Trong số 36 tham luận tại hội thảo "Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới", do Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức ngày 15/6/2026, có một câu hỏi cứ trở đi trở lại dưới nhiều hình thức: vì sao quy mô ngành cơ khí đã tăng gần gấp đôi sau 7 năm mà vẫn chưa thể gọi là tự chủ? Câu trả lời nằm ở tầng sâu nhất, thứ ít người để mắt tới nhưng quyết định tất cả, là máy công cụ. Và đi liền với điểm nghẽn ấy là một đòn bẩy: đơn đặt hàng từ những đại dự án quốc gia.
Trước hết phải gọi đúng tên. Máy công cụ mà giới kỹ thuật quen gọi là máy cái là loại thiết bị dùng để gia công kim loại và vật liệu thành chi tiết có hình dạng, kích thước và độ chính xác mong muốn, bằng cách cắt gọt, tiện, phay, mài, khoan, dập. Điểm đặc biệt của nó nằm ở một nghịch lý nhỏ: máy cái là máy được dùng để làm ra các máy khác kể cả để làm ra chính nó. Muốn có một động cơ ô tô, một hộp số, một trục khuỷu, một khuôn dập thân vỏ xe... đều phải có máy công cụ gia công ra chúng từ phôi thép. Muốn có một con robot công nghiệp, một dây chuyền tự động, cũng phải có máy công cụ chế tạo ra từng cụm chi tiết.
Vì thế cái là máy công cụ đứng ở tầng sâu nhất của cả ngành chế tạo. Nó không nằm trên kệ siêu thị, không có thương hiệu quảng cáo rầm rộ, nhưng là điều kiện thầm lặng cho mọi thứ phía trên. Một quốc gia không làm chủ máy công cụ thì giống như một người thợ giỏi mà không có đồ nghề của riêng mình: làm được hàng, nhưng đồ nghề phải đi mượn, và chất lượng, tốc độ, giá thành của sản phẩm cuối cùng đều bị quyết định bởi người cho mượn đồ nghề.
Đây không phải lối nói cường điệu, mà là một quan hệ nhân quả kỹ thuật, nếu toàn bộ máy công cụ, robot và thiết bị tự động hóa lõi đều nhập từ bên ngoài, thì trần công nghệ của cả ngành cơ khí trong nước cũng do bên ngoài đặt ra. Họ bán cho thiết bị đời nào, ta chế tạo được tới mức ấy, không thể vượt qua. Không làm chủ máy cái thì khó nói tới tự chủ chế tạo.
Các con số quy mô được trình bày tại hội thảo "Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới" khá sáng sủa. Theo Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME), quy mô sản xuất của ngành đã tăng từ khoảng 61,8 tỷ USD năm 2018 lên khoảng 122,6 tỷ USD năm 2025, gần gấp đôi sau 7 năm; xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng từ 14,6 lên 59,2 tỷ USD; nhập siêu máy móc thiết bị giảm mạnh từ 15,2 xuống còn khoảng 2,0 tỷ USD. Nhìn vào dãy số ấy, người ta dễ nghĩ ngành cơ khí đã sắp tự chủ.
Nhưng có một câu hỏi mà những con số tăng trưởng kia không trả lời được: trong số máy móc đang chạy trong các nhà máy Việt Nam, có bao nhiêu cái do người Việt làm ra cái máy làm ra chúng? Câu trả lời gần như là không. Việt Nam gần như chưa làm chủ máy công cụ điều khiển số CNC, robot công nghiệp và thiết bị tự động hóa lõi.
Mức độ đáp ứng nhu cầu cơ khí trong nước được các đơn vị nêu rất khác nhau, tùy phạm vi và cách tính, nên phải ghi rõ từng nguồn chứ không gộp thành một con số. Hội Tự động hóa Việt Nam nêu doanh nghiệp cơ khí nội mới đáp ứng khoảng 32% nhu cầu thị trường máy móc thiết bị, đây là số định hướng do cơ quan ngành nêu, không phải số đo thống kê chính thức. Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM) nêu sản phẩm cơ khí trong nước mới đáp ứng khoảng 7% nhu cầu nội địa.
Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) nêu ngành cơ khí đã đáp ứng 30 đến 40% nhu cầu. Một số doanh nghiệp nêu năng lực trong nước mới đáp ứng khoảng một phần ba nhu cầu cơ khí của nền kinh tế. NARIME nêu tỷ lệ nội địa hóa trong các dây chuyền thiết bị đồng bộ còn dưới 20%, chủ yếu ở kết cấu thép và chế tạo chi tiết đơn lẻ. Các con số chênh nhau từ 7% đến 40% phản ánh chính sự chưa thống nhất trong cách đo, nhưng cùng chỉ về một thông điệp: phần lõi nhất, là máy công cụ và thiết bị đồng bộ, nằm ở vùng yếu nhất của dải số đó.
Cần nói cho cân bằng rằng cán cân nhập siêu máy móc đã được cải thiện đáng kể, từ 15,2 tỷ USD năm 2018 xuống còn khoảng 2,0 tỷ USD năm 2025. Nhưng cải thiện ấy đến chủ yếu nhờ khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đẩy mạnh xuất khẩu, trong khi NARIME cũng chỉ rõ khối này chi phối tới 92 đến 93% giá trị xuất khẩu cơ khí và phần lớn thiết bị, công nghệ lõi vẫn phải nhập. Cân bằng trên cán cân thương mại, vì thế, chưa đồng nghĩa với tự chủ về công nghệ chế tạo.
Để thấy rõ "điểm trắng" này nằm sâu tới đâu, hãy hỏi một câu cụ thể: trên đất Việt Nam hiện nay, ai đang nắm năng lực cơ khí nặng hàng đầu? Câu trả lời là một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Đó là Công ty TNHH Doosan Enerbility Việt Nam (Doosan Vina) - một tổ hợp vốn Hàn Quốc khoảng 300 triệu USD đặt trên hơn 100 ha tại Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi. Doosan Vina chế tạo thiết bị nhà máy điện, cẩu trục cảng, thiết bị khử mặn nước biển, module và kết cấu thép cho công trình công nghiệp; tính tới nay đã xuất khoảng 630.000 tấn sản phẩm công nghiệp nặng tới 38 nước, từng làm tổng thầu EPC nhiều dự án nhiệt điện lớn trong nước. Đây là một năng lực đáng nể, và sự có mặt của Doosan Vina trên đất Việt là điều tốt cho công nghiệp.
Nhưng đặt vào câu chuyện tự chủ thì có một dữ kiện không thể bỏ qua: năng lực cơ khí nặng hàng đầu trên lãnh thổ Việt Nam lại thuộc một doanh nghiệp nước ngoài, chưa phải một doanh nghiệp nội. Năng lực ấy nằm trên đất ta, tạo việc làm cho người lao động Việt Nam, nhưng quyền sở hữu công nghệ và phần giá trị lõi vẫn thuộc về công ty mẹ ở nước ngoài. Bài học không phải là hạn chế FDI, mà là phải dựng cho được lớp doanh nghiệp nội đủ tầm tổng thầu chế tạo.
Bức tranh phụ thuộc còn lộ ở những lớp sâu hơn của công nghệ. Một tham luận của Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Chiến thuộc Viện Khoa học Công nghệ Cơ khí, Tự động hóa và Môi trường chỉ ra rằng hơn 80% hư hỏng của các chi tiết máy trong công nghiệp nặng bắt nguồn từ bề mặt làm việc chịu tải, vậy mà toàn bộ súng phun và hệ điều khiển của công nghệ phun phủ bề mặt vẫn phải nhập nguyên chiếc từ nhóm G7, và 100% bột hợp kim cứng để phun phủ cũng phải nhập vì trong nước chưa sản xuất được. Ngay cả ở khâu kéo dài tuổi thọ thiết bị, một việc tưởng đơn giản hơn chế tạo máy, Việt Nam cũng chưa tự chủ được công cụ.
Một lỗ hổng về năng lực, nếu được chính sách nhìn thấy và xử lý, thì còn có lối ra. Điều đáng lo ở máy công cụ là chính sách gần như cũng để trống.
Cơ khí Việt Nam từng có một chiến lược chuyên ngành rõ ràng: Quyết định 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035. Văn bản này xác định cơ khí là ngành nền tảng, đặt mục tiêu đáp ứng 40% nhu cầu trong nước đến 2030 và 45% đến 2035, kèm danh mục sản phẩm cơ khí ưu tiên giai đoạn 2017 đến 2025. Vấn đề là mốc mục tiêu định lượng chính của Quyết định 319 rơi vào năm 2025, mà đến thời điểm hội thảo, ngày 15/6/2026, vẫn chưa có một văn bản chuyên ngành cơ khí nào thay thế.
Chiến lược cũ đã hết kỳ mục tiêu chính, chiến lược mới chưa có. Riêng với lớp máy công cụ và máy cái, tình trạng còn nặng hơn một bước: Việt Nam gần như chưa có chính sách riêng cho mảng này, đúng nghĩa một khoảng trắng trên bản đồ thể chế.
Để thấy độ lệch, hãy nhìn sang các cấu phần khác của cùng ngành. Thép đã có chiến lược riêng mới nhất đó là Quyết định số 261/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Ngành bán dẫn có Quyết định số 1017/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến 2050. Ngành hóa chất có Quyết định số 726/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040...
Chỉ riêng cơ khí thì chiến lược hết kỳ chưa thay và riêng máy công cụ thì gần như chưa từng có chính sách chuyên biệt. Khoảng trắng chính sách này có cái giá của nó chính là khi không có một đề án riêng về làm chủ máy công cụ và thiết bị chế tạo nền, thì không có mục tiêu, không có nguồn lực ưu tiên, không có cơ chế chọn doanh nghiệp đầu chuỗi để dồn vốn và đặt hàng.
Phải nói cho rõ, điểm trắng máy cái không phải một thiếu sót kỹ thuật nhỏ lẻ, mà là một lỗ thủng nằm ngay dưới móng của tham vọng tự chủ chế tạo. Bịt được nó thì cả tòa nhà mới đứng vững; để nguyên nó, mọi tầng xây thêm phía trên đều đặt trên một nền do người khác kiểm soát.
Nếu điểm nghẽn sâu nhất là máy cái, thì đòn bẩy mạnh nhất để gỡ lại nằm ở một cụm từ trở đi trở lại trong hàng chục tham luận, từ tập đoàn nhà nước tới doanh nghiệp tư nhân, từ viện nghiên cứu tới hiệp hội: "đơn đặt hàng".
NARIME gọi đó là chìa khóa để phá vỡ vòng luẩn quẩn "năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu". Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) kiến nghị một cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và ưu tiên dùng sản phẩm cơ khí trong nước cho các dự án dầu khí, điện gió ngoài khơi, điện khí hóa lỏng, hạ tầng chiến lược. Sự đồng thanh ấy phản chiếu một nhận thức đã chín: thứ đòn bẩy mạnh nhất đang nằm trong tầm tay Việt Nam, để kéo cơ khí và vật liệu nội lên giá trị cao, không phải là một khoản trợ cấp hay một ưu đãi thuế, mà là cầu của chính các đại dự án quốc gia.
Hãy bắt đầu bằng con số gây choáng nhất. Đường sắt tốc độ cao Bắc Nam, đại dự án hạ tầng lớn nhất lịch sử ngành giao thông, dự kiến tiêu thụ khoảng 6 triệu tấn thép, phần lớn trong đó là thép kỹ thuật cao mà cho tới gần đây Việt Nam vẫn phải nhập trọn gói.
Nhìn rộng ra cả mạng lưới, VAMI ước tính thị trường đường sắt của Việt Nam, gồm tốc độ cao Bắc Nam, đường sắt đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các tuyến liên vùng và kết nối cảng, có thể vượt 300 tỷ USD, trong đó riêng phần thiết bị khoảng 60 đến 70 tỷ USD. Cần đọc con số này cho đúng phạm vi: đó là quy mô của thị trường đường sắt, không phải của toàn ngành cơ khí.
VAMI kèm theo một cảnh báo đắt giá: nếu không xây dựng được ngành công nghiệp đường sắt, ước tính chi phí cho đầu tư, vận hành, bảo trì hệ thống sẽ cao hơn khoảng 50% so với phương án tự chủ. Còn nếu nhìn dài hơi tới năm 2045, NARIME ước tổng nhu cầu thị trường cơ khí giai đoạn 2026 đến 2045 vào khoảng 7.821 tỷ USD. Dù lấy thước nào, kết luận vẫn một hướng: phía trước là một biển cầu nội địa hiếm có.
Vấn đề là phần lớn khối cầu ấy đang chảy ra ngoài. Khoảng cách giữa một biển cầu và một năng lực cung nội địa còn mỏng chính là dư địa, và cũng là lời cảnh báo. Nếu không có cơ chế giữ phần cầu ấy lại cho doanh nghiệp trong nước, đại dự án quốc gia có nguy cơ trở thành đơn đặt hàng cho nhà thầu và thiết bị nước ngoài, còn doanh nghiệp Việt đứng ngoài nhìn.
Điều khích lệ là không phải chờ chính sách hoàn chỉnh, một số doanh nghiệp đã chủ động cắm mũi dò xuống các thị trường mới, đặt cược rằng cầu dài hạn sẽ tới.
Mũi dò được nhắc nhiều nhất là thép ray. Tháng 12/2025, tại Khu liên hợp gang thép Dung Quất, Hòa Phát khởi công nhà máy sản xuất ray và thép đặc biệt, với dây chuyền cán ray nhập từ SMS Group của Đức. Theo tham luận của tập đoàn, sản phẩm ray đầu tiên dự kiến ra lò vào đầu quý I/2027 và bán thương mại từ quý II/2027. Sản phẩm tuân thủ những tiêu chuẩn khắt khe nhất thế giới, bao gồm EN 3674 (Châu Âu), JIS E1120 (Nhật Bản) và TB/T2344 (Trung Quốc), đáp ứng yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt trong ngành giao thông và công nghiệp nặng. Đây là bước đi thẳng vào thứ vật liệu mà đường sắt tốc độ cao cần, nhưng cả nước cho tới nay vẫn phải mua trọn gói từ nước ngoài.
Về vốn đầu tư, cần một lưu ý sòng phẳng: tham luận Hòa Phát không nêu con số vốn; mức được nhắc trên báo chí, làm tròn khoảng 14.000 tỷ đồng, là thông tin theo nguồn báo chí, không phải con số do Hòa Phát công bố. Nó đứng như một minh chứng đầu tiên cho luận đề: cầu của đại dự án đủ sức kéo một doanh nghiệp thép xây dựng leo lên mắt xích kỹ thuật cao.
Mũi dò thứ hai và đáng dừng lại lâu nhất là Petrovietnam, bằng chứng rõ ràng rằng doanh nghiệp Việt có thể làm chủ những gói thiết bị phức tạp khi có thị trường dẫn dắt. Tập đoàn này đã xây được một hệ sinh thái cơ khí chế tạo đồng bộ, làm chủ các mô hình tổng thầu từ thiết kế, mua sắm, thi công cho tới chế tạo và lắp đặt ngoài khơi. Sản phẩm tiêu biểu là giàn khoan tự nâng Tam Đảo 05, một công trình cơ khí trọng điểm quốc gia có tổng khối lượng hơn 18.000 tấn, hoạt động ở độ sâu nước tới 120 mét, chịu được gió bão trên cấp 12 và sóng cao tới 22 mét.
Đáng kể hơn, Petrovietnam đã chuyển từ chỗ phục vụ nội bộ ngành dầu khí sang xuất khẩu cơ khí năng lượng mới: PTSC đã ký hợp đồng chế tạo 33 móng chân đế cho một dự án điện gió ngoài khơi công suất 920 MW của tập đoàn Orsted tại Đài Loan, với tổng nhu cầu thép lên tới khoảng 70.000 tấn.
Tập đoàn cũng đã đưa vào vận hành thương mại nhà máy điện khí hóa lỏng Nhơn Trạch 3 và 4 với công suất 1.624 MW, nhà máy điện khí hóa lỏng đầu tiên tại Việt Nam. Chính nhờ một dòng cầu nội bộ ổn định trong nhiều năm mà Petrovietnam mới tích lũy đủ năng lực để hôm nay xuất khẩu được giá trị cao. Đó đúng là cơ chế mà các đại dự án quốc gia có thể tái tạo cho cơ khí dân dụng.
Mũi dò thứ ba nằm ở đường sắt và ô tô, gắn với chuyển giao công nghệ. THACO và Hyundai Rotem, nhà chế tạo đầu máy, toa xe của Hàn Quốc, đẩy mạnh hợp tác chuyển giao công nghệ, một dẫn chứng cho mô hình gắn chuyển giao công nghệ vào các đại dự án đường sắt.
Bản thân Thaco Industries đặt mục tiêu xuất khẩu gần 230 triệu USD trong năm 2025, với sản phẩm tới khoảng 20 quốc gia. Cùng nhóm thị trường mồi là ô tô điện: năm 2025, VinFast bàn giao 175.099 xe điện trong nước, dẫn đầu thị trường. Một thị trường ô tô điện nội địa quy mô lớn như vậy là lực kéo cho cả chuỗi cơ khí, vật liệu và pin trong nước, dù tỷ lệ nội địa hóa thực tế của hãng vẫn là biến số cần theo dõi.
Có cầu, có doanh nghiệp dám đặt cược, nhưng giữa hai thứ đó là một khoảng trống thể chế phải lấp: làm sao biến cầu của đại dự án vốn nhà nước thành đơn đặt hàng có địa chỉ cho doanh nghiệp trong nước, một cách minh bạch và đúng luật.
Một viên gạch nền đã được đặt. Nghị định 04/2026/NĐ-CP về cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ trong phát triển công nghiệp đường sắt đã ban hành, tạo cơ sở pháp lý đầu tiên cho khái niệm đặt hàng trong lĩnh vực này. Nhưng tự thân các doanh nghiệp chỉ ra rằng viên gạch ấy chưa đủ: nghị định cần thông tư hướng dẫn chi tiết, trong khi khái niệm đặt hàng còn phải được đối chiếu cho thông suốt với Luật Đấu thầu và các quy định quản lý vốn đầu tư công; nhiều dự án triển khai theo hình thức đối tác công tư lại nằm ngoài phạm vi điều chỉnh.
Để lấp khoảng cách ấy, NARIME đề xuất một bước đi mạnh: trình Quốc hội ban hành một Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026 đến 2045. Điểm cốt lõi của đề xuất là chọn ít nhất ba dự án đầu tiên ở mỗi lĩnh vực trọng điểm, gồm đường sắt đô thị và liên vùng, điện gió ngoài khơi, tổ hợp bauxite, alumin và nhôm, rồi chỉ định cho các liên danh doanh nghiệp trong nước làm tổng thầu thiết kế, mua sắm và thi công. Logic của cách làm này rất thực tế: thay vì hỗ trợ dàn trải, hãy dùng vài dự án đầu tiên làm trường học và làm đơn hàng bảo đảm, để doanh nghiệp nội có chỗ tích lũy năng lực, rồi từ đó nhân rộng.
Đơn đặt hàng quốc gia không phải sáng kiến của riêng Việt Nam. Trường hợp đáng nói nhất là Thổ Nhĩ Kỳ. Trong hai thập niên, nước này dùng chương trình đặt hàng quốc phòng làm lực kéo nội địa hóa, đưa tỷ lệ phụ thuộc nhập khẩu trong lĩnh vực quốc phòng từ mức 70 đến 80% xuống chỉ còn 20 đến 30%, tức nâng tỷ lệ nội địa hóa lên khoảng 80%.
Chính dòng đơn hàng bảo đảm và dài hạn ấy đã đẻ ra những doanh nghiệp dẫn dắt tầm thế giới, mà nổi bật là hãng Baykar với dòng máy bay không người lái xuất khẩu khắp các châu lục. Đây là minh chứng mạnh: khi nhà nước biến nhu cầu của mình thành đơn hàng có địa chỉ và bền vững, doanh nghiệp trong nước có thể leo từ chỗ lắp ráp lên chỗ làm chủ công nghệ lõi.
Nhưng cùng nước ấy lại để lại một bài học cảnh tỉnh ở chiều ngược. Dự án xe điện nội địa TOGG của nước này đã vướng vào cái bẫy quy mô: sản lượng chỉ khoảng 30.000 xe mỗi năm, trong khi theo tính toán phải đạt ít nhất 200.000 xe mới có thể đạt điểm hòa vốn. Một dự án quán quân, dù được hậu thuẫn chính trị, vẫn có thể sa lầy nếu không đạt được quy mô tối thiểu để có lãi.
Bài học hai mặt ấy gặp một mạch lý luận đã đi cùng công nghiệp hiện đại từ buổi đầu. V. I. Lê-nin, khi định nghĩa thế nào là nền công nghiệp lớn, đã chỉ ra cốt lõi của nó là thay những đơn vị sản xuất nhỏ bằng đơn vị lớn và thay lao động thủ công bằng lao động máy móc. Một nền cơ khí muốn lên giá trị cao thì phải đạt quy mô và trình độ chế tạo của công nghiệp lớn, chứ không thể dừng ở những xưởng nhỏ gia công đơn lẻ. Đơn đặt hàng quốc gia, xét đến cùng, chính là công cụ tạo đủ quy mô cầu để doanh nghiệp Việt vượt ngưỡng của công nghiệp lớn.
Một cửa sổ chính sách hiếm có đang mở, khi chủ trương của Đảng, cầu của thị trường và quyết tâm của doanh nghiệp gặp nhau cùng một thời điểm. Thông báo số 66-TB/VPTW ngày 25/5/2026 kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển công nghiệp vật liệu đã xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, đặt thép ray chất lượng cao và vật liệu phục vụ đường sắt tốc độ cao vào nhóm vật liệu chiến lược.
Tại hội thảo ngày 15/6/2026, báo cáo đề dẫn của Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường lần đầu tiên đưa máy công cụ CNC vào danh mục sản phẩm cơ khí chiến lược ưu tiên của Quốc hội. Điểm trắng sâu nhất đang bắt đầu được nhìn thấy, và đòn bẩy mạnh nhất đang bắt đầu được thể chế hóa.
Việc còn lại là thiết kế cho đúng, để cú hích từ cầu nhà nước không trở thành một cú hụt. Bốn điều kiện hiện ra khá rõ từ chính các tham luận:
Trước hết, cơ chế đặt hàng phải được thể chế hóa đủ chi tiết và minh bạch, đồng bộ với Luật Đấu thầu và quản lý vốn đầu tư công, bao quát cả các dự án đối tác công tư, để doanh nghiệp dám đầu tư trước khi đơn hàng đến.
Thứ hai, ưu tiên hàng nội phải đi kèm điều kiện chuyển giao công nghệ gắn vào hợp đồng, như hướng hợp tác THACO với Hyundai Rotem gợi mở.
Thứ ba, tỷ lệ nội địa hóa cần được lượng hóa cụ thể cho từng nhóm sản phẩm và kiểm chứng được, thay vì hô khẩu hiệu.
Cuối cùng, phải chọn điểm tựa rồi dồn lực, lấy vài dự án đầu mỗi lĩnh vực làm trọng tâm như NARIME đề xuất, tránh dàn trải và tránh tạo ra những dự án dưới ngưỡng hòa vốn kiểu TOGG.
Sáu triệu tấn thép cho một tuyến đường sắt, hàng chục tỷ USD thiết bị cho cả mạng lưới, một thị trường ô tô điện và điện gió đang mở, đó là một cơ hội mà không phải nền kinh tế nào cũng có. Nó có thể trở thành bệ phóng đưa cơ khí và vật liệu Việt Nam lên giá trị cao, cũng có thể trở thành đơn đặt hàng chảy ra nước ngoài, tùy vào việc cơ chế đặt hàng được dựng khéo đến đâu.
Những mũi dò của Hòa Phát, Petrovietnam, Doosan Vina, THACO cho thấy doanh nghiệp đã sẵn sàng. Câu trả lời còn lại nằm ở thể chế. Và đó chính là lúc vai trò thể chế hóa của Quốc hội trở nên quyết định: một Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế đặc thù cho cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026 đến 2045, như NARIME đề xuất sẽ là chiếc chìa khóa nối tầm nhìn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với hành động của doanh nghiệp, để vừa bịt được điểm trắng máy cái ở tầng nền, vừa biến biển cầu của đại dự án quốc gia thành đơn hàng có địa chỉ cho người Việt.