Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, thúc đẩy kinh tế tư nhân
Chiều 2/11, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội phối hợp Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức Hội thảo quốc gia “Các vấn đề đương đại trong phát triển”, nhằm tạo diễn đàn học thuật để các nhà khoa học, các nhà quản lý chính sách cùng trao đổi về những vấn đề phát triển cấp thiết của đất nước trong giai đoạn mới.
Phát biểu tại sự kiện, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi nhấn mạnh, hội thảo diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi nêu thực tế, khu vực kinh tế tư nhân không chỉ giữ vị trí là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, mà phải vươn lên thành nhân tố tiên phong, tích cực trước các xu hướng phát triển mới.
Thực tiễn cho thấy, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã tạo chuyển biến quan trọng khi khu vực này hiện đóng góp khoảng 50% GDP, trên 30% tổng thu ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm cho hơn 82% tổng số lao động xã hội. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp tư nhân vẫn có quy mô nhỏ, hạn chế về năng lực tài chính, quản trị, công nghệ và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Do đó, yêu cầu trọng tâm trong thời gian tới không nằm ở việc gia tăng số lượng mà phải nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh và sức đổi mới sáng tạo, nhằm hình thành các tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân lớn đủ sức dẫn dắt chuỗi giá trị trong các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Nhà nước cần tiếp tục kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, bình đẳng, ổn định; đồng thời xây dựng hành lang pháp lý để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, dám đổi mới và chủ động bứt phá.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi phát biểu tại hội thảo.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhận định, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược quan trọng hàng đầu. Trên cơ sở đó, Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ đến năm 2030 đặt mục tiêu lấy doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời xác định nguồn lực ngân sách nhà nước chiếm khoảng 60% tổng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D).
Tuy nhiên, liên kết giữa “Nhà nước - nhà trường/viện nghiên cứu - doanh nghiệp” hiện vẫn vận hành chủ yếu theo chiều một chiều, tức là nhà nước cấp kinh phí, viện nghiên cứu thực hiện đề tài, doanh nghiệp tiếp nhận kết quả. Điều này dẫn đến sự thiếu gắn kết với nhu cầu thực tiễn của thị trường.
Do vậy, theo ông Phan Văn Mãi, cần định vị lại vai trò của từng chủ thể: Nhà nước kiến tạo thể chế, đặt hàng các bài toán lớn, chia sẻ rủi ro và tạo thị trường ban đầu; doanh nghiệp đóng vai trò chủ thể nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa; các trường đại học và viện nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu cơ bản, đào tạo nhân lực và cung cấp chuyên gia chuyên sâu...
Khơi thông nguồn vốn, nâng sức cạnh tranh
TS. Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đặt vấn đề về áp lực giữa mục tiêu chiến lược và thực tại phát triển của đất nước. Theo số liệu phân tích, để đạt được các mục tiêu của Đại hội XIV vào năm 2030 như: Tăng trưởng GDP trên 10%, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP, đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trên 55%, chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP, Việt Nam đang đối mặt với yêu cầu tăng tốc vượt bậc.
Cụ thể, kinh tế số giai đoạn 2023 - 2025 mới đạt 14,02% GDP, chi R&D ở mức 0,41% GDP và năng lực thể chế xếp hạng 64/139 theo WIPO 2026. "Ngành mới là kết quả của quá trình tích lũy và tái tổ hợp năng lực sẵn có, không tự nhiên sinh ra", TS. Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh bản chất của các ngành kinh tế mới.
PGS.TS Lê Xuân Bá phát biểu tại hội thảo.
Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Xuân Bá (Chuyên gia độc lập) tập trung phân tích những khó khăn, thách thức trong quá trình đưa khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực chính của nền kinh tế. Khu vực kinh tế tư nhân (bao gồm doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh) hiện đóng góp khoảng 50% GDP, chiếm 85% việc làm, 59% vốn đầu tư xã hội và hơn 30% thu ngân sách nhà nước nội địa. Tuy nhiên, khu vực này vẫn đối mặt với nhiều rào cản nội tại như tư duy kinh doanh ngắn hạn, quy mô nhỏ, năng lực quản trị và năng suất lao động thấp.
Bên cạnh đó, PGS.TS Lê Xuân Bá chỉ ra các rào cản từ bên ngoài bao gồm nhận thức của một bộ phận cán bộ công chức vẫn còn có sự ưu ái nhất định đối với khu vực nhà nước hoặc FDI, cùng với thủ tục hành chính rườm rà và môi trường cạnh tranh chưa thực sự thuận lợi.
Để khu vực kinh tế tư nhân thực sự đóng vai trò dẫn dắt, quyết định tốc độ và chất lượng tăng trưởng, PGS.TS Lê Xuân Bá đề xuất một số giải pháp đột phá quan trọng. Trước hết, cần mạnh dạn, kiên quyết xóa bỏ tâm lý e ngại đối với kinh tế tư nhân, kể cả các doanh nghiệp tư nhân lớn. Đặc biệt, cần tiếp tục khuyến khích mạnh mẽ đảng viên tham gia phát triển kinh tế tư nhân.
PGS.TS Lê Xuân Bá cho rằng, cần lấy lại lòng tin của cộng đồng doanh nghiệp. Lời nói phải đi đôi với việc làm, khắc phục tình trạng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ chưa thực sự hiệu quả và công bằng, khi doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài đôi khi vẫn nhận được nhiều thuận lợi hơn về đất đai, tín dụng và thuế so với kinh tế tư nhân.
Để giải quyết bài toán này, PGS.TS Lê Xuân Bá đề xuất bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư 2020. Ông cho rằng, thủ tục mang tính xin - cho gây cản trở, lãng phí nguồn lực, không thay thế được công cụ chuyên ngành như đánh giá tác động môi trường, giấy phép xây dựng.
Các đại biểu tham dự hội thảo.
Chia sẻ về góc độ tài chính cho khoa học, công nghệ, PGS.TS Vũ Cương (Đại học Kinh tế Quốc dân) nhấn mạnh, ngân sách nhà nước không thể tài trợ toàn bộ nhu cầu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong khi vốn tư nhân rất khó tham gia do rủi ro công nghệ và thị trường quá cao. Từ đó, ông đề xuất áp dụng mô hình Tài chính hỗn hợp, có nghĩa là dùng nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc ODA để chia sẻ rủi ro, giảm thiểu rủi ro đầu tư và kích hoạt dòng vốn thương mại từ khu vực tư nhân. Đồng thời, xây dựng quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương (ngành) ở tầng 1 và cơ chế tái bảo lãnh quốc gia ở tầng 2 để làm lớp đệm an toàn, hỗ trợ các ngân hàng thương mại cho vay các dự án công nghệ dài hạn.