JETP Việt Nam: 'Đòn bẩy' vốn công - tư cho chuyển dịch năng lượng

JETP Việt Nam mở ra cơ chế huy động vốn công - tư quy mô lớn, hỗ trợ chuyển dịch năng lượng theo hướng công bằng và bền vững.

Cấu trúc đối tác kép của JETP Việt Nam

Trong tiến trình thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, chuyển dịch năng lượng đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của chiến lược phát triển bền vững tại Việt Nam. Tuy nhiên, bài toán đặt ra không chỉ là lựa chọn công nghệ hay nguồn năng lượng thay thế, mà còn là cách huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính cho quá trình chuyển dịch này.

Trao đổi tại Diễn đàn thực hiện hóa các mục tiêu của Nghị quyết 70 diễn ra ngày 21/1, ông Đỗ Đức Tưởng - Chuyên gia phát triển dự án năng lượng JETP, UNDP Việt Nam cho biết, Quan hệ đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) được thiết kế như một cơ chế tài chính, chính sách đặc thù, nhằm hỗ trợ Việt Nam chuyển đổi hệ thống năng lượng theo hướng carbon thấp, đồng thời bảo đảm tính công bằng cho các nhóm đối tượng chịu tác động.

Ông Đỗ Đức Tưởng - Chuyên gia phát triển dự án năng lượng JETP. Ảnh: P.C

Ông Đỗ Đức Tưởng - Chuyên gia phát triển dự án năng lượng JETP. Ảnh: P.C

JETP lần đầu tiên được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu COP26 năm 2021, trong bối cảnh nhiều quốc gia đang phát triển phải đối mặt với thách thức vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa cắt giảm mạnh phát thải khí nhà kính. Đối với Việt Nam, JETP chính thức được Chính phủ Việt Nam và Nhóm đối tác quốc tế (IPG) công bố vào tháng 12/2022 tại Brussel (Bỉ), đánh dấu bước tiến quan trọng trong hợp tác chuyển dịch năng lượng với cộng đồng quốc tế.

Theo ông Đỗ Đức Tưởng, trong giai đoạn đầu từ 3-5 năm, các thành viên IPG cam kết huy động ít nhất 15,5 tỷ USD để hỗ trợ nhu cầu chuyển dịch năng lượng công bằng tại Việt Nam. Nguồn vốn này được triển khai thông qua các hình thức hỗ trợ kỹ thuật và các khoản vay ưu đãi, phù hợp với các quy định quốc gia về nợ công và quản lý nợ nước ngoài.

Cụ thể, gói tài chính 15,5 tỷ USD gồm 7,75 tỷ USD từ nguồn tài chính công, dưới dạng các khoản vay ưu đãi và hỗ trợ kỹ thuật do các thành viên IPG huy động; ít nhất 7,75 tỷ USD còn lại đến từ nguồn tài chính tư nhân do Liên minh tài chính Glasgow vì mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (GFANZ) huy động, với điều kiện nguồn vốn công đóng vai trò chất xúc tác ban đầu.

Làm rõ hơn về cấu trúc hợp tác trong JETP Việt Nam, ông Đỗ Đức Tưởng cho biết Nhóm đối tác quốc tế (IPG) do Vương quốc Anh và Liên minh châu Âu đồng chủ trì, đại diện cho các quốc gia gồm Canada, Đan Mạch, Liên minh châu Âu (EU), Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Na Uy và Vương quốc Anh. Bên cạnh đó, IPG còn có sự tham gia của các ngân hàng đa phương như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Nhóm Ngân hàng Thế giới.

Các đối tác IPG tham gia JETP thông qua nhiều kênh khác nhau, bao gồm các đại sứ quán, phái đoàn, các tổ chức hợp tác kỹ thuật như GIZ, các định chế tài chính phát triển như AFD, các ngân hàng phát triển quốc gia như EIB và các tổ chức tín dụng xuất khẩu như UKEF. Không chỉ cung cấp nguồn lực tài chính, các đối tác này còn hỗ trợ Việt Nam về mặt kỹ thuật, chính sách và nâng cao năng lực thể chế trong lĩnh vực năng lượng.

Song song với IPG, khu vực tài chính tư nhân trong JETP Việt Nam được đại diện bởi Liên minh tài chính Glasgow về Net Zero (GFANZ). Được ra mắt năm 2021, GFANZ hướng tới mục tiêu đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế toàn cầu không phát thải ròng. Trong khuôn khổ JETP tại Việt Nam và Indonesia, Ban Thư ký GFANZ hoạt động như một cơ quan độc lập, đại diện cho các tổ chức tài chính tư nhân.

Hiện nay, GFANZ đã triệu tập một nhóm nòng cốt gồm 11 tổ chức tài chính quốc tế, bao gồm Bank of America, Citi, Mizuho, Deutsche Bank, Standard Chartered, Shinhan Bank, HSBC, Prudential, SMBC, Macquarie và MUFG. Nhóm này cam kết phối hợp chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam và IPG để hỗ trợ huy động nguồn vốn tư nhân quy mô lớn cho quá trình chuyển dịch năng lượng.

Theo ông Đỗ Đức Tưởng, vai trò cốt lõi của GFANZ là hỗ trợ các quốc gia như Việt Nam tăng cường các điều kiện thuận lợi, từ khung chính sách, thể chế đến chuẩn bị dự án, nhằm thu hút dòng vốn tư nhân dài hạn cho chuyển đổi năng lượng.

Sàng lọc dự án và phân bổ vốn

Một trong những nội dung then chốt của JETP Việt Nam là quy trình sàng lọc và kết nối dự án. Theo ông Đỗ Đức Tưởng, các chủ dự án tham gia JETP sẽ được tiếp cận gói đầu tư 15,5 tỷ USD, qua đó mở khóa các nguồn vốn ưu đãi, vốn hỗn hợp và vốn tư nhân cho các dự án khử carbon. Đồng thời, JETP cũng mang lại cơ hội nhận hỗ trợ kỹ thuật trong các lĩnh vực ưu tiên như năng lượng mới, đổi mới sáng tạo, hiệu quả năng lượng, lưu trữ pin và hydro xanh.

Quy trình sàng lọc và kết nối dự án JETP được thiết kế gồm 5 bước. Trước hết, chủ dự án gửi đề xuất thông qua trang web chính thức của JETP Việt Nam. Tiếp đó, Cục Điện lực, với sự hỗ trợ của Cơ quan hỗ trợ Ban Thư ký (SSA), IPG và GFANZ, sẽ đánh giá mức độ phù hợp của dự án với các nguyên tắc JETP. Các dự án đáp ứng yêu cầu sẽ được chia sẻ với IPG và GFANZ để kết nối với các ngân hàng phát triển và nhà tài chính tư nhân. Sau khi các bên xác nhận thỏa thuận tài chính, Ban Thư ký JETP sẽ tổng hợp báo cáo tiến độ và trình các dự án đã được phê duyệt lên Ban Chỉ đạo COP26.

JETP ưu tiên nhiều hạng mục dự án đầu tư tài sản như chuyển đổi từ than sang năng lượng sạch, phát triển ngành năng lượng tái tạo. Ảnh minh họa

JETP ưu tiên nhiều hạng mục dự án đầu tư tài sản như chuyển đổi từ than sang năng lượng sạch, phát triển ngành năng lượng tái tạo. Ảnh minh họa

Theo ông Đỗ Đức Tưởng, quy trình 5 bước này đã được Ban Thư ký JETP cùng các đối tác IPG, GFANZ và UNDP thống nhất, song cách thức triển khai cụ thể có thể được điều chỉnh linh hoạt theo bối cảnh thực tế. Các tổ chức tài chính được khuyến khích làm việc trực tiếp với chủ dự án từ sớm để đạt được thỏa thuận tài chính hiệu quả.

JETP Việt Nam đặt ra 4 nguyên tắc chung đối với các dự án tham gia, bao gồm thúc đẩy năng lượng tái tạo và sử dụng năng lượng hiệu quả; mang lại lợi ích kinh tế - xã hội rõ ràng cho cộng đồng, doanh nghiệp và người lao động; bảo đảm tính xúc tác, bổ sung của các khoản đầu tư; và đặc biệt là bảo đảm tác động chuyển đổi công bằng, để lợi ích từ quá trình chuyển dịch năng lượng được chia sẻ rộng rãi.

Trên cơ sở đó, JETP ưu tiên nhiều hạng mục dự án đầu tư tài sản như chuyển đổi từ than sang năng lượng sạch, phát triển ngành năng lượng tái tạo, sản xuất điện tái tạo kết hợp lưu trữ, thí điểm hydro xanh, đầu tư hạ tầng truyền tải - lưu trữ điện, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và phát triển giao thông xanh. Bên cạnh đó là các dự án hỗ trợ kỹ thuật, tập trung vào xây dựng thể chế - chính sách, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng.

Về phân bổ nguồn vốn, tổng cam kết 15,5 tỷ USD được chia đều giữa nguồn công và tư. Trong đó, IPG cung cấp 7,75 tỷ USD từ tài chính công, bao gồm hỗ trợ kỹ thuật, vay ưu đãi và các công cụ tài chính phát triển; GFANZ huy động 7,75 tỷ USD từ tài chính tư nhân, chủ yếu dưới hình thức vay thương mại hoặc vốn cổ phần. Hiện nay, số lượng đối tác và chương trình vốn sẵn có trong khuôn khổ JETP là 28 đối tác thuộc IPG và 6 đối tác thuộc nhóm công tác GFANZ.

Theo ông Đỗ Đức Tưởng, JETP không chỉ là bài toán về vốn, mà là cách Việt Nam tận dụng nguồn lực này để tạo ra chuyển đổi mang tính hệ thống, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu giảm phát thải, phát triển kinh tế và công bằng xã hội trong dài hạn.

Phương Cúc

Có thể bạn quan tâm

Bình luận