Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ sáu 18/06/2021 19:48

Không bỏ lỡ thương mại và an ninh lương thực trong thực thi FTA

14:17 | 09/06/2021
Tiếp cận với thực phẩm không bao giờ là một điều gì đó xa xỉ. Đó là một quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên, vào năm 2020, 155 triệu người phải đối mặt với tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng.

Và tình hình có thể tồi tệ hơn nữa. Giá lương thực tăng cao đã gây ra các cuộc khủng hoảng lương thực ở nhiều nơi trên thế giới trong suốt hai thập kỷ qua. Việc đảm bảo tình trạng này không trở nên tồi tệ hơn - và trên thực tế có cải thiện - phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đầu tiên là liên quan đến năng lực của một quốc gia để sản xuất thực phẩm trong nước và nhập khẩu thực phẩm từ nước ngoài. Điều này hàm ý vai trò to lớn của thương mại. Giá trị nhập khẩu thực phẩm đã tăng gấp ba lần kể từ đầu thế kỷ này và ngày nay khoảng 80% dân số thế giới được cung cấp một phần bằng nhập khẩu.

Không bỏ lỡ thương mại và an ninh lương thực trong thực thi FTA

Việc mở rộng thương mại toàn cầu đã giúp ít nhất một phần chuyển thực phẩm từ nơi có thể sản xuất đến nơi cần thiết. Nhưng điều này cũng đi kèm với những mặt trái. Nhiều nước đang phát triển đã tăng cường chuyên môn hóa cây trồng xuất khẩu với chi phí là lương thực chính cho tiêu dùng trong nước, khiến họ trở thành những nhà nhập khẩu thực phẩm ròng với những lỗ hổng. Ở châu Phi, một lục địa có nhiều thách thức về mất an ninh lương thực nghiêm trọng, hầu hết thực phẩm đến từ nước ngoài. Trong giai đoạn 2016-2018, khoảng 85% thực phẩm được nhập khẩu từ bên ngoài lục địa. Và khi dân số của châu lục này tăng lên, nhập khẩu thực phẩm ròng sang châu Phi dự kiến ​​sẽ tăng gấp ba lần vào năm 2025 ngay cả khi tình trạng thiếu dinh dưỡng tăng lên một phần ba.

Ở Caribe, nhập khẩu lương thực như một tỷ trọng trong xuất khẩu hàng hóa đã tăng vọt từ 5% năm 1995 lên 32% vào năm 2019. Và nhìn chung, chỉ có 4 trong số 12 khu vực đang phát triển cho thấy cân bằng ròng tích cực trong thương mại lương thực cơ bản. Việc tiếp xúc quá nhiều với thị trường toàn cầu và phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài làm tăng rủi ro và biến động giá cả, từ đó làm tổn hại đến an ninh lương thực ở nhiều quốc gia, với những hậu quả nghiêm trọng về con người mà nó gây ra. Cộng đồng thương mại không thể quên điều này và phải hành động nhanh chóng và hiệu quả.

Hệ thống thương mại nông nghiệp công bằng

Năm 1995, một hiệp định về nông nghiệp đã đạt được trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhằm mục đích thiết lập “một hệ thống thương mại nông sản công bằng và theo định hướng thị trường” theo các quy tắc và kỷ luật thương mại đa phương (phần mở đầu của Hiệp định WTO về nông nghiệp). Mặc dù hiệp định là một thành tựu đa phương lớn, nhưng việc thực hiện không đầy đủ và thiếu các điều khoản về đối xử đặc biệt và khác biệt đã hạn chế khả năng của một số nước đang phát triển trong việc đối phó với các lo ngại về an ninh lương thực.

Đúng là thỏa thuận bao gồm việc sử dụng bất đối xứng các trợ cấp bóp méo thương mại. Mức hỗ trợ gây méo mó thương mại mà một quốc gia cho phép được xác định dựa trên các mức 1986-1988, khi 95% trợ cấp đến từ các nước phát triển. Điều này đưa ra đường cơ sở cao hơn cho các quốc gia giàu có hơn. Tuy nhiên, các nước đang phát triển được phép hỗ trợ trong nước ở mức tối thiểu (de minimis) cao hơn (10%) so với các nước phát triển (5%). Ngoài ra, các nước đang phát triển có thể sử dụng trợ cấp đầu tư và đầu vào nông nghiệp cho các nhà sản xuất có thu nhập thấp. Họ cũng có thể dựa vào việc viện trợ trong nước cho hàng hóa và các chương trình bảo hiểm thu nhập.

Nhiều điều khoản trong số này, hoặc các cơ hội để tăng sản lượng lương thực trong nước, đã không được sử dụng vì hai lý do chính. Thứ nhất, vì một số điều khoản trong hiệp định được coi là không có hiệu lực thi hành nghiêm ngặt. Thứ hai, hầu hết các nước đang phát triển thiếu khả năng tài khóa để sử dụng hiệu quả các khoản dự phòng đó.

Sự cần thiết phải hợp tác toàn cầu

Xung đột và chiến tranh, thời tiết khắc nghiệt và các cú sốc kinh tế, bao gồm cả những nguyên nhân gây ra bởi COVID-19, là những nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất an ninh. Chính sách thương mại sẽ không đủ để bao phủ một mặt trận rộng lớn như vậy, nhưng có thể giúp cải thiện an ninh lương thực. Điều này đòi hỏi sự hợp tác và cam kết chắc chắn từ các thành viên WTO để cuối cùng loại bỏ những hạn chế và bất cân xứng của hiệp định về nông nghiệp.

Cụ thể những điều sau: (i) Cấm xuất khẩu lương thực thiết yếu cho các nước thiếu lương thực, và viện trợ lương thực cho các nước trong tình huống khẩn cấp. (ii) Tăng cường hỗ trợ các nhà sản xuất nông nghiệp nghèo tài nguyên bằng cách sửa đổi điều 6.2 và cập nhật giới hạn tối thiểu (de minimis) và tạo điều kiện hỗ trợ cho các nhà sản xuất dễ bị tổn thương, bao gồm cả phụ nữ. (iii) Tìm ra giải pháp lâu dài cho việc dự trữ công vì mục đích an ninh lương thực, một vấn đề đang chờ WTO giải quyết từ năm 2013. (iv) Tăng cường hỗ trợ tài chính và kỹ thuật để thúc đẩy năng suất nông nghiệp ở các nước đang phát triển nhằm giải quyết vấn đề an ninh lương thực, đặc biệt là ở các nước kém phát triển nhất và các nước đang phát triển nhập khẩu lương thực ròng.

Việc trì hoãn thực hiện các biện pháp nhằm tăng sản lượng lương thực ở các nước không an toàn về lương thực không chỉ là trì hoãn một thỏa thuận, mà còn phủ nhận quyền cơ bản của hàng triệu người. Năm 2021 là năm mà quyền có lương thực cuối cùng đã được đưa vào cấu trúc thương mại toàn cầu. Các hội nghị cấp bộ trưởng sắp tới của WTO (MC12) và UNCTAD (UNCTAD15) là những cơ hội mà cộng đồng toàn cầu không thể bỏ lỡ.

Điều khoản de minimis cho phép các thành viên WTO không đưa vào các biện pháp hỗ trợ trong nước có thể gây bóp méo thương mại trong cam kết cắt giảm của mình miễn là giá trị của khoản hỗ trợ đó không vượt quá 5% tổng giá trị sản xuất của thành viên trong năm liên quan. Giới hạn tối thiểu là 10% đối với các thành viên là các nước đang phát triển.

Việt Dũng