Tối ngày 29/5/2026, tại phiên khai mạc Đối thoại Shangri - La lần thứ 23, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu quan trọng với chủ đề: “Chủ động kiến tạo hoà bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động".
Cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững
Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra một vấn đề lớn lao mang tính thời đại: “Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: Khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Bài phát biểu của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đã nêu lên 6 định hướng chiến lược để các nước cùng nhau kiến tạo một châu Á-Thái Bình Dương hoà bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa. Trong đó có một nội dung rất quan trọng là: “cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững”.
Từ diễn đàn đa phương nhìn về thực tiễn đất nước, thông điệp nêu trên của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta không còn là một khuyến nghị, mà đã trở thành bài toán phát triển.
Với tầm nhìn đó, Đảng ta đã ban hành hàng loạt nghị quyết chiến lược để nâng cao tự chủ chiến lược, tự chủ nền kinh tế. Vấn đề “an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội” đã được thể hiện rất rõ trong nhiều Nghị quyết của Đảng và đang được triển khai quyết liệt, tạo ra những chuyển biến sâu sắc.
Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mục tiêu: Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030: Mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á. Trong ảnh: Một ngôi trường trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới đang được xây dựng. Ảnh: Hiền Mai
Theo đó, Đảng ta định hướng: “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân”. Một trong nhiều nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIV được Đảng đề ra đó là: phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng và đầu tư cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Trước Nghị quyết XIV của Đảng, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” cũng thể hiện tầm nhìn và sự quan tâm của Đảng ta đối với vấn đề “an ninh con người”.
Quan điểm chỉ đạo được thể hiện tại Nghị quyết là: Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là nền tảng quan trọng nhất cho hạnh phúc của mọi người, cho sự tồn vong của dân tộc và sự phát triển thịnh vượng, bền vững của đất nước. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, giữ vị trí ưu tiên trong các chiến lược, chính sách phát triển; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và mọi người dân. Theo đó hàng loạt giải pháp đột phá đã được đề ra như: Kịp thời hoàn thiện thể chế, tập trung nâng cao năng lực hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng, y tế cơ sở, phát huy thế mạnh của y học cổ truyền; Nâng cao y đức, phát triển nhân lực y tế chất lượng, đồng bộ, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh và hội nhập quốc tế…
Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo cũng đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển với mục tiêu đến năm 2030: Mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á; xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao
Nhìn một cách tổng thể, các chính sách mà Đảng và Nhà nước ta đang thực thi đó là phát triển bền vững, đặt người dân ở vị trí trung tâm, không ai bị bỏ lại phía sau.
Nỗ lực nâng cao tự chủ nền kinh tế
Có thể khẳng định, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự cường, tự lực chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hệ thống các văn kiện, Nghị quyết mà Đảng ta đã ban hành trong thời gian vừa qua. Nhìn vào nội hàm của các nghị quyết, nổi lên những đột phá tư duy mạnh mẽ. Đó không phải là những điều chỉnh ngắn hạn mà là bước ngoặt trong cách Đảng ta hoạch định chính sách đối với từng khu vực trong hành trình tự chủ.
Đơn cử, Nghị quyết 70 bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 ra đời tháng 8/2025 trong bối cảnh địa chính trị thế giới nhiều biến động và yêu cầu đảm bảo năng lượng cho tăng trưởng hai con số. Nghị quyết 70 đặt ra yêu cầu tự chủ năng lượng theo ba tầng: Tự chủ nguồn cung (giảm nhập khẩu LNG và dầu thô, đẩy mạnh điện gió ngoài khơi và điện mặt trời); tự chủ hạ tầng (làm chủ lưới điện thông minh, hạ tầng lưu trữ, cơ chế DPPA cho phép doanh nghiệp mua điện tái tạo trực tiếp); và tự chủ công nghệ (nội địa hóa thiết bị điện tái tạo, đào tạo nhân lực năng lượng xanh).
Nghị quyết 70 bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 ra đời tháng 8/2025 trong bối cảnh địa chính trị thế giới nhiều biến động và yêu cầu đảm bảo năng lượng cho tăng trưởng hai con số. Trong ảnh: Cánh đồng điện gió tại Gia Lai. Ảnh: Hiền Mai
Cùng với tự chủ năng lượng, Việt Nam đã nỗ lực tự chủ chuỗi cung ứng khi tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) trong đó có nhiều FTA thế hệ mới. Có thể kể tới Hiệp định CPTPP - FTA thế hệ mới đầu tiên mà Việt Nam tham gia. Cho đến nay, Hiệp định CPTPP có 12 Thành viên, bao gồm: Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Ma-lai-xi-a, Nhật Bản, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po, Vương quốc Anh và Việt Nam. Về phía Việt Nam, Hiệp định CPTPP đã giúp hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước tăng trưởng mạnh mẽ, góp phần nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.
Liên quan đến hội nhập quốc tế, Nghị quyết 59 về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới được Trung ương ban hành đầu năm 2025 đã xác định rất rõ hội nhập quốc tế là động lực chiến lược trên cơ sở nội lực có vai trò quyết định, gia tăng nội lực đi đôi với tranh thủ ngoại lực, gắn kết chặt chẽ hội nhập với bảo vệ lợi ích quốc gia, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Trong đó, hội nhập kinh tế được xác định là trung tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế với ưu tiên hàng đầu là cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số. Hội nhập về chính trị, an ninh, quốc phòng phải hướng tới mục tiêu nâng cao tiềm lực, vị thế đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy. Cùng với đó một loạt nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, về văn hóa cũng đã được Đảng ta ban hành.
Đến nay, Việt Nam là một trong những nước hàng đầu thế giới về tự chủ lương thực, sản xuất nông nghiệp đa dạng và bền vững, giúp ổn định trước biến động quốc tế. Việt Nam đã và đang nỗ lực giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, thúc đẩy năng lượng thay thế, nhiên liệu sinh học (xăng E10) và nâng cao hiệu quả các nhà máy lọc dầu trong nước. Đồng thời tăng cường nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển đổi số và nâng cao năng lực nội địa trong các ngành công nghiệp nền tảng để gia tăng giá trị nội địa, thoát khỏi việc phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu.
Với những đột phá và thiết kế tổng thể trong các nghị quyết, sự chỉ đạo quyết liệt của Ban chấp hành Trung ương, những giải pháp được nêu ra tại các Nghị quyết đặc biệt là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được triển khai đồng bộ, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nền kinh tế có quy mô trong nhóm 30 nước hàng đầu trên thế giới. Đó là nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, phát triển bền vững, bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau.
Sự thành công của Việt Nam cũng chính là mẫu hình để các quốc gia học hỏi và sẽ đóng góp cho hòa bình, an ninh, ổn định trong khu vực và thế giới.
"Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác. Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm hoạ, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp".
Trích phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên khai mạc Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 về chủ đề: “Chủ động kiến tạo hoà bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động"