Ngành cơ khí kém phát triển: Lỗi nhịp từ chính sách- Kỳ II

Theo các chuyên gia, muốn làm chủ tư vấn, thiết kế thì các doanh nghiệp (DN) “nội” phải có cơ hội cọ sát để nâng cao trình độ năng lực. Tuy nhiên, làm điều này không dễ khi hầu hết dự án lớn hiện nay đều do nhà thầu ngoại làm tổng thầu EPC.

CôngThương - Kỳ II: Muốn làm chủ sân nhà không dễ

Ông Nguyễn Chỉ Sáng - Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí (NARIME) - cho biết, dù đã đạt được khá nhiều thành tựu nhưng ngành cơ khí chế tạo Việt Nam vẫn chưa thể tham gia vào các dự án lớn trong nhiều lĩnh vực vì chất lượng các sản phẩm không đảm bảo để sử dụng trong các dây chuyền thiết bị đồng bộ. Chưa chế tạo được máy và thiết bị chính cho các ngành năng lượng, hóa chất, khai khoáng, khai thác và chế biến dầu khí, y tế, dược… Luật Đấu thầu đặt yếu tố giá lên hàng đầu khiến thời gian qua Việt Nam trở thành nước “nhập siêu EPC” từ Trung Quốc. Những dự án phải vay vốn nước ngoài thì buộc phải mua thiết bị từ nước cho vay vốn. Kết quả là, năm 2012, ngành cơ khí chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu sản phẩm cơ khí trong nước và xuất khẩu đạt khoảng 20%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra và chỉ mới làm được những phần dễ có giá trị thấp, không đòi hỏi trình độ công nghệ chuyên sâu. Trong 8 chuyên ngành cơ khí trọng điểm, hiện chỉ có lĩnh vực đóng tàu và chế tạo thiết bị điện là có chút khởi sắc nhưng cũng chưa phải đã mạnh. Các lĩnh vực khác vẫn còn tụt khá xa so với mục tiêu đề ra. Kết quả là 80% thị trường cơ khí Việt Nam đang nằm trong tay DN nước ngoài. Việt Nam vẫn phải nhập siêu các sản phẩm cơ khí trọng điểm như: thủy điện, hóa chất, xi măng, điện chạy than, khai khoáng… Chỉ có một số ít sản phẩm như cơ khí thủy công cho thủy điện được hưởng chính sách chỉ định thầu, giao việc tận tay. Vì vậy, tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm cơ khí rất thấp, dù thị trường rộng lớn nhưng DN trong nước vẫn khó tiêu thụ sản phẩm. Chẳng hạn, Công ty Doosan Vina đã xuất khẩu hơn 20 cẩu trục sang Indonesia nhưng chỉ bán được 1 chiếc tại thị trường trong nước.

TS. Lê Đăng Doanh

Để DN mạnh dạn đầu tư vào KHCN, phải có môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, không thay đổi chính sách quá nhanh, bộ máy hành chính phải chuyên nghiệp và có trách nhiệm.

Ông Sáng chia sẻ: Do không được tham gia thiết kế nên các DN Việt Nam không được chủ động lựa chọn và giảm tỷ lệ thiết bị nhập ngoại để giảm giá thành đầu tư, đẩy nhanh tiến trình nội địa hóa. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thị trường của DN nội ngày càng bị thu hẹp, chủ trương “DN Việt dùng hàng Việt” vì thế cũng bị ảnh hưởng.

Phát biểu tại Hội nghị triển khai Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 do Bộ KH&CN vừa tổ chức, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cũng khẳng định, con người và thiết bị công nghệ là khâu đột phá quan trọng, nhưng ở Việt Nam, việc đầu tư cho khâu này còn quá ít. Cụ thể, mỗi năm Mỹ đầu tư 400 tỷ USD cho KHCN. Ở Trung Quốc là 178 tỷ USD. Hàn Quốc chỉ có 48 triệu dân nhưng đầu tư cho KHCN 53 tỷ USD/năm. Trong khi Việt Nam hơn 80 triệu dân nhưng chỉ đầu tư 1 tỷ USD/năm. Việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các bộ, ngành, địa phương hầu như không có chiến lược phát triển KHCN. Vì vậy, không có cơ sở để giao nhiệm vụ cho lực lượng khoa học của các bộ, ngành, địa phương. Việc quản lý đề tài còn nặng về thủ tục, chưa thực sự gắn với hiệu quả đầu ra.

Bộ trưởng KH&CN Nguyễn Quân cũng cho biết, cán bộ làm KH&CN chưa có bất cứ phụ cấp nào ngoài lương nên chưa đủ thu hút nhân tài vào lĩnh vực này. Để phát triển KH&CN, không chỉ cần sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, nhà nước mà còn cần sự vào cuộc của các DN và của cả xã hội.

(Kỳ III: Cần gỡ vướng từ chính sách)

Ngọc Loan