống kê. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định kết quả thực hiện các mục tiêu đã được phê duyệt.

Khác biệt về phạm vi và phương pháp thống kê thể hiện rõ qua việc đối chiếu kết quả xuất khẩu với mục tiêu của Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam. Quyết định số 319/QĐ-TTg xác định sản lượng xuất khẩu đạt 35% tổng sản lượng ngành cơ khí trong giai đoạn đến năm 2020, đạt 40% trong giai đoạn đến năm 2030 và 45% vào năm 2035. Riêng năm 2025, Chiến lược không quy định mốc định lượng cụ thể đối với chỉ tiêu này.

Giai đoạn 2018-2025, giá trị xuất khẩu nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng từ khoảng 384.700 tỷ đồng lên 1.557.700 tỷ đồng, tương đương tăng hơn 4 lần. Kết quả này phản ánh mở rộng mạnh mẽ về quy mô xuất khẩu và khả năng tham gia thị trường quốc tế của nhóm hàng máy móc, thiết bị và phụ tùng.

Tuy nhiên, số liệu xuất khẩu trên bao gồm cả khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và được thống kê theo nhóm hàng hóa có phạm vi khác với ngành cơ khí được xác định trong Chiến lược. Đồng thời, giá trị xuất khẩu là đại lượng tính bằng tiền, trong khi Quyết định số 319/QĐ-TTg sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ sản lượng xuất khẩu trên tổng sản lượng ngành cơ khí.

Khác biệt về phạm vi thống kê và phương pháp xác định chỉ tiêu khiến giá trị xuất khẩu nhóm máy móc, thiết bị và phụ tùng chưa thể được sử dụng trực tiếp để đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu của Chiến lược.

Trên cơ sở phân tích các số liệu hiện có, TS. Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí nhận định "chưa đủ căn cứ kết luận mức hoàn thành chỉ tiêu 35%" cũng như xác định chính xác kết quả năm 2025 so với lộ trình hướng tới mục tiêu 40% vào năm 2030.

Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện phương pháp thống kê và đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược. Giá trị xuất khẩu tăng mạnh phản ánh kết quả tích cực trong mở rộng thị trường quốc tế, song chưa đủ căn cứ xác định mức độ hoàn thành chỉ tiêu sản lượng xuất khẩu. Việc đánh giá đòi hỏi hệ thống dữ liệu thống nhất về phạm vi thống kê, đơn vị đo lường và phương pháp tính toán. Mỗi nhiệm vụ được cụ thể hóa bằng kết quả có thể kiểm chứng, gắn với nguồn lực và tiến độ thực hiện, qua đó nâng cao chất lượng giám sát, hiệu quả điều hành và khả năng đánh giá tác động của chính sách.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 4

 

Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 đã đề xuất lượng hóa mục tiêu phát triển ngành thông qua 3 chỉ tiêu tổng hợp gồm tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ làm chủ thiết kế, chế tạo và tỷ lệ giá trị tăng thêm trên giá trị sản xuất ngành cơ khí.

Theo phương án đề xuất, đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa đạt khoảng 35%, tỷ lệ làm chủ thiết kế, chế tạo đạt khoảng 45% và tỷ lệ giá trị tăng thêm đạt khoảng 25%. Đến năm 2035, 3 chỉ tiêu tương ứng đạt khoảng 40%, 55% và 30%.

Các chỉ tiêu này hướng tới đánh giá thực chất hơn trình độ phát triển của ngành cơ khí, phản ánh khả năng tạo ra giá trị trong nước, năng lực làm chủ thiết kế, chế tạo và chất lượng tăng trưởng thay vì chủ yếu dựa vào quy mô sản xuất.

Theo hướng mở rộng phạm vi đánh giá, TS. Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí đề xuất bổ sung các chỉ tiêu về khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước, năng lực công nghiệp hỗ trợ, khả năng cung cấp máy công cụ và robot, tỷ lệ giá trị trong nước tại các dự án ưu tiên và mức đầu tư cho nghiên cứu, phát triển. Nhóm chỉ tiêu này tập trung đo lường năng lực cung ứng, trình độ công nghệ và khả năng tham gia các dự án lớn của doanh nghiệp cơ khí trong nước.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 5

(Nguồn: Báo cáo nghiên cứu "Đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ", Viện Nghiên cứu Cơ khí)

2 nhóm chỉ tiêu có định hướng bổ trợ cho nhau nhưng khác biệt về phạm vi và phương pháp đo lường. Chẳng hạn, dự thảo Chiến lược đề xuất đến năm 2035, công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí đáp ứng khoảng 50% nhu cầu vật liệu, linh kiện, phụ tùng và chi tiết cơ khí trong nước. Cùng thời điểm, khung chỉ tiêu kiến nghị xác định tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước của công nghiệp hỗ trợ cơ khí đạt 45-50%.

Mặc dù có mức tỷ lệ tương đương, 2 chỉ tiêu không đồng nhất về nội hàm. Chỉ tiêu đáp ứng nhu cầu phản ánh khả năng cung ứng cho thị trường nội địa, còn chỉ tiêu giá trị sản xuất trong nước tập trung vào phần giá trị vật liệu, linh kiện và dịch vụ sản xuất được tạo ra trong nước. Việc đánh giá mức độ hoàn thành từng mục tiêu đòi hỏi xác định rõ phạm vi sản phẩm, phương pháp tính và dữ liệu tương ứng.

Tương tự, tỷ lệ nội địa hóa chưa thể thay thế chỉ tiêu đánh giá năng lực làm chủ công nghệ. Một sản phẩm có thể sử dụng phần lớn linh kiện sản xuất trong nước nhưng thiết kế tổng thể, phần mềm điều khiển và quyền quyết định công nghệ vẫn thuộc về đối tác nước ngoài. Ngược lại, doanh nghiệp có thể làm chủ thiết kế và tích hợp hệ thống dù một số linh kiện, thiết bị chuyên dụng vẫn phải nhập khẩu.

Đối với máy công cụ chính xác và robot công nghiệp, phương pháp thống kê còn đòi hỏi phân biệt hoạt động chế tạo, tích hợp hệ thống với phân phối thiết bị nhập khẩu. Nếu tính chung các hoạt động này, tỷ lệ cung ứng trên thị trường có thể tăng nhưng chưa phản ánh tương ứng năng lực chế tạo và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Những khác biệt trên đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu của Chiến lược mới theo hướng thống nhất về định nghĩa, phạm vi thống kê và phương pháp tính toán. Mỗi chỉ tiêu được xác định rõ nguồn dữ liệu, cơ quan thu thập và chu kỳ đánh giá. Các chỉ tiêu có nội hàm khác nhau có thể bổ sung cho nhau để phản ánh toàn diện hơn trình độ phát triển ngành cơ khí nhưng không thể sử dụng thay thế nếu thiếu cơ sở đối chiếu thống nhất.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 6

Hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại tại nhà máy của Công ty CP Tập đoàn Cơ khí Công nghệ cao SIBA (SIBA GROUP), phục vụ hoạt động cơ khí chế tạo và gia công kim loại.

Trong báo cáo đánh giá, dự báo tác động chính sách, ThS. Đinh Viết Hải - Viện Nghiên cứu Cơ khí lưu ý, việc đối chiếu giá trị nền với mục tiêu phát triển đòi hỏi thống nhất phạm vi thống kê và phương pháp tính toán. Trường hợp các chỉ tiêu được xác định trên cùng cơ sở nhưng duy trì ở mức tương đương qua nhiều năm, mức mục tiêu đề xuất cần được làm rõ căn cứ khoa học, điều kiện thị trường và yêu cầu phát triển công nghệ của từng phân ngành.

Giá trị nền xác định điểm xuất phát, mục tiêu thể hiện mức tiến bộ dự kiến, còn phương pháp đo lường là căn cứ kiểm chứng kết quả thực hiện. Việc chuẩn hóa đồng bộ các yếu tố này ngay trong quá trình xây dựng Chiến lược sẽ nâng cao tính khả thi của mục tiêu, tạo cơ sở đánh giá thực chất năng lực sản xuất, trình độ làm chủ công nghệ và khả năng tạo giá trị gia tăng của ngành cơ khí.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 7

 

Đánh giá hiệu quả thực hiện Chiến lược, ThS. Đinh Viết Hải - Viện Nghiên cứu Cơ khí xác định nguyên tắc: "Thành công mỗi thời hạn phải được xác nhận bằng bằng chứng phù hợp, không chỉ tỷ lệ giải ngân hoặc số hoạt động".

Theo đó, hiệu quả thực hiện Chiến lược được đo lường bằng năng lực công nghệ hình thành tại doanh nghiệp, sản phẩm được thương mại hóa, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và kết quả duy trì sau hỗ trợ. Các chỉ tiêu về tiến độ giải ngân, số chương trình triển khai hay số doanh nghiệp tham gia chủ yếu phản ánh khối lượng hoạt động, chưa đủ căn cứ xác định tác động thực chất của chính sách.

Trên cơ sở này, ThS. Đinh Viết Hải đề xuất khung đánh giá theo 3 giai đoạn, gắn kết quả thực hiện Chiến lược với từng bước nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng khả năng tham gia thị trường và tiến tới làm chủ công nghệ của doanh nghiệp cơ khí Việt Nam.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 8

(Nguồn: Báo cáo nghiên cứu "Đánh giá, dự báo tác động chính sách sau khi ban hành Chiến lược", Viện Nghiên cứu Cơ khí)

Khung đánh giá phát huy giá trị khi kết quả thực hiện trở thành căn cứ phân bổ và điều chỉnh nguồn lực. Chương trình hình thành năng lực công nghệ, có sản phẩm đạt tiêu chuẩn và đơn hàng thương mại sẽ được xem xét nhân rộng. Ngược lại, chương trình chưa chứng minh được hiệu quả, công suất thiết bị thấp hoặc chi phí vượt lợi ích dự kiến sẽ được rà soát, điều chỉnh hoặc xem xét dừng hỗ trợ theo thẩm quyền.

ThS. Đinh Viết Hải - Viện Nghiên cứu Cơ khí lưu ý, hiện chưa đủ bằng chứng để lượng hóa tác động nhân quả, giá trị hiện tại ròng của toàn Chiến lược, số việc làm ròng hoặc phần tăng thu ngân sách. Nghiên cứu đề xuất chuẩn hóa dữ liệu nền, theo dõi từng chương trình và đối chiếu với nhóm doanh nghiệp có điều kiện tương đồng.

Chẳng hạn, doanh thu doanh nghiệp tăng sau hỗ trợ chưa đồng nghĩa toàn bộ mức tăng bắt nguồn từ chính sách. Tương tự, giá trị sản xuất tăng nhưng tỷ trọng giá trị tăng thêm giảm có thể phản ánh xu hướng mở rộng gia công hoặc sử dụng nhiều đầu vào nhập khẩu. Hiệu quả chính sách phải được xác định bằng năng lực công nghệ mới hình thành, giá trị thực tế tạo ra trong nước và khả năng duy trì kết quả sau hỗ trợ.

Để triển khai, ThS. Đinh Viết Hải kiến nghị ưu tiên khóa dữ liệu nền và định nghĩa chỉ tiêu, lập bản đồ năng lực doanh nghiệp, nhu cầu thiết bị và lựa chọn dự án mẫu có khách hàng, nguồn vốn cùng phương án tiếp nhận công nghệ.

Dự thảo Chiến lược đề xuất đến năm 2030 hoàn thành cơ sở dữ liệu và bộ tiêu chí ngành, vận hành hệ thống chỉ tiêu lượng hóa do Bộ Công Thương chủ trì cập nhật hằng năm. Tuy nhiên, dữ liệu nền và phương pháp thống kê cần được chuẩn hóa ngay trong giai đoạn đầu để bảo đảm khả năng so sánh kết quả; nếu đến năm 2030 mới xác lập phương pháp đo thống nhất, việc đánh giá tiến bộ của những năm trước sẽ gặp khó khăn.

Cơ chế giám sát cũng đòi hỏi phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Theo đó, cơ quan thống kê phối hợp xác nhận giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm và năng suất; cơ quan hải quan cung cấp dữ liệu thương mại theo mã hàng; chủ đầu tư và cơ quan quản lý chuyên ngành xác nhận nhu cầu thiết bị, hợp đồng, chất lượng và chi phí dự án. Các tổ chức khoa học, công nghệ tham gia kiểm chứng năng lực kỹ thuật, kết quả chuyển giao và thương mại hóa.

Đối với dự án trọng điểm, TS. Vũ Văn Khoa đề xuất cụ thể hóa nhu cầu đầu tư thành danh mục thiết bị và nhiệm vụ phát triển năng lực sản xuất trong nước. Chủ đầu tư xây dựng kế hoạch nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung cấp ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, tạo cơ hội cho doanh nghiệp cơ khí tham gia đơn hàng.

Đồng thời, kiến nghị thành lập hoặc kiện toàn cơ chế điều phối liên ngành với sự tham gia của doanh nghiệp, hiệp hội, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và chuyên gia độc lập nhằm giám sát tiến độ, cam kết công nghệ và công bố kết quả. Các chương trình hỗ trợ quy mô hoặc rủi ro lớn được đề xuất đánh giá độc lập để nâng cao tính khách quan và trách nhiệm giải trình.

Kinh nghiệm quốc tế cũng đề cao quản trị dữ liệu và phối hợp liên ngành. Chính sách quốc gia về tư liệu sản xuất năm 2016 của Ấn Độ đề xuất hệ thống báo cáo dữ liệu sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu theo từng phân ngành với thời gian cập nhật ngắn, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp liên bộ, rà soát hằng năm tiến độ thực hiện.

Kinh nghiệm này gợi mở hướng hoàn thiện quản trị Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam, với đầu mối tổng hợp dữ liệu, phương pháp thống kê thống nhất và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá trong điều hành. Trách nhiệm thực thi được xác định rõ hơn khi mỗi nhiệm vụ gắn với kết quả có thể kiểm chứng và kết quả giám sát trở thành căn cứ điều chỉnh chính sách.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 9

 

Bên cạnh dữ liệu và cơ chế giám sát, khả năng thực hiện mục tiêu thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật. Dự thảo Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 đề xuất hình thành đội ngũ khoảng 20.000 - 25.000 kỹ sư, chuyên gia kỹ thuật cùng 150.000 - 200.000 lao động kỹ thuật lành nghề.

Đối với dự án công nghiệp lớn, năng lực kỹ thuật được đánh giá qua khả năng thiết kế, giải quyết yêu cầu công nghệ, tích hợp thiết bị và chịu trách nhiệm vận hành. Do đó, mục tiêu nhân lực cần gắn với từng nhóm chuyên môn, chương trình phát triển sản phẩm và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Kinh nghiệm quốc tế cũng đặt ra bài toán duy trì nhân lực trước biến động thị trường. Theo số liệu cập nhật tháng 4/2026 của Hiệp hội Cơ khí và Chế tạo máy Đức (VDMA), sản lượng ngành cơ khí Đức giảm 6,9% năm 2024 và 2,2% năm 2025 theo giá so sánh. Tại các cơ sở sản xuất thuộc doanh nghiệp có từ 50 lao động trở lên, số lao động giảm từ khoảng 1,024 triệu người cuối năm 2024 xuống 997.000 người cuối năm 2025, tương ứng giảm 2,6%.

Diễn biến này phản ánh sức ép duy trì đội ngũ kỹ thuật ngay cả tại nền công nghiệp phát triển. Đối với Việt Nam, bài toán nhân lực không dừng ở đào tạo đủ số lượng mà còn ở khả năng sử dụng, tích lũy kinh nghiệm và duy trì đội ngũ giữa các chu kỳ đầu tư. Mỗi chương trình phát triển sản phẩm, chuyển giao công nghệ hoặc làm chủ thiết bị đồng bộ cần gắn với nhân lực cụ thể và tiêu chí đánh giá năng lực thực hiện.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 10

Sinh viên học tập, nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Robotics, Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh. Đây là trường trọng điểm của Bộ Công Thương trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho nền kinh tế khu vực phía Nam nói riêng và cả nước nói chung.

Từ những vấn đề được phân tích qua 5 kỳ của loạt bài, quá trình hoàn thiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 có thể tập trung vào 7 nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, chuẩn hóa dữ liệu nền ngay từ giai đoạn đầu. Xây dựng cơ sở dữ liệu ngành cơ khí dùng chung, phân biệt doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI, hoạt động sản xuất với thương mại, sản phẩm hoàn chỉnh với linh kiện. Các chỉ tiêu về giá trị sản xuất, nội địa hóa, năng lực thiết kế, chế tạo và thị phần được xác lập theo năm gốc thống nhất để theo dõi kết quả thực hiện.

Thứ hai, thống nhất phương pháp đo lường mục tiêu. Mỗi chỉ tiêu xác định rõ nội hàm, phạm vi thống kê, nguồn số liệu, cơ quan chịu trách nhiệm và chu kỳ cập nhật. Giá trị nền và mục tiêu năm 2030 được đối chiếu theo cùng phương pháp. Những chỉ tiêu trùng nhau về trị số được giải trình về mức tiến bộ dự kiến và cơ sở xác định mục tiêu.

Thứ ba, chuyển nhu cầu đầu tư thành cơ hội tham gia thị trường. Xây dựng danh mục nhu cầu thiết bị dài hạn cho các dự án năng lượng, đường sắt, khai thác và chế biến khoáng sản. Từ đó, xác định nhóm thiết bị doanh nghiệp trong nước có khả năng thiết kế, chế tạo hoặc tích hợp; nghiên cứu cơ chế phát triển nhà cung cấp, chuyển giao công nghệ và nâng giá trị trong nước, bảo đảm phù hợp pháp luật đấu thầu và cam kết quốc tế.

Thứ tư, nghiên cứu thí điểm cơ chế 3 dự án đầu tiên. Lựa chọn chương trình phù hợp trong lĩnh vực đường sắt đô thị, điện gió ngoài khơi, sản xuất alumin và điện phân nhôm. Dự án đầu tiên tập trung tiếp nhận công nghệ; dự án thứ 2 nâng năng lực chế tạo, tích hợp; dự án thứ 3 hướng tới tự chủ những công đoạn đã xác định. Kết quả từng dự án được đánh giá độc lập trước khi xem xét nhân rộng.

Thứ năm, tập trung nguồn lực vào sản phẩm có khả năng thương mại hóa. Ưu tiên phát triển máy CNC chuyên dụng, robot công nghiệp, hệ thống truyền động servo, bộ điều khiển và cảm biến theo nhu cầu thị trường và năng lực doanh nghiệp. Đồng thời, rà soát hệ thống thử nghiệm, kiểm định để xác định nhu cầu nâng cấp, phục vụ phát triển máy công cụ, robot và thiết bị đường sắt.

Thứ sáu, thiết lập cơ chế hỗ trợ có điều kiện, thời hạn và trách nhiệm giải trình. Giám sát hằng năm, đánh giá tại các mốc năm 2030, 2035 và tổng kết năm 2045, bảo đảm phù hợp thời điểm Chiến lược có hiệu lực. Kết quả được công bố, làm căn cứ phân bổ nguồn lực, điều chỉnh hoặc xem xét kết thúc hỗ trợ theo thẩm quyền. Hiệu quả được đo bằng năng lực công nghệ hình thành, sản phẩm thương mại hóa và kết quả duy trì sau hỗ trợ.

Thứ bảy, phát triển nhân lực gắn với nhiệm vụ làm chủ công nghệ. Xác định nhu cầu kỹ sư thiết kế, kỹ sư hệ thống, chuyên gia điều khiển, tích hợp và thử nghiệm theo từng dự án. Gắn đào tạo với doanh nghiệp, hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đơn hàng thực tế. Đánh giá kết quả bằng năng lực đảm nhận công việc, trình độ làm chủ kỹ thuật và khả năng duy trì đội ngũ.

7 nhiệm vụ tạo thành chuỗi liên kết trong thực thi Chiến lược: dữ liệu làm căn cứ xác định mục tiêu, thị trường tạo đơn hàng, dự án hình thành năng lực công nghệ, nhân lực bảo đảm khả năng triển khai và cơ chế giám sát kiểm chứng kết quả.

Chiến lược phát triển ngành cơ khí giai đoạn mới phải chuyển mục tiêu thành kết quả cụ thể, gắn với nguồn lực, thời hạn và trách nhiệm thực thi. Thước đo thành công không dừng ở quy mô sản xuất hay tốc độ tăng trưởng mà nằm ở năng lực công nghệ doanh nghiệp Việt Nam thực sự làm chủ, giá trị gia tăng giữ lại trong nước và khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường bằng chính năng lực của mình.

Ngành Cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 5: Lượng hóa mục tiêu, ràng buộc trách nhiệm - 11

 

Có thể bạn quan tâm

Ngành cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 1 - Cơ khí Việt Nam sau 'Chiến lược 319': Lớn về quy mô, yếu về tự chủ

Ngành cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 1 - Cơ khí Việt Nam sau 'Chiến lược 319': Lớn về quy mô, yếu về tự chủ

Sau 7 năm thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, ngành cơ khí Việt Nam đã mở rộng, mạnh về quy mô, song năng lực làm chủ công nghệ, thiết kế và tham gia các khâu giá trị cao vẫn là bài toán lớn của doanh nghiệp trong nước.