Luật sư Phạm Duy Khương: Phải coi sở hữu trí tuệ là tài sản chiến lược

Doanh nghiệp phải coi sở hữu trí tuệ là tài sản chiến lược và bảo vệ từ sớm, qua đó sẽ tránh được tranh chấp, có lợi thế lớn hơn khi hợp tác quốc tế, mở rộng thị trường.

Ngày 5/5/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký ban hành Công điện số 38/CĐ-TTg về đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; phát động chiến dịch tổng tấn công quy mô lớn toàn quốc. Đây là động thái thể hiện quyết tâm bảo vệ tài sản trí tuệ tại Việt Nam, kiến tạo hệ sinh thái kinh tế số minh bạch, tạo "giấy thông hành" an toàn để doanh nghiệp Việt vững bước vươn ra biển lớn.

Xoay quanh vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với Luật sư Phạm Duy Khương - Giám đốc điều hành ASL LAW, chuyên gia sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế.

Luật sư Phạm Duy Khương - Giám đốc điều hành ASL LAW, chuyên gia sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế

Luật sư Phạm Duy Khương - Giám đốc điều hành ASL LAW, chuyên gia sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế  

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

- Thưa luật sư, ông đánh giá như thế nào về thực trạng sở hữu trí tuệ tại Việt Nam hiện nay?

Luật sư Phạm Duy Khương: Thực trạng sở hữu trí tuệ tại Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn phát triển tích cực và chuyển biến khá rõ. Hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện hơn, tiệm cận hơn với các cam kết quốc tế, đặc biệt sau những sửa đổi gần đây của Luật Sở hữu trí tuệ theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng cường khai thác quyền và mở rộng khả năng bảo vệ trong môi trường số.

Số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp có xu hướng tăng, cho thấy nhận thức của doanh nghiệp và xã hội về giá trị của tài sản trí tuệ đã tốt hơn trước. Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ cách tiếp cận mang tính thủ tục sang tư duy chiến lược, coi sở hữu trí tuệ là công cụ quan trọng trong mở rộng thị trường và bảo vệ lợi thế cạnh tranh.

Tuy nhiên, điểm nghẽn vẫn nằm ở thực thi, vi phạm trên thị trường và nền tảng số còn phức tạp. Khoảng cách giữa quy định pháp luật và hiệu quả áp dụng thực tế vẫn còn khá rõ, đặc biệt trong việc chứng minh thiệt hại, yêu cầu bồi thường. Nhiều chủ thể quyền dù bị xâm phạm nhưng gặp khó khăn khi chứng minh mức thiệt hại cụ thể khiến việc bảo vệ quyền chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Thực tế, Việt Nam vẫn đang tồn tại 3 thách thức lớn. Thứ nhất, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn diễn biến khá phức tạp, đặc biệt trên môi trường số. Hàng giả, hàng nhái, sao chép nội dung, vi phạm bản quyền phần mềm, giả mạo thương hiệu đang chuyển dịch mạnh từ thị trường truyền thống sang mạng xã hội, nền tảng trực tuyến với thủ đoạn ngày càng tinh vi.  

Thứ hai, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa xem sở hữu trí tuệ là tài sản chiến lược. Không ít doanh nghiệp chỉ đăng ký bảo hộ khi đã phát sinh tranh chấp hoặc chuẩn bị xuất khẩu; trong khi ở thị trường quốc tế sở hữu trí tuệ là một phần của năng lực cạnh tranh và quản trị rủi ro.

Thứ ba, pháp luật đang phải chạy rất nhanh để theo kịp công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu số, nội dung số. Đây không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà là thách thức toàn cầu.

Ở chiều tích cực, Việt Nam đã bắt đầu có những thay đổi pháp lý theo hướng số hóa, thích ứng với nền kinh tế sáng tạo mới; chuyển dần từ tư duy "đăng ký và xử lý vi phạm" sang tư duy "quản trị, khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ". Đây là bước chuyển rất quan trọng trong bối cảnh kinh tế số, trí tuệ nhân tạo và thương mại xuyên biên giới phát triển nhanh.

Các lực lượng chức năng tăng cường đấu tranh, kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Các lực lượng chức năng tăng cường đấu tranh, kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

- Việc Thủ tướng ban hành Công điện 38 và phát động đợt cao điểm toàn quốc chống xâm phạm sở hữu trí tuệ có ý nghĩa thế nào với quá trình xây dựng nền kinh tế sáng tạo và gửi đi thông điệp gì tới cộng đồng doanh nghiệp trong nước cũng như nhà đầu tư quốc tế, thưa ông?

Luật sư Phạm Duy Khương: Công điện thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ trong việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Điều này góp phần tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hỗ trợ xây dựng nền kinh tế dựa trên trí tuệ. Đây cũng là thông điệp rõ ràng gửi tới cộng đồng doanh nghiệp trong nước cũng như nhà đầu tư quốc tế rằng Việt Nam đang nghiêm túc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, coi đây là yếu tố then chốt cho phát triển kinh tế bền vững và hội nhập quốc tế.

Sau công điện này, chắc chắn việc thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam sẽ chuyển sang một giai đoạn quyết liệt, mở rộng mới và nhận thức của doanh nghiệp, các bên liên quan sẽ thay đổi đáng kể.

"Tấm vé" bước vào thị trường quốc tế

- Như ông đã đề cập thực tế đáng lo ngại là nhiều doanh nghiệp chỉ quan tâm đến sở hữu trí tuệ khi xảy ra tranh chấp hoặc bị xâm phạm quyền. Theo ông, tư duy "mất bò mới lo làm chuồng" này có thể khiến doanh nghiệp Việt phải trả giá như thế nào khi tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và thị trường quốc tế? 

Luật sư Phạm Duy Khương: Đây không đơn thuần là vấn đề pháp lý, nó phản ánh trực tiếp tư duy quản trị, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một thực tế khá phổ biến hiện nay là nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn xem sở hữu trí tuệ như thủ tục hành chính hoặc khoản chi phí không cấp thiết. Chỉ đến khi xảy ra tranh chấp, bị đối thủ đăng ký mất nhãn hiệu, bị yêu cầu dừng xuất khẩu, bị khóa gian hàng thương mại điện tử hoặc bị kiện vi phạm tại nước ngoài thì mới bắt đầu tìm luật sư để xử lý. Khi đó, chi phí thường không còn là vài nghìn đô la cho đăng ký bảo hộ nữa mà có thể là mất cả thị trường, mất đối tác, mất chuỗi phân phối hoặc mất nhiều năm xây dựng thương hiệu.

Bối cảnh hiện nay, giá trị cốt lõi của nhiều doanh nghiệp đang dịch chuyển khỏi tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc để tập trung vào các tài sản vô hình, gồm: thương hiệu; dữ liệu khách hàng; thiết kế sản phẩm; công nghệ; bí mật kinh doanh; hệ thống phân phối và uy tín trên môi trường số.

Nếu không bảo vệ từ sớm doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng làm thuê cho chính thương hiệu của mình. Thực tế đã có nhiều trường hợp doanh nghiệp Việt xuất khẩu tốt nhưng lại bị đối tác hoặc bên thứ ba đăng ký nhãn hiệu trước tại nước ngoài, dẫn đến việc không thể tiếp tục bán hàng dưới chính tên thương hiệu của mình.

Trong chuỗi cung ứng toàn cầu, bên cạnh chất lượng sản phẩm, đối tác quốc tế đánh giá doanh nghiệp còn ở năng lực tuân thủ sở hữu trí tuệ: nhãn hiệu đã được bảo hộ hay chưa, thiết kế có nguy cơ xâm phạm hay không, phần mềm có bản quyền đầy đủ hay không, dữ liệu và nội dung số có nguồn gốc hợp pháp hay không. Doanh nghiệp thiếu chuẩn bị từ sớm rất dễ bị xếp vào nhóm đối tác tiềm ẩn rủi ro cao.

Do đó, doanh nghiệp Việt cần thay đổi tư duy, phải coi sở hữu trí tuệ tài sản chiến lược. Từ đó chủ động đăng ký nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng tại các thị trường mục tiêu; rà soát rủi ro trước khi xuất khẩu; quản lý hợp đồng với nhân viên, nhà cung cấp, nhà thiết kế, đối tác công nghệ và theo dõi hành vi xâm phạm trên thị trường.

Phòng ngừa trong sở hữu trí tuệ luôn rẻ hơn xử lý hậu quả. Doanh nghiệp nào biết bảo vệ tài sản trí tuệ từ sớm sẽ tránh được tranh chấp, có lợi thế lớn hơn khi gọi vốn, hợp tác quốc tế, mở rộng thị trường và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cần cơ chế pháp lý cho cấp phép, chia sẻ và khai thác dữ liệu để vừa bảo vệ chủ thể quyền, vừa tạo điều kiện hình thành doanh nghiệp AI - Ảnh minh họa

Cần cơ chế pháp lý cho cấp phép, chia sẻ và khai thác dữ liệu để vừa bảo vệ chủ thể quyền, vừa tạo điều kiện hình thành doanh nghiệp AI - Ảnh minh họa

"Đòn bẩy" cho ngành sáng tạo số

- Thế giới đang bước vào giai đoạn tranh chấp bản quyền ngày càng phức tạp liên quan đến AI tạo sinh, dữ liệu huấn luyện và quyền sở hữu nội dung số. Theo ông, Việt Nam cần chuẩn bị những nền tảng pháp lý và năng lực quản trị nào để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tạo thuận lợi cho kinh tế số phát triển?

Luật sư Phạm Duy Khương: Vấn đề lớn nhất hiện nay là nhân loại đang bước vào giai đoạn mà dữ liệu, nội dung và tri thức trở thành nguyên liệu đầu vào của nền kinh tế AI. Nếu tiếp cận quá cứng theo tư duy bản quyền truyền thống chúng ta có thể bảo vệ một phần quyền lợi trước mắt nhưng lại làm chậm khả năng hình thành hệ sinh thái AI nội địa và năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.

Các quốc gia đang lựa chọn những hướng tiếp cận khác nhau: Hoa Kỳ ưu tiên thúc đẩy đổi mới sáng tạo, để thị trường và án lệ định hình khung khổ vận hành; Liên minh châu Âu đặt trọng tâm vào quyền của chủ sở hữu dữ liệu và yêu cầu minh bạch; Trung Quốc theo đuổi mô hình kiểm soát dữ liệu và trí tuệ nhân tạo song hành với việc hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ tăng tốc phát triển.

Theo tôi, Việt Nam cần chuẩn bị một số nền tảng quan trọng: Thứ nhất, chuyển tư duy bảo vệ từng tác phẩm sang quản trị hệ sinh thái dữ liệu và quyền khai thác. Trong kỷ nguyên AI, giá trị nằm ở dữ liệu huấn luyện, vì vậy cần cơ chế pháp lý cho cấp phép, chia sẻ và khai thác dữ liệu để vừa bảo vệ chủ thể quyền, vừa tạo điều kiện hình thành doanh nghiệp AI.

Thứ hai, xây dựng cơ chế miễn trừ trách nhiệm hợp lý cho hoạt động phát triển AI trong giới hạn an toàn, phân biệt rõ giữa huấn luyện mô hình và khai thác thương mại sản phẩm vi phạm, tránh tạo rủi ro pháp lý quá lớn ngay từ giai đoạn nghiên cứu.

Thứ ba, hình thành thị trường cấp phép dữ liệu và bản quyền minh bạch, các bên có thể thỏa thuận và chia sẻ lợi ích. Trọng tâm là xây dựng hành lang pháp lý cho kinh tế cấp phép thay vì chỉ xử lý vi phạm.

Thứ tư, nâng cao năng lực thực thi trong môi trường số. Cơ quan quản lý và hệ thống tư pháp phải theo kịp công nghệ, hiểu cách dữ liệu được thu thập, xử lý và sử dụng, từ đó xử lý hiệu quả các tranh chấp mới.

Thứ năm, xác định rõ chiến lược quốc gia. Nếu muốn có doanh nghiệp AI đủ sức cạnh tranh, chính sách phải tạo không gian thử nghiệm cho đổi mới sáng tạo; kiểm soát quá sớm có thể làm mất cơ hội phát triển năng lực công nghệ nội địa.

 Xin cảm ơn ông!

"Cần nhìn nhận trí tuệ nhân tạo và sở hữu trí tuệ như hai trụ cột có khả năng bổ trợ lẫn nhau. Trí tuệ nhân tạo góp phần gia tăng giá trị của tài sản trí tuệ và một hệ thống sở hữu trí tuệ hiện đại sẽ củng cố niềm tin để doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ. Bài toán đặt ra cho Việt Nam là thiết kế cơ chế cân bằng giữa bảo vệ quyền, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây sẽ là một trong những thách thức pháp lý trọng yếu của nền kinh tế số trong thập niên tới", Luật sư Phạm Duy Khương - Giám đốc điều hành ASL LAW cho biết.

Nguyên Thảo (thực hiện)

Có thể bạn quan tâm