Trong 81 năm (1945 - 2026), hệ thống cơ quan quản lý ngành Công Thương đã đi qua 21 tên gọi khác nhau. Có thời điểm 8 bộ cùng tham gia quản lý các lĩnh vực của ngành. Từ ngày 15/9/2026, Nghị định 351/2026/NĐ-CP quy định Bộ Công Thương gồm 21 tổ chức, đồng thời bổ sung địa chất, khoáng sản và khu công nghiệp vào phạm vi quản lý. Phía sau những con số là lịch sử nhiều lần chia, nhập và tổ chức lại bộ máy theo yêu cầu của nền kinh tế qua từng thời kỳ.
Ngày 15/9/2026 đánh dấu điều chỉnh mới trong lịch sử tổ chức Bộ Công Thương.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 351/2026/NĐ-CP ngày 11/9/2026 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026.
Danh mục tại Điều 1 gồm điện, than, địa chất, khoáng sản, dầu khí, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí, luyện kim, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp môi trường và công nghiệp công nghệ cao. Đồng thời, quản lý khuyến công, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cùng các lĩnh vực thương mại.
Chiều ngày 14/9/2026, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Lễ tiếp nhận, bàn giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản và khu công nghiệp về Bộ Công Thương.
Ngược dòng lịch sử, nhiều lĩnh vực hiện thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương từng có cơ quan quản lý cấp bộ riêng. Điện từng có Bộ Điện lực, than có Bộ Mỏ và Than, cơ khí và luyện kim thuộc Bộ Cơ khí và Luyện kim, công nghiệp thực phẩm từng có Bộ Công nghiệp thực phẩm, năng lượng có Bộ Năng lượng, thị trường trong nước thuộc Bộ Nội thương còn hoạt động ngoại thương do Bộ Ngoại thương quản lý.
Địa chất, hóa chất và dầu khí cũng từng được tổ chức thành các tổng cục riêng trong những giai đoạn khác nhau.
Năm 1969, Bộ Công nghiệp nặng được tổ chức lại, hình thành Bộ Điện và Than, Bộ Cơ khí và Luyện kim cùng Tổng cục Hóa chất.
Năm 1975, Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam được thành lập. Năm 1987, Tổng cục Địa chất đổi tên thành Tổng cục Mỏ và Địa chất.
Ngày 31/3/1990, Nghị quyết số 244-NQ/HĐNN giải thể Tổng cục Mỏ và Địa chất, Tổng cục Hóa chất và Tổng cục Dầu khí. Bộ Công nghiệp nặng được giao thống nhất quản lý các ngành cơ khí, luyện kim, điện tử, mỏ, địa chất, dầu khí và hóa chất.
Như vậy lịch sử tổ chức ngành Công Thương đã trải qua nhiều lần phân chia rồi hợp nhất các đầu mối. Có giai đoạn bộ máy tách sâu theo từng ngành, thời gian sau, những lĩnh vực từng nằm ở nhiều cơ quan lại được đưa về chung một đầu mối.
Một số lĩnh vực Bộ Công Thương hiện quản lý từng có bộ hoặc tổng cục chuyên trách
Báo Công Thương đối chiếu bộ sách "Lịch sử Công Thương Việt Nam 1945 - 2010" để dựng lại các lần thay đổi tổ chức cấp bộ. Theo cách thống kê tên cơ quan, lịch sử ngành Công Thương có 21 tên gọi khác nhau và 25 lượt thành lập, đổi tên, tách hoặc hợp nhất tính đến lần hợp nhất năm 2007.
Mốc đầu tiên là ngày 28/8/1945. Tuyên cáo của Chính phủ lâm thời công bố thành phần Chính phủ lâm thời gồm 12 bộ, trong đó có Bộ Kinh tế quốc gia do ông Nguyễn Mạnh Hà làm Bộ trưởng.
Ngày 1/1/1946, Chính phủ Liên hiệp lâm thời có Bộ Quốc dân Kinh tế do ông Nguyễn Tường Long làm Bộ trưởng. Ngày 2/3/1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến sử dụng tên Bộ Kinh tế.
Ngày 14/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 21/SL đổi tên Bộ Kinh tế thành Bộ Công Thương. Cùng ngày, Sắc lệnh số 22/SL thành lập Sở Mậu dịch trong Bộ để tổ chức hoạt động buôn bán trong nước, trao đổi với nước ngoài và phục vụ nhiệm vụ kinh tế trong kháng chiến.
Tên Bộ Công Thương xuất hiện từ thời điểm đó.
Số đầu tiên của Việt Nam Dân quốc Công báo (ra ngày 29/9/1945) đăng tải Bản Tuyên cáo ngày 28/8/1945 về việc thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 14/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 21/SL đổi tên Bộ Kinh tế thành Bộ Công Thương.
Thống kê 25 lượt thay đổi cấp bộ theo từng giai đoạn sẽ giúp nhìn rõ cách bộ máy được tổ chức trong từng thời kỳ.
Giai đoạn 1945 - 1954: Có 4 lượt thay đổi gồm 1 lần thành lập và 3 lần đổi tên. Bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từng bước được xác lập trong những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám.
Giai đoạn 1955 - 1986: Có 13 lượt thay đổi, gồm 11 lượt tách và 2 lượt thành lập đầu mối mới. Các cơ quan được chuyên môn hóa sâu hơn theo ngành và lĩnh vực.
Giai đoạn 1987 - 2007: Có 8 lượt thay đổi gồm 5 lượt hợp nhất và 3 lượt đổi tên.
Việc tách diễn ra mạnh trong hơn 3 thập niên sau năm 1955.
Theo đó, năm 1955, Bộ Công Thương được tổ chức lại thành Bộ Công nghiệp do ông Lê Thanh Nghị làm Bộ trưởng và Bộ Thương nghiệp do ông Phan Anh làm Bộ trưởng.
Năm 1958, Bộ Thương nghiệp được chia thành Bộ Nội thương và Bộ Ngoại thương. Hai năm sau, Bộ Công nghiệp được tổ chức thành Bộ Công nghiệp nặng và Bộ Công nghiệp nhẹ.
Năm 1960 có 4 bộ tham gia quản lý các lĩnh vực của ngành gồm Bộ Công nghiệp nặng, Bộ Công nghiệp nhẹ, Bộ Nội thương và Bộ Ngoại thương.
Năm 1969, quá trình chuyên môn hóa tiếp tục. Quyết nghị số 780/NQ/TVQHK6 ngày 11/8/1969 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức lại Bộ Công nghiệp nặng, hình thành Bộ Điện và Than, Bộ Cơ khí và Luyện kim cùng Tổng cục Hóa chất. Bộ Lương thực và Thực phẩm được thành lập. Bộ Vật tư được tổ chức trên cơ sở Tổng cục Vật tư.
Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 7/1976 có 7 bộ tham gia quản lý các lĩnh vực Công Thương.
Ngày 22/1/1981, Quyết nghị số 1236NQ/TVQHK6 chia Bộ Điện và Than thành Bộ Điện lực và Bộ Mỏ và Than, đồng thời chia Bộ Lương thực và Thực phẩm thành Bộ Công nghiệp thực phẩm và Bộ Lương thực.
Năm 1981 có 8 bộ cùng tham gia quản lý các lĩnh vực Công Thương.
Việc tổ chức 8 bộ tạo ra các đầu mối quản lý chuyên sâu theo từng lĩnh vực. Tuy nhiên, một hoạt động sản xuất quy mô lớn thường liên quan đến nhiều ngành và nhiều cơ quan quản lý. Ngành điện là ví dụ điển hình, đầu thập niên 1980, than thuộc phạm vi quản lý của Bộ Mỏ và Than, máy móc và thiết bị thuộc Bộ Cơ khí và Luyện kim, vật tư do Bộ Vật tư phụ trách còn sản xuất điện thuộc Bộ Điện lực.
Vì vậy, để một nhà máy điện vận hành, nhiều khâu phải được phối hợp giữa các bộ khác nhau, từ bảo đảm nhiên liệu, thiết bị đến vật tư phục vụ sản xuất. Mô hình chuyên môn hóa giúp từng lĩnh vực được quản lý sâu hơn nhưng đồng thời làm tăng yêu cầu phối hợp giữa các cơ quan trong cùng một chuỗi sản xuất.
Từ tinh thần của Cách mạng tháng Tám, ngành Công Thương trải qua 81 năm phát triển đã hình thành và củng cố hai trụ cột công nghiệp và thương mại, tạo nền tảng hạ tầng kinh tế, kỹ thuật quan trọng cho công cuộc kiến thiết đất nước.
Năm 1987, hướng sắp xếp thay đổi. Ngày 16/2/1987, Hội đồng Nhà nước ban hành Quyết định số 782NQ/HĐNN7 hợp nhất Bộ Điện lực với Bộ Mỏ và Than thành Bộ Năng lượng.
Ngày 24/3/1988, Nghị quyết số 66-NQ/HĐNN thành lập Bộ Kinh tế Đối ngoại trên cơ sở sáp nhập Bộ Ngoại thương với Ủy ban Kinh tế Đối ngoại.
Ngày 31/3/1990, Nghị quyết số 244-NQ/HĐNN tiếp tục sắp xếp đồng thời các đầu mối công nghiệp và thương mại. Bộ Thương nghiệp được thành lập trên cơ sở hợp nhất Bộ Kinh tế Đối ngoại, Bộ Nội thương và Bộ Vật tư. Bộ Cơ khí và Luyện kim đổi tên thành Bộ Công nghiệp nặng. Ba tổng cục Mỏ và Địa chất, Hóa chất và Dầu khí được giải thể.
Ngày 12/8/1991, Bộ Thương nghiệp đổi tên thành Bộ Thương mại và Du lịch. Năm 1992, cơ quan này đổi thành Bộ Thương mại.
Ngày 21/10/1995, Quốc hội thành lập Bộ Công nghiệp trên cơ sở hợp nhất Bộ Công nghiệp nặng, Bộ Năng lượng và Bộ Công nghiệp nhẹ.
Giai đoạn 1995 - 2007 duy trì 2 đầu mối cấp bộ lớn là Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại.
Ngày 31/7/2007, Quốc hội khóa XII ban hành Nghị quyết số 01/2007/NQ-QH12 hợp nhất 2 bộ thành Bộ Công Thương.
Sau 56 năm, tên gọi Bộ Công Thương được sử dụng trở lại. Tuy nhiên, phạm vi quản lý của Bộ năm 2007 đã khác xa thời kỳ kháng chiến. Bộ Công Thương thời điểm này kế thừa hệ thống quản lý được hình thành qua hơn nửa thế kỷ chia tách, hợp nhất và điều chỉnh giữa hai lĩnh vực công nghiệp và thương mại.
Kể từ năm 2007, tên Bộ Công Thương được giữ ổn định, những thay đổi lớn tiếp theo tập trung vào tổ chức bộ máy bên trong theo hướng thu gọn đầu mối. Điều này thể hiện rõ qua 4 nghị định gần nhất quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ.
Nghị định 351/2026/NĐ-CP được ban hành trên cơ sở Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15 và các quy định pháp luật liên quan. Đợt sắp xếp năm 2026 tiếp tục giảm 1 đầu mối trong cơ cấu Bộ, đồng thời điều chỉnh phạm vi quản lý.
Một thay đổi lớn của Nghị định 351/2026/NĐ-CP liên quan địa chất và khoáng sản.
Trước đó, Nghị định 40/2025/NĐ-CP đã giao Bộ Công Thương quản lý công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản. Điều 1 của nghị định này chưa xác định “địa chất, khoáng sản” là các lĩnh vực quản lý nhà nước riêng.
Nghị định 351/2026/NĐ-CP bổ sung trực tiếp “địa chất, khoáng sản” vào Điều 1. Cơ cấu tổ chức mới có Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.
Bộ Công Thương trước đó đã quản lý hoạt động liên quan khoáng sản, Nghị định mới mở rộng phạm vi sang các nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản được chuyển giao theo quy định.
Ngược dòng lịch sử, lĩnh vực này đã xuất hiện trong bộ máy quản lý kinh tế ngay những tháng đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nghị định số 8 ngày 2/10/1945 do Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà ký tổ chức lại Bộ Quốc dân Kinh tế. Văn bản giao Nha Kỹ nghệ phụ trách các công việc hành chính, chuyên môn về các ngành kỹ nghệ, trong đó có khoáng chất và chế hóa. Nghị định được đăng trên "Việt Nam Dân quốc Công báo" ngày 13/10/1945.
Trước đó, 2 nghị định ngày 26/9/1945 do Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà ký đã nhắc tới Giám đốc Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ.
Ngày 21/5/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 718/QĐ-TTg lấy ngày 2/10 hằng năm làm Ngày Truyền thống của ngành Địa chất Việt Nam.
Cơ quan địa chất sau đó nhiều lần thay đổi vị trí.
Năm 1955 có Sở Địa chất và Cục Khai khoáng thuộc hệ thống quản lý công thương. Năm 1957, Cục Địa chất thuộc Bộ Công nghiệp. Năm 1960, Tổng cục Địa chất được thành lập và trực thuộc Hội đồng Chính phủ.
Năm 1990, Nghị quyết số 244-NQ/HĐNN giao Bộ Công nghiệp nặng thống nhất quản lý các ngành cơ khí, luyện kim, điện tử, mỏ, địa chất, dầu khí và hóa chất.
Năm 1996, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam được thành lập trực thuộc Bộ Công nghiệp.
Năm 2002, sau khi Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập, chức năng quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản chuyển khỏi Bộ Công nghiệp.
Sau gần 24 năm, Nghị định 351/2026/NĐ-CP đưa địa chất và khoáng sản trở lại phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.
Các lĩnh vực địa chất, khoáng sản, than, dầu khí, năng lượng, công nghiệp và thương mại hiện cùng nằm trong phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Trước đây, nhiều lĩnh vực được giao cho những đầu mối riêng như Tổng cục Địa chất, Bộ Mỏ và Than, Bộ Điện lực, Bộ Cơ khí và Luyện kim, Bộ Nội thương và Bộ Ngoại thương.
Phạm vi quản lý rộng hơn đặt ra yêu cầu phối hợp chặt chẽ hơn giữa các đơn vị trong Bộ. Một quyết định liên quan khoáng sản có thể tác động tới khai thác, chế biến, nhu cầu năng lượng và hoạt động sản xuất công nghiệp. Nếu từng khâu vẫn được xử lý tách rời, mô hình đa ngành khó phát huy ưu thế trong quản lý và điều hành.
81 năm trước, ngày 13/10/1945, trong thư gửi các giới công thương Việt Nam đăng trên Báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng”.
Một tháng sau, trong bài Nhân tài và kiến quốc đăng Báo Cứu quốc số 91 ngày 14/11/1945, Người viết: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”.
Hai bài viết ra đời giữa những ngày đầu lập quốc, lúc bộ máy của Nhà nước mới đang được gây dựng. Hơn tám thập kỷ sau, cơ cấu tổ chức đã thay đổi rất lớn, phạm vi quản lý của Bộ Công Thương cũng rộng hơn nhiều. Song câu hỏi đặt đúng người vào đúng việc, phân công rõ nhiệm vụ và xác định trách nhiệm của từng đầu mối vẫn còn nguyên tính thời sự.
Làm việc với Bộ Công Thương chiều 17/3/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm) đề nghị Bộ tiếp tục nỗ lực để "xứng đáng với vai trò nòng cốt, trụ cột của nền kinh tế nước nhà". Tổng Bí thư yêu cầu bảo đảm nguyên tắc "một cơ quan làm nhiều việc, một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính".
2 tháng sau, ngày 21/5/2026, đối với lĩnh vực khoáng sản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu "không thất thoát tài nguyên, không xuất thô, không khai thác bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường".
Người đứng đầu Đảng và Nhà nước nhấn mạnh, nhìn tổng thể, Việt Nam không thiếu tài nguyên, không thiếu nhu cầu, thiếu lớn nhất là công nghệ lõi, năng lực chế biến sâu, doanh nghiệp đầu đàn, hệ sinh thái nghiên cứu - thử nghiệm - kiểm định - thương mại hóa và một chiến lược tích hợp đủ mạnh để tổ chức chuỗi giá trị vật liệu quốc gia.
Hơn 8 thập kỷ trôi qua, những yêu cầu đó vẫn giữ nguyên ý nghĩa đối với tổ chức bộ máy. Bộ máy phải phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và quản lý hiệu quả nguồn lực của đất nước.
Yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn, xây dựng nền công nghiệp hiện đại, bảo đảm an ninh năng lượng, khai thác hiệu quả tài nguyên và mở rộng vị thế trên thị trường toàn cầu. Bộ Công Thương đứng ở nhiều mắt xích trực tiếp của quá trình này, mỗi quyết định quản lý có thể tác động tới năng lực sản xuất, chi phí của doanh nghiệp và sức cạnh tranh của cả nền kinh tế.
Nghị định 351/2026/NĐ-CP mở ra một lần sắp xếp mới với 21 tổ chức và phạm vi quản lý rộng hơn trước. Bộ máy gọn hơn chỉ có ý nghĩa khi rút ngắn được đường đi của công việc, kết nối được dữ liệu giữa các lĩnh vực, xử lý nhanh những vấn đề liên ngành và xác định rõ nơi chịu trách nhiệm cuối cùng.
Sau 81 năm và 21 tên gọi, câu chuyện tổ chức Bộ Công Thương không còn nằm ở số lượng đầu mối. Trong kỷ nguyên mới, thước đo quan trọng hơn là khả năng biến cơ cấu đa ngành thành năng lực điều hành thống nhất, sử dụng hiệu quả từng nguồn lực quốc gia, bảo đảm các nguồn lực thiết yếu cho tăng trưởng, góp phần nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế.